Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được những mục đích đã đề ra ở trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể: Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về quan hệ đại diện vàngười
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêngtôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học rất nghiêm túc và nhiệt tìnhcủa Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Như Phát
Những thông tin, trích dẫn cũng như bản án trong luận văn là trung thực,được dẫn từ các nguồn tham khảo có thật Các phân tích, bình luận, đánh giá,
so sánh, gợi mở và kiến nghị trong công trình đều dựa trên một quá trình làmviệc, tìm tòi, nghiên cứu một cách nghiêm túc của chính tác giả luận văn.Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, học viên Vũ Thị Hoài Thương xin hoàntoàn chịu trách nhiệm
Đà Nẵng, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hoài Thương
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái niệm , đặc điểm về người đại diện của doanh nghiệp 71.2 Vai trò của Người đại diện doanh nghiệp trong quản trị doanh nghiệp 13
1.3 Mối quan hệ của chủ sở hữu và người đại diện của doanh nghiệp 16
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến người đại đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp 18
1.5 Những vấn đề pháp lý về người đại diện của doanh nghiệp 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 25
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về người đại diện của doanh nghiệp 25
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện của doanh nghiệp 49
CHƯƠNG 3: ĐẢM BẢO THỰC THI HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ ÁP DỤNG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020
VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 57
3.1 Nhu cầu cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật về người đạidiện của doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam 57
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về người đại diện của doanh nghiệptheo luật doanh nghiệp năm 2020 58
3.3 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về người đại diện doanhnghiệp 59
Trang 43.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật pháp luật về người đạidiện doanh nghiệp 61
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đangngày càng phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngày càng
mở rộng về hình thức cũng như quy mô và cách thức hoạt động
Để đáp ứng các nhu cầu điều chỉnh và quản lý nền kinh tế, hệ thốngpháp luật về doanh nghiệp của nước ta không ngừng hoàn thiện và khắc phụcqua từng giai đoạn Pháp luật Việt Nam luôn tạo điều kiện và khuôn khổ pháp
lý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia hoạt động kinh doanh lànhmạnh, an toàn, minh bạch, đảm bảo quyền lợi doanh nghiệp, v.v… trongkhuôn khổ pháp luật sở tại Việt Nam Một trong những văn bản đầu tiên đưa
ra thông điệp để phát triển doanh nghiệp là Nghị quyết 35/NQ-CP ngày16/5/2016 của Chính phủ Nghị quyết này nhằm hỗ trợ và phát triển doanh
nghiệp với mục tiêu “Đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất một triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh”.
Một trong những chế định không ngừng được đổi mới qua các năm đó
là “người đại diện của doanh nghiệp” nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho
nhà đầu tư trong quản lý doanh nghiệp Người đại diện của doanh nghiệp là
bộ mặt, là người thể hiện ý chí cũng như thay mặt doanh nghiệp thực hiện cácgiao dịch trong mọi hoạt động kinh doanh đồng thời là đại diện pháp lý củadoanh nghiệp tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luậtViệt Nam Do đó doanh nghiệp cũng như cá nhân người đại diện cần có cáinhìn tổng quát và nắm vững những quy định pháp lý điều chỉnh mối quan hệpháp luật này
1
Trang 6Vì vậy đề tài nghiên cứu “Người đại diện của doanh nghiệp theo luật Doanh nghiệp năm 2020” có tính cấp thiết trong bối cảnh Chính phủ vừa
ban hành nghị định mới hướng dẫn chi tiết Luật doanh nghiệp cũng như phổcập thông tin tới các doanh nghiệp một cách nhanh nhất, giúp doanh nghiệp
áp dụng luật mới có hiệu quả nhất
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, chế định về người đại diện của doanh nghiệp đã được nhiềutác giả quan tâm, đề tài này được nghiên cứu trong một số luận văn, bài báo,
tờ trình của các cơ quan tổ chức như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiêncứu nhà nước và pháp luật, bài viết trên Thời báo tài chính – Cơ quan của BộTài chính, luận văn nghiên cứu của thạc sĩ Mỗi bài nghiên cứu có cách nhìnnhận và tiếp cận về một khía cạnh khác nhau, điển hình như một số côngtrình nghiên cứu sau:
Phan Thành Nhân (2018), Thực trạng quy định của pháp luật vềNĐDTPL của doanh nghiệp và hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
7 Bài nghiên cứu này khái quát lý luận về người đại diện theo pháp luật theoLuật Doanh nghiệp 2014, nêu lên một số vướng mắc cũng như phương ángiải quyết, hoàn thiện pháp luật
Công trình nghiên cứu đứng từ khía cạnh doanh nghiệp về vấn đề đạidiện theo pháp luật điển hình như luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Tâm (2017),
“Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực tiễn Tổng công ty Thuốc
lá Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Viện hàn lâm khoa học xã hội ViệtNam Thân Văn Tài (2015) “Một số nội hàm khái niệm đại diện trong dự thảo
Bộ luật dân sự (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật”.
Nguyễn Vũ Hoàng (2013) “Chế định đại diện trong pháp luật Việt Nam
và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Luật học
2
Trang 7Nguyễn Ngọc Thanh (2010) “Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện,một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Kinh tế vàKinh doanh.Lê Văn Thiệp (2012), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đạidiện theo pháp luật”, Tạp chí Kiểm sát, số Tân Xuân.
Ngô Huy Cương (2009)” Chế định đại diện theo quy định của pháp
luật Việt Nam - Nhìn từ góc độ Luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
Ngoài ra, một vài bài viết nghiên cứu dưới góc độ quản trị công ty theotừng lĩnh vực cụ thể như ngân hàng thương mại, hợp đồng kinh tế như TSNguyễn Ngọc Thanh “Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện, một số gợi ý vềchính sách cho Việt Nam” của đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia
Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh số 26 năm 2010
Tuy nhiên vẫn chưa có luận văn cấp độ Thạc sĩ nghiên cứu vấn đề nàymột cách toàn diện và hầu hết các bài viết phân tích tại thời điểm Luật Doanhnghiệp 2005 và 2014 có hiệu lực Ngày 17/06/2020, Luật Doanh nghiệp số59/2020/QH14 được ban hành, trong đó một trong những điểm mới nổi bậtliên quan đến vấn đề người đại diện của doanh nghiệp Hiện nay, có rất ítcông trình nghiên cứu theo quy định của Luật Doanh nghiệp mới kết hợp với
Bộ Luật Dân sự năm 2015
Chính vì vậy, tác giả nghiên cứu một cách hệ thống các khía cạnh phápluật về người đại diện của doanh nghiệp, làm rõ những điểm mới của LuậtDoanh nghiệp năm 2020 và giải pháp áp dụng pháp luật vào thực tế một cáchnhanh chóng và hiệu quả nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những các vấn đề lí luận và thực tiễn xung quanh các quy định về người đại diện của doanh nghiệp theo Luật doanh
3
Trang 8nghiệp năm 2020 Từ đó rút ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiệnhơn nữa những vấn đề chưa được làm rõ về luật doanh nghiệp Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đề ra ở trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể:
Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về quan hệ đại diện vàngười đại diện của doanh nghiệp
Hai là, phân tích và đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 vàLuật doanh nghiệp năm 2020 về các quy định người đại diện của doanh nghiệp
Ba là, từ những đánh giá trên rút ra kinh nghiệm, đánh giá từ thực tiễnnhững điểm còn hạn chế từ các quy định khi áp dụng vào các doanh nghiệp
về người đại diện
Bốn là, đề xuất một số giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả thựchiện quy định của pháp luật Việt Nam về người đại diện của doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận về người đại diện của doanhnghiệp, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ các quy định pháp luật đang hiện hành.Nghiên cứu các nội dung mà Luật doanh nghiệp năm 2020 mới ban hành sosánh với các luật cũ về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của người đại diện.Đại diện của doanh nghiệp là vấn đề rộng, bao gồm nhiều khía cạnh khácnhau Trong phạm vi đề tài luận văn tốt nghiệp này tôi chỉ đi sâu nghiên cứumột số vấn đề về lý luận chung về đại diện của doanh nghiệp, bản chất đạidiện, hình thức và phạm vi của người đại diện doanh nghiệp Bám sát quyđịnh pháp luật theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 từ đó phân tích những
4
Trang 9điểm mới và thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay Thực trạng của việc thựchiện trách nhiệm và quyền, nghĩa vụ của người đại diện đối với doanh nghiệpcũng như các hành vi vi phạm, không thực hiện trách nhiệm của người đạidiện.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Về mặt lý luận, nghiên cứu dựa trên nền tảng của phương pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lốicủa Đảng và Nhà nước về pháp luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, đề tài sử dụng phối hợp
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên các cơ sở về phân tích và tổng hợp được quy định pháp luật đã điều chỉnh và áp dụng trong thực tiễn của người đại diện doanh nghiệp thì luận văn này sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đã được đề cập và chưa được đề cập trong quy định của pháp luật hiện nay của người đại diện doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2020 Qua những vấn đề trên sẽ có nhữnggiải pháp để góp phần hoàn thiện Luật doanh nghiệp, giúp cho việc quản lý
5
Trang 10người đại diện trong công ty minh bạch, hiệu quả, bảo vệ được quyền lợi củachủ sở hữu, nhà đầu tư và các bên liên quan đến doanh nghiệp
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về người đại diện
doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, tăng cười hiệu quả áp
dụng Luật Doanh nghiệp năm 2020 về người đại diện của doanh nghiệp
6
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm về người đại diện của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm người đại diện của doanh nghiệp
Để hiểu rõ hơn về “Người đại diện của doanh nghiệp” đầu tiên chúng
ta cần bàn luận về khái niệm “Đại diện” Các nước trên thế giới có quan niệmrất đa dạng và phong phú về vấn đề này, điển hình như:
Châm ngôn La tinh có quan niệm cho rằng pháp luật về đại diện được
hình dung như sau: “Đại diện là hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó”.
Quan niệm của tác giả Ngô Huy Cương trong Tạp chí Nhà nước và Pháp luật cho rằng vấn đề đại diện lúc này như: “Giao hoàn toàn một đoàn tàu nhiều toa cho thuyền trưởng điều khiển và quản lý hay hoạt động mua bán, kinh doanh gián tiếp qua sự điều hành của người, tập thể khác”.
Hay khái niệm cơ bản và dễ hiểu nhất của đại diện theo từ điển Tiếng
Việt là “Một cá nhân, tổ chức thay mặt cho cá nhân, tổ chức khác hoặc tổ chức làm việc gì” Xét trên phương diện chuyên môn thì đại diện theo Từ điển Luật học là: “Việc một cá nhân, một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền được đại diện”
Như vậy, đại diện là quan hệ mà chủ thể bao gồm bên đại diện và bênđược đại diện Bên đại diện nhân danh bên được đại diện xác lập quan hệ vớibên thứ ba, vì lợi ích của bên đại diện, thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả,kết quả nhất định đối với bên được đại diện Bên được đại diện tiếp nhận cáchậu quả, kết quả từ quan hệ do bên đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm
7
Trang 12quyền đại diện Xét từ góc độ lý luận pháp lý có thể thấy đại diện là một chếđịnh pháp lý thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vàogiao dịch dân sự.
Một trong những quan hệ đại diện diễn ra phổ biến trong lĩnh vực kinhdoanh thương mại đó là quan hệ người đại diện với doanh nghiệp Người đạidiện của doanh nghiệp là người thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giaodịch trong hoạt động kinh doanh hoặc tham gia vào hoạt động tố tụng nhândanh doanh nghiệp Mặt khác, chúng ta có thể hiểu người đại diện của doanh
nghiệp “Là người được chỉ định hoặc được thuê của chủ sở hữu nguồn lực và được chủ sở hữu nguồn lực trao một số quyền quản lý nhất định đối với nguồn lực của chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu.” Người đại
diện giúp tối đa hóa lợi nhuận từ doanh nghiệp cho chủ sở hữu, thành viêngóp vốn hoặc cổ đông
Khi nhắc đến quan hệ này khái niệm được nói đến nhiều nhất đó làngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Đối với pháp luật các công
ty trên thế giới, một số nước phát triển có khái niệm khác nhau về người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp Ví dụ như:
Luật doanh nghiệp của Úc có quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân do doanh nghiệp chỉ định để thực hiện”
Tại nước Đức người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khôngđược định nghĩa riêng biệt, tuy nhiên được nhắc đến thông qua vị trí Giám
đốc ở loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn: “Công ty sẽ do các Giám đốc làm đại diện Công ty sẽ được đại diện bởi các cổ đông bất cứ khi nào có tuyên bố ý định hoặc các tài liệu được cung cấp kèm theo, nếu công ty TNHH
đó không có chức danh giám đốc”.
8
Trang 13Luật pháp của nước Anh thì quy định người đại diện theo pháp luật của
công ty là: “Một người, cá nhân, thành viên công ty được ủy quyền bởi công ty thì có quyền thực hiện các quyền hạn tương tự mà công ty đó có thể thực hiện”.
Ở Nhật Bản thì pháp luật nước sở tại có cách tiếp cận người đại diện
theo pháp luật thông qua chức năng quản lý: “Người quản lý có quyền thực hiện bất kỳ và tất cả các hành vi pháp lý hoặc không pháp lý nhân danh công
ty liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình”.
Như vậy, với nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau nhưng nhìnchung người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người quản lý hoạtđộng kinh doanh, thay mặt doanh nghiệp thực hiện tất cả các giao dịch vàchức năng của doanh nghiệp Người đại diện pháp luật là một phạm trù đượcnhắc đến nhiều và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong một doanh nghiệp.Người đại diện theo pháp luật sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ, theo quyđịnh của nhà nước Việt Nam
Người đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện mà quyền đại diệnđược xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện.Người đại diện theo ủy quyền và người được ủy quyền lại sẽ có phạm vi quyềnhạn theo như nội dung được ủy quyền tương ứng Bên cạnh đó, còn có kháiniệm đại diện theo ủy quyền lại, tức là người đại diện có thể ủy quyền lại chomột cá nhân là bên thứ ba đại diện cho doanh nghiệp, nội dung này chỉ đượcphép thực hiện khi nội dung ủy quyền ban đầu cho phép ủy quyền lại hoặc do sựkiện bất khả kháng Ví dụ thực tế điển hình như: Tổng Giám đốc là đại diện theopháp luật của doanh nghiệp, ủy quyền cho Phó tổng Giám đốc ký hợp đồng vàcho phép Phó tổng Giám đốc được ủy quyền lại cho các Giám đốc hay Giámđốc, Phó Giám đốc các chi nhánh ký hợp đồng Các trường hợp này thường thấy
ở các doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn có chi nhánh lớn trên cả nước vàthậm chí nước ngoài cũng như các ngân hàng nhiều chi nhánh
9
Trang 14Tại Luật doanh nghiệp năm 2005 không đưa ra khái niệm người đạidiện của doanh nghiệp, mà quy định về người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp chỉ nằm rải rác ở các điều luật quy định về cơ cấu tổ chức, quản
lý của các loại hình doanh nghiệp Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã thểhiện bước tiến khi có một điều khoản dành riêng để quy định về người đạidiện theo pháp luật Hiện nay Luật doanh nghiệp năm 2020 giữ nguyênnhững điều khoản quy định về người đại diện và bổ sung thêm một số quyđịnh nhằm hoàn thiện pháp luật, ngày càng hỗ trợ tốt hơn cho công cuộc quản
lý của cơ quan nhà nước cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệptại Việt Nam hoặc các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh,.v.v
Đúc kết từ những định nghĩa, quan niệm, nghiên cứu, học thuyết nóitrên, cho thấy đại diện của doanh nghiệp là việc cá nhân, pháp nhân (sau đâygọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xáclập, thực hiện giao dịch Và tác giả đồng tình với định nghĩa trên về kháiniệm “người đại diện của doanh nghiệp”
1.1.2 Đặc điểm người đại diện của doanh nghiệp
Một là, người đại diện của doanh nghiệp là cá nhân có đầy đủ năng luật pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập để hoạt động kinh doanh Bảnthân doanh nghiệp bao gồm nhiều cá thể, bộ phận, vì vậy không phải bộ phậnhay ai cũng có thể nhân danh doanh nghiệp thực hiện các giao dịch với bênngoài Do đó, ý chí của doanh nghiệp phải được thể hiện thông qua một hoặcnhiều cá nhân nhất định Do đó, người đại diện theo pháp luật của tổ chức nóichung, doanh nghiệp nói riêng phải là cá nhân Đối với đại diện theo ủyquyền thì người đại diện theo ủy quyền có thể cá nhân hoặc tổ chức, chẳnghạn, doanh nghiệp có thể ủy quyền cho một tổ chức khác để xác lập, thựchiện giao dịch theo cơ chế đại diện theo quy định của pháp luật thương mại
10
Trang 15Tuy nhiên, dù là bên ủy quyền là tổ chức thì tổ chức đó cũng phải cử cá nhân
là người đại diện cho phần nhận ủy quyền này
Như vậy, người đại diện là cá nhân nên để có thể thể hiện ý chí củadoanh nghiệp, người đại diện phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lựchành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhânbằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lựcpháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự vànghĩa vụ dân sự và có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trước hết có đầy đủnăng lực này và không bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Đây
là điều kiện bắt buộc và tiên quyết để trở thành người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp mà nếu không đáp ứng thì pháp luật có quy định thay thếngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Hai là, người đại diện được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) đối với người đại diện theo pháp luật và văn bản ủy quyền đối với người đại diện theo ủy quyền
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là căn cứ pháp lý quan trọng củadoanh nghiệp, trong đó nội dung về người đại diện theo pháp luật là phầnkhông thể thiếu Hay nói cách khác, cơ sở để xác định người đại diện theopháp luật của một doanh nghiệp chính là Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh của doanh nghiệp Ngoài ra, thông tin người đại diện theo quy địnhpháp luật còn được ghi nhận trên các tài liệu khác như: Quyết định của Hộiđồng quản trị, Quyết định của Đại Hội đồng cổ đông, Điều lệ của doanhnghiệp,… Tuy nhiên các văn bản này là văn bản lưu hành nội bộ của doanh
11
Trang 16nghiệp nên bên thứ ba khó có thể căn cứ vào những văn bản này để xác minhngười đại diện của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thông tin doanh nghiệp được công khai trên trang thông tinđiện tử Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, do đó để kiểm trachính xác thông tin người đại diện theo pháp luật cần phải đối chiếu thông tinngười đại diện trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và thông tin tra cứutrên trang điện tử quốc gia
Ba là, người đại diện nhân danh doanh nghiệp, thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phạm vi nhất định
Bản chất của quan hệ đại diện là thay mặt người được đại diện mà cụ thểtrong trường hợp này là người đại diện nhân danh doanh nghiệp xác lập, thựchiện giao dịch vì lợi ích doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật xác lập,thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp Tuy nhiên, ngườiđại diện chịu sự ràng buộc của pháp luật nói chung và điều lệ công ty nóiriêng Nên người đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong phạm vinhất định theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là, người đại diệntheo pháp luật có quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện mọi giaodịch của doanh nghiệp, ngoại trừ trường hợp giới hạn phạm vi, thẩm quyền
do pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định
Khác với người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo ủy quyềnchỉ xác lập, phạm vi, trách nhiệm theo phạm vi ủy quyền trong văn bản ủyquyền, mối quan hệ dân sự được thể hiện rõ trong ở đây
Bốn là, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật
Theo pháp luật cũ thì mỗi doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo phápluật, điều này dẫn đến một số khó khăn trong việc linh hoạt xử lý các côngviệc của công ty Do đó, để pháp luật có thể giải quyết được hết các 12
Trang 17trường hợp xảy ra trong thực tế thì các nhà làm luật đã bổ sung quy định mộtdoanh nghiệp có thể có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật.
Số lượng người đại diện theo pháp luật do doanh nghiệp tự quyết định,trừ doanh nghiệp tư nhân Số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụcủa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tạiđiều lệ doanh nghiệp đó Đây là quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh với bên ngoài thông quacác đại diện pháp luật Tất cả những người được điều lệ quy định đại diệntheo pháp luật đều có quyền nhân danh công ty thực hiện các giao dịch đó màkhông cần bất kỳ sự ủy quyền nào như trước đây Ngoài những vấn đề trênthì quy định này còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc quản lý nội
bộ, tăng trách nhiệm của những người được chỉ định là đại diện theo phápluật, giảm bớt các thủ tục hành chính khi không cần phải tiến hành các thủ tụckhác như ủy quyền và còn gỡ rối cho doanh nghiệp trong một số trường hợpđặc biệt như là người đại diện duy nhất của doanh nghiệp không hợp tác,không thực hiện các yêu cầu của thành viên, cổ đông trong quá trình quản lýđiều hành nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài doanh nghiệp
Năm là, doanh nghiệp bắt buộc phải có Người đại diện theo pháp luật
Như phần mở đầu tác giả đã nêu rõ về tầm quan trọng cũng như tính cấpthiết của nười đại diện theo pháp luật Do đó, doanh nghiệp bắt buộc phải có
ít nhất một người đại diện theo pháp luật, đây là điều kiện cần để thành lậpmột doanh nghiệp, cũng như điều kiện để duy trì sự tồn tại phát triển củadoanh nghiệp đó
1.2 Vai trò của Người đại diện doanh nghiệp trong quản trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một thực thể pháp lý nhưng tự thân nó không thể trựctiếp tham gia các giao dịch được mà phải thông qua những người đại diện của
13
Trang 18doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể tồn tại hay phát triển hay khôngtrước hết phụ thuộc vào người đứng đầu doanh nghiệp có đưa ra những quyếtsách sáng suốt để doanh nghiệp phát triển hay không.
Theo pháp luật Việt Nam thì đại diện doanh nghiệp hợp pháp cho phápnhân của doanh nghiệp đó bao gồm hai hình thức là đại diện theo pháp luật
và đại diện theo ủy quyền Với sự phân chia hai hình thức đại diện thì vị trí,vai trò của chúng cũng có sự khác biệt nhất định
1.2.1 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là một
người lao động của công ty, có vị trí bắt buộc Do đó, họ sẽ được quyềnhưởng các chế độ phúc lợi, lương, bảo hiểm,… theo quy định của Luật laođộng Ngoài ra, tùy theo từng công ty, người đại diện theo pháp luật sẽ cónhững quyền lợi khác, ghi nhận trong điều lệ hoặc hợp đồng lao động
Thứ hai, người đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp giao
dịch với bên thứ ba bằng ý chí của doanh nghiệp thông qua hành động củamình Khi cá nhân nhân danh doanh nghiệp để thực hiện giao dịch trongphạm vi cho phép thì các quyền và nghĩa vụ từ giao dịch phát sinh cho doanhnghiệp chứ không phát sinh cho cá nhân đó Bằng hoạt động của người đạidiện theo pháp luật, doanh nghiệp không thể thoái thác trách nhiệm của mìnhvới chủ thể khác Bên thứ ba khi giao dịch với công ty thì chỉ cần quan tâmđến việc ràng buộc trách nhiệm công ty thông qua hành động của người đạidiện
Thứ ba, trong nhiều mối quan hệ với chủ sở hữu, người đại diện doanh
nghiệp nhân danh chủ sở hữu thực hiện việc quản lí doanh nghiệp cho họhoặc đóng vai trò hỗ trợ cho chủ sở hữu kiểm soát hoạt động của các chứcdanh quản lí khác Trong đó bao gồm thẩm quyền, ra quyết định và hoạt động
vì lợi ích của doanh nghiệp cũng như định đoạt tài sản doanh nghiệp Đồng
14
Trang 19thời qua đó cùng với chủ sở hữu hoạch định các chiến lược, kinh doanh củacông ty, góp phần nâng cao giá trị tài sản vốn góp của chủ sở hữu Người đạidiện là người nắm những thông tin quan trọng của công ty Do đó, doanhnghiệp cần có cơ chế giám sát nội bộ của doanh nghiệp chặt chẽ, hạn chế tìnhtrạng lạm quyền các chức danh quản lý và đặc biệt là việc có liên quan đếncông ty khác có thể dẫn đến việc không khách quan trong công việc củangười đại diện.
Thứ tư, các mối quan hệ với khách hàng và các bên liên quan khác thì
người đại diện chính là người nhân danh doanh nghiệp trong các mối quan hệđối ngoại và ngoại giao của doanh nghiệp Tầm quan trọng của chữ ký ngườiđại diện theo pháp luật trên một văn bản của công ty nằm ở chỗ ràng buộccông ty vào nội dung văn bản Hành vi của người đại diện chính là chứng cứpháp lí để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp Đồng thời, thông quahành vi của người đại diện, các cơ quan quản lí nhà nước có thể kiểm soát,đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để có những biện pháp
xử lý, can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo doanh nghiệp phát triển lành mạnhtheo khuôn khổ pháp luật
Từ đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã hoàn thiện vai trò cho người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp Khoản 1 Điều 12 Luật này ghi nhận ngườiđại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanhnghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanhnghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việcdân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trướcTrọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Vai trò của người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp Thứ nhất, người đại diện của doanh nghiệp theo ủy quyền chịu trách nhiệm
trước chủ sở hữu, cổ đông, thành viên theo sự ủy quyền của doanh nghiệp về
vi phạm các nghĩa vụ quy định của pháp luật Chủ sở hữu, thành 15
Trang 20viên, cổ đông ủy quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với tráchnhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông quangười đại diện theo ủy quyền.
Thứ hai, người đại diện theo ủy quyền có trách nhiệm tham dự đầy đủ
cuộc họp của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông, thực hiện cácquyền và nghĩa vụ được ủy quyền của doanh nghiệp bảo vệ lợi ích hợp phápcủa chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền
1.3 Mối quan hệ của chủ sở hữu và người đại diện của doanh
nghiệp
Trong các mối quan hệ doanh nghiệp từ trước đến nay thì quan hệ giữachủ sở hữu và người đại diện là mối quan hệ vô cùng quan trọng và cần thiết.Người quản lí với vai trò là người đại diện cho chủ sở hữu nhận các quyềnđiều phối và kiểm tra doanh nghiệp Do sự tách biệt giữa chủ sở hữu và ngườiđại diện hay tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, về mặt lýthuyết và thực tiễn đôi khi xuất hiện những vấn đề một người hoạt động vì lợiích của người khác, về bản chất thì người đại diện luôn muốn có tư lợi hơn làhành động vì chủ sở hữu và các cổ đông Chính vì vậy, trong các mối quan hệluôn tiềm ẩn sự xung đột lợi ích giữa các thành viên tham gia góp vốn vàngười quản lí, điều hành doanh nghiệp
Nguyên nhân của vấn đề trên là do mỗi doanh nghiệp đều có sự tách biệtgiữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứngvới tư cách là người tiếp quản công ty với tư cách là người trực tiếp quản lí,
sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp Người đại diện của doanh nghiệp dễphát sinh hành động tư lợi, vì vậy việc giám sát các hành động của người đạidiện rất quan trọng, phức tạp nên cần ràng buộc người đại diện hành độngtheo nhiệm vụ được giao là vì lợi ích của những người khác thì họ cần đếnđộng lực phù hợp như nhằm đảm bảo lợi ích như vật chất, tinh thần, thực 16
Trang 21hiện nhiệm vụ bắt buộc Ngoài các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫnđến giả thiết khác nhau về người đại diện và đưa ra các chế độ đãi ngộ vàthiết lập các hiệu quả để hạn chế hành vi tư lợi của người điều hành doanhnghiệp Do vậy, doanh nghiệp cần xây dựng những điều cần thiết để ngườiđại diện quan tâm làm tốt công việc của họ theo hướng lợi ích của chủ sở hữu
và lợi ích gắn liền với nhau trong dài hạn
Ở nhiều góc độ khác nhau, các nhà kinh tế học đánh giá mối quan hệgiữa người chủ sở hữu và người đại diện dưới góc độ lợi ích của cả hai bên.Khi quan hệ đại diện phát sinh thì lợi ích của một bên (gọi là người sở hữu,người đại diện) phụ thuộc vào hành vi, sự tích cực và thiện chí của bên khác(gọi là người đại diện, người hợp tác) Khi lợi ích giữa người chủ sở hữu vàngười đại diện không giống nhau thì ngoài chi phí sản xuất kinh doanh thôngthường cần phải bổ sung các loại chi phí khác nhau như: chi phí ký hợp đồngvới người đại diện và các chi phí khác, những chi phí này gọi chung là chi phíđại diện Vì vậy, các nghiên cứu xoay quanh vấn đề giải quyết mâu thuẫngiữa người chủ sở hữu và người đại diện, từ đó đưa ra những giải pháp, chiếnlược hợp lý nhằm hạn chế chi phí đại diện thúc đẩy các giao dịch phát triểnhơn
Qua đó, nhận định được các vấn đề đại diện đều quan tâm đến mối quan
hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện Nhìn từ vấn đề khách quan thì sẽ cógóc nhìn khác nhau và các hạn chế riêng của nó, mỗi lý thuyết ở phương diệnchưa có một cơ sở lý thuyết nào được chấp nhận rộng rãi như một khuôn mẫu
có sẵn, cũng chưa có một mô hình quản trị nào đánh giá hoàn thiện Nhữngvẫn đề đã đề cập ở trên thì còn khá mới mẻ ở Việt Nam, mặc dù có học hỏi,tiếp thu và được ghi nhận nhưng vẫn chưa được hiểu đúng và phát huy tácdụng trong luật thực định Việt Nam
17
Trang 221.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến người đại đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Thực tế hiện nay cho thấy sự thành công hay thất bại của doanh nghiệpngoài các yếu tố cần thiết ra thì còn nhiều yếu tố phụ thuộc khác như: yếu tố
về pháp luật, điều kiện kinh tế của doanh nghiệp, người ra quyết định, sựcạnh tranh của các doanh nghiệp, môi trường bên ngoài, xã hội, Các yếu tốbên trong sẽ tạo nhiều năng lượng, sức mạnh cho doanh nghiệp giúp doanhnghiệp có nhiều cách khác nhau để đưa ra những định hướng, kế hoạch, điềukhiển và kiểm tra tốt hơn để hạn chế các rủi ro có thể xảy ra từ các yếu tố bênngoài mà doanh nghiệp không kiểm soát được Một trong nhiều yếu tố quantrọng và chủ lực để góp phần thành công cho doanh nghiệp là đạo đức, nănglực, sự giúp đỡ của ban quản trị giúp cho doanh nghiệp có được những thànhtựu to lớn, tiếp cận được với thị trường quốc tế, trong đó phải kể đến có sựgóp mặt của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Các quy định pháp luật về đại diện có tác động lên quy chế pháp lý vềngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Điển hình trong đó là Bộluật dân sự 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2020 Trước hết các quy địnhpháp luật ghi nhận các nguyên tắc cơ bản về người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp
Thứ nhất, yếu tố về pháp luật
Ban hành các văn bản hay hệ thống pháp luật có chất lượng là điều cốtlõi đảm bảo môi trường kinh doanh cân bằng cho các doanh nghiệp kinhdoanh có trách nhiệm Qua đó nếu hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện thìcũng có nhiều ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh gây ra nhiều khó khăntong các hoạt động sản xuất, đồng thời ảnh hưởng đến việc ra quyết định củangười đại diện
18
Trang 23Từ những điều kiện đó, pháp luật đưa ra những quy định chặt chẽ vềnhững điều hạn chế cũng như điều kiện ràng buộc các doanh nghiệp phải tuânthủ Những vấn đề cần đặt ra đối với doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thầncủa pháp luật và tuân theo quy định đã đề ra cho doanh nghiệp, nghiên cứu từcác quy định về các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sáchkịp thời trước những nguy cơ tránh gây ra những thiệt hại đáng tiếc do sựthiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh.
Thứ hai, yếu tố về điều kiện của doanh nghiệp
Trong điều kiện của doanh nghiệp thì luôn tồn tại một số vấn đề về bốicảnh kinh tế Bối cảnh thông qua các loại chỉ tiêu khác nhau như: về tốc độ
về tăng trưởng, tỷ số hối đoái, tỷ giá ngoại tệ hay các chỉ số trên thị trườngchứng khoán, Mặc dù môi trường kinh tế mang nhiều yếu tố và tính chấtkhách quan khác nhau nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị lại là sự tácđộng trực tiếp lên doanh nghiệp
Khi có một sự thay đổi của các yếu tố đó thì cũng nhr hưởng ít nhiều tới
sự đánh giá chung về doanh nghiệp: nền kinh tế luôn trưởng với tốc độ cao, Ngoài ra các chỉ số giá chứng khoán phản ánh đúng quan hệ cung cầu, đồngtiền ổn định, tỷ giá và lãi suất Ngược lại, các yếu tố liên quan giảm sẽ mangđến nhiều rủi ro về sự suy thoái kinh tế, giá chứng khoán ảo, là biểu hiệnmôi trường tồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay
Trong quản trị doanh nghiệp, ngoài những yếu tố trên thì tổ chức doanhnghiệp đã mang lại môi trường thuận lợi và quan trọng cho việc thực hiện sứmệnh, chiến lược, mục tiêu dài hạn đã được đề ra Nó đã bao gồm giá trịmang tính chất lượng,những chuẩn mực, khuôn khổ có tác dụng định hướngcác kết quả trong doanh nghiệp Quản trị chính là việc làm thế nào để saikhiến được những người dưới quyền mình thực hiện công việc một cách hiểu
19
Trang 24quả để đạt được mục tiêu chung Từ đó, văn hóa doanh nghiệp là dụng cụ,phương tiện mà người quản trị thực hiện công việc quản lý mình.
Thứ ba, yếu tố về người ra quyết định
Hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào quyết định của nhà quản trịnói chung và của người đại diện doanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên, các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định của người đại diện còn tùy thuộc vào nhiều vấn
đề khác nhau như trình độ, nhận thức, vị trí, tính cách, Nếu người đại diện
có động cơ ra quyết định đúng đắn vì lợi ích của doanh nghiệp, của tập thể sẽmang lại nhiều giá trị xứng đáng cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu ngươi đạidiện vì nhu cầu vụ lợi cá nhân thì sẽ ảnh hường nghiệm trọng đến doanhnghiệp Để người đại diện có được động cơ ra quyết định tốt nhất thì doanhnghiệp phải có hệ thống kiểm soát khoa học, khen thưởng và kỷ luật phảithực hiện nghiêm túc, cơ chế phúc lợi rõ ràng và thiết lập môi trường làmviệc văn minh
Thứ tư, yếu tố về tài, đạo đức và năng lực
Môi trường kinh doanh là môi trường cạnh tranh khốc liệt, do đó ngườiđại diện của doanh nghiệp cần đối đầu với khó khăn, chịu dựng được áp lực,không ngừng thay đổi, cải tiến,.v.v Đặc biệt còn cần có thêm những yếu tốquyết định như tài, tâm, đức
Tài năng được thể hiện qua nhiều phương thức khác nhau như trình độ,năng lực, lãnh đạo, khả năng giao tiếp, thuyết phục khách hàng, ứng xử khéoléo Song song với đó là nhà quản trị, lãnh đạo hiểu quả công việc có đầu ócsáng tạo, biết phân tích, tiên đoán trước các rủi ro, phản ứng nhanh với nhữngthay đổi khôn lường trong kinh doanh để đưa ra những quyết định quyết đoán
và đúng đắn
Tâm là những hiểu biết nền tảng hiện tương tâm lý trong kinh doanh là sự hysinh và làm việc phục vụ lợi ích cho mình cho mọi người, không trục lợiriêng cho bản thân, làm những điều tốt về việc nên làm và đáng làm 20
Trang 25Trong môi trường kinh doanh đầy những khó khăn thì tâm huyết và sự tậntâm, tận lực với công việc của mình thì ý thức được trách nhiệm đối với xãhội và cộng đồng có ý nghĩa to lớn.
Khi nhắc đến kinh doanh là nhắc đến lợi ích lợi nhuận, nhưng khôngphải lúc nào vì những lợi nhuận trước mắt mà bất chấp thủ đoạn, kinh doanhbất hợp pháp đánh mất những lợi ích lâu dài của doanh nghiệp Người đạidiện với nhiều chức năng quan trọng trong lãnh đạo, là người nắm giữ, sửdụng quyền lực và tiền bạc nên cái tâm còn thể hiện qua đức tính minh bạch,công bằng, quý trọng những thành quả mà người lao động tạo ra
Thiết nghĩ, một trong những biểu hiện đó là sự chân thật trong kinhdoanh Được hiểu là không lừa dối trong kinh doanh, chân thật trong những
gì cam kết với khách hàng Chân thật là cách tốt nhất để quảng bá hình ảnh
uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng và thu hút khách hàng tiềm năng
Mà biểu hiện này thường được khách hàng đánh giá qua hành vi của ngườiđại diện của doanh nghiệp
Đạo đức kinh doanh hay còn gọi là đạo đức doanh nghiệp là một hìnhthức đạo đức ứng dụng hoặc đạo đức nghề nghiệp, xem xét các nguyên tắcđạo đức và các vấn đề đạo đức có thể phát sinh trong môi trường kinh doanh.Đạo đức kinh doanh áp dụng cho tất cả các khía cạnh của hành vi kinh doanh
và có liên quan đến hành vi của các cá nhân và toàn bộ tổ chức Yếu tố đạođức của doanh nghiệp được thể hiện thông qua cá nhân người đại diện củadoanh nghiệp đó
Thứ năm, yếu tố về sự đãi ngộ của doanh nghiệp
Chế độ đãi ngộ người đại diện trong các doanh nghiệp thì thùy thuộcvào chức danh quản lý và phạm vi công việc cũng như yếu tố chuyên môn,yêu cầu đặc biệt của doanh nghiệp đó
Ngày nay, hệ thống lương thưởng đã chuyển dần từ chỗ trả lương theothời gian làm việc, theo thâm niên công tác hay chức vụ sang trả lương theo
21
Trang 26hiệu quả làm việc và mức độ đóng góp thực tế của nhân viên với doanhnghiệp Xu hướng này giúp các công ty quản lý tốt hơn các khoản phúc lợikhông tính thành tiền và xác định rõ gói thu nhập của từng nhân viên hằngtháng nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng và ổn định trong tổ chức Tuy nhiên,điều quan trọng nhất khi áp dụng chính sách đãi ngộ theo hiệu quả làm việc
là không nên chỉ nhấn mạnh yếu tố lương, có nghĩa là không nhất thiết phảităng tiền lương, tiền thưởng mỗi khi nhân viên đạt kết quả cao
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiền bạc chỉ tạo ra một tác động rấtnhỏ đối với việc cải thiện thành tích và hiệu quả làm việc của người lao động.Thay vào đó, một cơ chế đãi ngộ theo hiệu quả làm việc cần phải tính đếnnhững phần thưởng có giá trị tinh thần hay tạo điều kiện để người lao động
có những trải nghiệm sống mới, từ đó họ sẽ tích cực điều chỉnh hành vi, lốisống và hỗ trợ đồng nghiệp nhiều hơn, kết quả cuối cùng là nâng cao đượchiệu quả công việc chung
1.5 Những vấn đề pháp lý về người đại diện của doanh nghiệp
Những vấn đề pháp lý là tổng thể các khía cạnh cũng như quy định đặt
ra nhằm phân tích, điều chỉnh một đối tượng pháp lý nhất định Như vậy, vấn
đề pháp lý về người đại diện của doanh nghiệp là tổng thể các quy định phápluật được nhà nước ban hành tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Namđiều chỉnh đối tượng là người đại diện của doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật, các yếu tố pháp lý cơ bản về người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp đó là: điều kiện, căn cứ xác lập, sốlượng, phạm vi và trách nhiệm của người đại diện Ngoài ra, một số loại hìnhdoanh nghiệp được dự do lựa chọn người đại diện của doanh nghiệp như về
số lượng người đại diện, xác lập quyền và nghĩa vụ của người đại diện theopháp luật trong Điều lệ doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân Như vậy cácvấn đề pháp lý của người đại diện doanh nghiệp không chỉ được điều chỉnh
22
Trang 27bởi luật mà pháp luật còn cho phép doanh nghiệp chủ động quy định về chếđịnh đại diện phù hợp với hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Các yếu tố pháp lý cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệpnăm 2020 Theo đó, gồm có những yếu tố cơ bản sau:
- Thứ nhất, quy định về điều kiện người đại diện của doanh nghiệp Đểtrở thành chủ thể của quan hệ pháp luật này, người đại diện của doanh nghiệpcần đáp ứng các điều kiện theo pháp luật dân sự của Việt Nam nói chung vàpháp luật doanh nghiệp cũng như điều lệ công ty nói riêng Đây là vấn đề thiếtyếu để phát sinh mối quan hệ pháp luật giữa người đại diện và doanh nghiệp
- Thứ hai, quy định về căn cứ xác lập và chấm dứt tư các pháp lý củangười đại diện của doanh nghiệp Khi chủ để đáp ứng các điều kiện theo quyđịnh của pháp luật thì quan hệ đó được xác lập dựa vào các căn cứ phát sinh.Bên cạnh đó, quan hệ pháp luật này không phải là quan hệ tồn tại mãi mãi màtrong các trường hợp như hết thời hạn ủy quyền, hoàn thành các nhiệm vụ ủyquyền hoặc doanh nghiệp chấm dứt, thay đôi người đại diện theo pháp luật,…Khi đó tư cách pháp lý của người đại diện của chấm dứt, các quyền và nghĩa vụgiữa người đại diện và doanh nghiệp được xử lý theo quy định của pháp luật
- Thứ ba, quy định về số lượng người đại diện của doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp có thể có nhiều người đại diện, điều này dẫn đến mối quan hệpháp lý với sự tham gia của nhiều chủ thể Do đó, doanh nghiệp cần nắm rõquy định pháp luật về vấn đề này để thuận tiện cho việc quản lý hoạt độngkinh doanh
- Thứ tư, quy định về phạm vi và trách nhiệm đại diện của người đạidiện doanh nghiệp Một trong những yếu tố cơ bản của một quan hệ pháp luật
đó là quyền và nghĩa vụ của các bên Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ đại diệncủa người đại diện phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật, điều lệ hoặcvăn bản ủy quyền Trong đó, điển hình nhất là phạm vi và trách nhiệm ủy
23
Trang 28quyền của người đại diện Đây còn là căn cứ để xác định việc người đại diệnxác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, từ đó phát sinh các nghĩa vụ đốivới doanh nghiệp và bên thứ ba khác.
Những nội dung này sẽ được phân tích cụ thể tại chương 2 của luận văn
Tiểu kết Chương 1
Qua các phân tích ở trên, quan hệ đại diện là một quan hệ pháp luật lâuđời Chế định người đại diện nói chung, người đại diện của doanh nghiệp nóiriêng có vị trí quan trong trong luật dân sự và doanh nghiệp của bất kỳ quốcgia nào trên thế giới Xuất phát từ hoạt động thực tiễn, khi một cá nhân haypháp nhân không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với doanhnghiệp theo quy định của pháp luật thì quan hệ đại diện xuất hiện nhằm đápứng những yêu cầu đó “ Tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước banhành theo thủ tục luật định về người đại diện của doanh nghiệp mang tính bắtbuộc cho người đại diện của các doanh nghiệp”
Ở Việt Nam, các quy chế liên quan đến người đại diện của doanh nghiệpcòn nhiều bất cập, đòi hỏi pháp luật cũng phải có những điều chỉnh, sửa đổicho phù hợp với bối cảnh ngày càng phát triển của các doanh nghiệp Từnhững nhu cầu cần thiết và vai trò thiết thực, ý nghĩa quan trọng nhừm giúpcác nhà làm luật, chủ sở hữu doanh nghiệp, nhà quản lý, các cổ đông củacông ty, nhằm tham khảo, đúc kết các kinh nghiệm, tiếp thu những kiếnthức mới của các nước để hướng tới nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa ,đáp ứng sự đòi hỏi của các doanh nghiệp trên nền kinh tế thị trường ngàycàng phát triển
24
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về người đại diện của doanh nghiệp
2.1.1 Điều kiện và căn cứ xác lập tư cách pháp lý người đại diện của doanh nghiệp
2.1.1.1 Điều kiện người đại diện của doanh nghiệp
Pháp luật Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhậnquyền đại diện của cá nhân cho doanh nghiệp theo hai hình thức đó là ngườiđại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên, Nhànước quy định những điều kiện, cũng như căn cứ nhất định để cá nhân đó cóthể thay mặt doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao Căn cứtheo Bộ Luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2020 thì người đại diện củadoanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, người đại diện của doanh nghiệp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Người đại diện là cá nhân thể hiện ý chí của doanh nghiệp và thay mặtdoanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch cũng như là đại diện pháp lý củadoanh nghiệp trong lĩnh vực tố tụng Tầm quan trọng của người đại diện đòihỏi yếu tố cơ bản của cá nhân đảm nhiệm vai trò này là cá nhân có đầy đủnăng lực hành vi dân sự Luật Doanh nghiệp 2020 không có quy định trựctiếp về điều này, tuy nhiên điều kiện được nhắc đến gián tiếp trong một sốquy định khác như điều kiện thành lập,người quản lý doanh nghiệp, ngườitham gia quản lý công ty cổ phần Nếu người đại diện theo pháp luật của
25
Trang 30công ty cổ phần không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì giao dịch nhândanh công ty đó sẽ vô hiệu.
Bên cạnh người đại diện theo pháp luật, trường hợp người đại diện theo ủyquyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức thì cá nhân phải
không thuộc trường hợp “đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân”
Do đó, tư cách chủ thể của cá nhân là người đại diện chỉ đầy đủ, độc lập
và hoàn thiện khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Năng lực hành vi dân
sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự Người đại diện của doanh nghiệp nói chungphải đảm bảo có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luậtdân sự năm 2015, tức là người đủ 18 tuổi và không bị mắc các bệnh tâm thầnhoặc bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc điều khiển được hành vi củamình hoặc bị hạn chế năng lực hành vi do nghiện ma túy hoặc các chất kíchthích khác
Thứ hai, có căn cứ xác lập tư cách pháp lý của người đại diện của doanh nghiệp
Người đại diện của doanh nghiệp được công nhận về mặt pháp luật cũngnhư mặt kinh doanh thương mại khi có căn cứ xác lập tư cách pháp lý của cánhân đó Người đại diện đủ tư cách nhân danh doanh nghiệp, trực tiếp thựchiện các giao dịch khi có căn cứ xác nhận như giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp, điều lệ công ty hoặc văn bản ủy quyền của doanh nghiệp trongtrường hợp người đại diện theo ủy quyền Những căn cứ này không chỉ xáclập tư cách pháp lý của cá nhân mà còn là cơ sở để người đại diện giao dịchvới đối tác, khách hàng trong hoạt động kinh doanh Tư cách pháp lý này chỉchấm dứt khi có sự thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp về người
26
Trang 31đại diện theo pháp luật hay căn cứ chấm dứt văn bản ủy quyền của doanhnghiệp Căn cứ xác lập tư cách pháp lý của người đại diện doanh nghiệp đượclàm rõ tại mục 2.1.1.2 của luận văn này.
Thứ ba, điều kiện về cư trú của người đại diện của doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam quy định về điều kiện cư trú nhằm đảm bảo về sự cómặt kịp thời của của người đại diện doanh nghiệp, từ đó giải quyết các giaodịch, vấn đề phát sinh khi cần thiết Do đó, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn
có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Trước đây,người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải “thường trú” tại ViệtNam theo Luật Doanh nghiệp 2005, quy định này mang tính chất bó hẹp điềukiện của chủ thể đại diện theo pháp luật, không quy định trực tiếp nhưng dẫnchiếu với các quy định khác như Nghị định 21/2001/NĐ-CP, Luật cư trú thìngười nước ngoài không thể làm người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp Đến Luật doanh nghiệp 2014 đã đổi mới mở rộng phạm vi chủ thểđại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khi quy định có ít nhất một ngườiđại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải “cư trú” tại Việt Nam, tức làbao gồm các trường hợp thường trú, tạm trú Trên cơ sở kế thừa quy định nàythì Luật Doanh nghiệp 2015 vẫn giữ nguyên quy định, đảm bảo được tối đaphạm vi chủ thể của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo phápluật nhưng không cư trú tại Việt Nam thì phải có người đại diện theo ủyquyền cho cá nhân đó để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định củapháp luật Từ đây phát sinh nghĩa vụ ủy quyền cho bên thứ ba, người ủyquyền phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủyquyền Hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật không trở vềViệt Nam, không đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối vớidoanh nghiệp thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị
27
Trang 32cử người khác thay thế đảm nhiệm vai trò đại diện của doanh nghiệp Theoquy định tại khoản 5 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 người đại diện theopháp luật duy nhất của doanh nghiệp bị thay thế khi vắng mặt tại Việt Namquá 30 ngày mà không ủy quyền người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ củangười đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định về thời giannhưng không quy định về số lần xuất cảnh, cũng như số lần không có mặt tạiViệt Nam Do đó, để đảm bảo hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp cầncân nhắc đưa ra điều kiện xuất cảnh, vắng mặt cụ thể về đối với người đạidiện theo pháp luật.
Thứ ba, người đại diện theo ủy quyền không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020,người đại diện theo ủy quyền không thuộc đối tượng sau:
“Điều 17 Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp
và quản lý doanh nghiệp
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy
28
Trang 33quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
g) Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.”
Như vậy, nhóm đối tượng nêu trên không đủ điều kiện trở thành ngườiđại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổchức Quy định này khá tương đồng với thông lệ quản trị doanh nghiệp củamột số nước trên thế giới và Công ước Liên hợp Quốc về Chống tham nhũng
Cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp đồng nghĩa vớiviệc họ không được nhận đại diện theo ủy quyền của tổ chức khác
Thứ tư, điều kiện khác theo điều lệ, quyết định của doanh nghiệp
29
Trang 34Bản chất của quan hệ giữa doanh nghiệp với người đại diện theo phápluật cũng như người đại diện theo ủy quyền là quan hệ dân sự Đồng thời,một số điều luật trong Luật Doanh nghiệp 2020 sử dụng cụm từ “Điều lệcông ty không có quy định khác” Do đó, doanh nghiệp có thể quy định cácđiều kiện khác ngoài quy định của pháp luật Những vấn đề khác này đượctrình bày cụ thể tại Điều lệ doanh nghiệp hoặc tại văn bản ủy quyền.
Tùy thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau mà phát sinh những vấn đềnày, điển hình như điều kiện về trình độ chuyên môn, bằng cấp chứng chủ củangười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.Một số lĩnh vực đương cử như:
- Văn phòng luật sư, người đại diện theo pháp luật của văn phòng phải làluật sư
- Lĩnh vực kinh doanh Kiểm toán, người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn phải là kiểm toán viên hành nghề
- Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Thẩm định giá, người đại diện theo phápluật của doanh nghiệp kinh doanh thẩm định giá phải là thẩm định viên về giáđăng ký hành nghề tại doanh nghiệp
- Lĩnh vực Công chứng, người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên
2.1.1.2 Căn cứ xác lập tư cách pháp lý Người đại diện của doanh nghiệp
Tư cách pháp lý của người đại diện doanh nghiệp được hiểu khác nhau đốivới hai hình thức đại diện Căn cứ phần lý luận nêu trên thì chế định người đạidiện của doanh nghiệp được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự nói chung và LuậtDoanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác nói riêng Tuy nhiên, Luật Doanhnghiệp 2020 không có quy định riêng biệt về căn cứ xác lập tư cách pháp lý củangười đại diện doanh nghiệp Căn cứ quy định tại Bộ Luật Dân sự 2015, tư cáchpháp lý của người đại diện theo pháp luật do cơ quan nhà nước quyết định hoặc
30
Trang 35do quy định của pháp luật, ngược lại quan hệ pháp lý được xác lập theo ý chícủa người được đại diện thì quan hệ đó xác lập tư cách pháp lý cho người địadiện theo ủy quyền Như vậy, quy định này tại Bộ Luật dân sự năm 2015 đãlàm rõ được cách thức xác lập quyền đại diện đối với người đại diện củadoanh nghiệp, hạn chế những rủi ro trong thực tiễn áp dụng và trong các vụviệc được xem xét tại Tòa án so với Bộ Luật Dân sự 2005.
2.1.1.3 Căn cứ xác lập tư cách pháp lý Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bộ Luật Dân sự 2015 cũng quy định ghi nhận khá chi tiết về người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp:
“Điều 137 Đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:
a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
… ”
Qua đây, ta có thể khẳng định rằng người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp là cá nhân và tư cách pháp lý được xác lập thông qua chỉ địnhtheo điều lệ, chỉ định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật Tư cáchpháp lý của người đại diện theo pháp luật đã được xác định một cách cụ thể
và linh hoạt hơn so với các quy định của pháp luật trước đây
Thứ nhất, căn cứ xác lập tư cách pháp lý theo Điều lệ doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự do kinh doanh cũng như quyền
tự định đoạt của doanh nghiệp thông qua quy định này Người đại diện theopháp luật là một phần cơ bản và không thể thiếu trong điều lệ doanh nghiệptheo quy định tại khoản 2 Điều 77 Bộ Luật Dân sự 2015 Điều lệ công ty làcăn cứ để xác lập tư cách của người đại diện theo pháp luật của doanh
31
Trang 36nghiệp, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phát sinh khi được nêu rõ trongđiều lệ Theo quy định của pháp luật, điều lệ không bắt buộc nêu rõ tên, địachỉ và các thông tin cá nhân khác của người đại diện Tuy nhiên, trên thực tế
áp dụng, các cơ quan đăng ký kinh doanh luôn yêu cầu doanh nghiệp phải thểhiện rõ những thông tin này, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có nhiềungười đại diện theo pháp luật Thông tin cụ thể từng cá nhân đi liền vớinhiệm vụ và quyền hạn riêng biệt của từng người
Ngoài ra, điều lệ doanh nghiệp phải quy định rõ số lượng, chức danhquản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp; phân chia quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trongtrường hợp công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật Ngoài ra,Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 24 Luật Doanh nghiệp 2015 cũngquy định rõ điều lệ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phải có nộidung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trên nguyên tắc tự
do nhưng điều lệ doanh nghiệp phải quy định trong phạm vi cho phép phápluật, không vi phạm điều cấm, vi phạm quy tắc đạo đức xã hội
Xét trên phương diện thủ tục hành chính, thì căn cứ xác lập tư cách pháp
lý của người đại diện theo pháp luật thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quanđăng ký kinh doanh Chẳng hạn doanh nghiệp thành lập mới thì căn cứ vàođiều lệ quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, nội dungnày đồng thời được thể hiện trong Giấy đề nghị đăng ký thành lập doanhnghiệp Kết quả là trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thể hiện nộidung người đại diện theo pháp luật Dựa vào căn cứ phát sinh là điều lệ công
ty thì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là căn cứ được công khai nhằmxác nhận tư cách pháp lý của người đại diện doanh nghiệp Cơ quan nhà nước
32
Trang 37hoặc bên đối tác, khách hàng của doanh nghiệp căn cứ vào đây để thực hiệncác giao dịch cần thiết.
Ngoài ra, tư cách pháp lý của người đại diện theo pháp luật của công tycòn được xác lập thông qua việc thay đổi người đại diện của công ty Việcxác lập tư cách này gồm hai thủ tục cơ bản:
Đầu tiên là thủ tục nội bộ công ty: Giai đoạn này chính là việc côngnhận người đại diện trong Điều lệ công ty Tùy từng loại hình doanh nghiệp
mà công ty tổ chức họp Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông đểquyết định
Tiếp theo là thủ tục đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh – Sở Kếhoạch và Đầu tư Để đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật thì công
ty phải nộp hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quyđịnh của nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp Kết quả củathủ tục này là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận người đạidiện pháp luật mới, đây là căn cứ xác lập tư cách pháp lý của người đại diện
Thứ hai, căn cứ xác lập tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật
Pháp luật Việt Nam không trao hoàn toàn quyền được xác lập tư cáchcủa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong điều lệ công ty Màbên cạnh đó, một số loại hình doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật
do quy định riêng của pháp luật xác lập tư cách pháp lý Các trường hợpngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định theo quy địnhcủa pháp luật như sau:
- Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì các thành viênhợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân chính là người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp, họ trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngàycủa công ty theo quy định tại Điều 184 và Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020.Riêng đối với công ty hợp danh có thể hạn chế quyền đại diện theo pháp luật
33