1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình xử lý vi khuẩn của đất bị ô nhiễm dầu thô

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình xử lý vi khuẩn của đất bị ô nhiễm dầu thô
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Học Môi Trường
Thể loại Đề tài tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 139,34 KB
File đính kèm đất bị ô nhiễm dầu thô.rar (132 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔ HÌNH XỬ LÝ VI KHUẨN CỦA ĐẤT BỊ Ô NHIỄM DẦU THÔ Mô hình toán học là một phương pháp mô phỏng các tình huống thực tế bằng các phương trình toán học để dự báo hành vi trong tương lai của chúng Việc mô.

Trang 1

MÔ HÌNH XỬ LÝ VI KHUẨN CỦA ĐẤT BỊ Ô NHIỄM DẦU THÔ

Mô hình toán học là một phương pháp mô phỏng các tình huống thực tế bằng các phương trình toán học để dự báo hành vi trong tương lai của chúng Việc mô hình hóa các tham số vi sinh được thực hiện bằng SPSS 23 cho thống kê mô tả trong khi phần mềm E-view 10 được sử dụng cho mô hình hồi quy gộp Đất bị ô nhiễm dầu thô từ Bodo ở Ogoniland đã được lấy mẫu để xử lý bằng công nghệ xử lý sinh học

và bảy phương án xử lý được chỉ định từ A đến G được thiết lập ba lần trong các

ô Năm loại được kích thích sinh học bằng NH 4 NO 3 và KH 2 PO 4trong khi không được sửa đổi và xử lý nhiệt đóng vai trò kiểm soát Quá trình xử lý sinh học kéo dài trong 56 ngày với 50% môi trường bị ô nhiễm được bổ sung bằng 1% vật liệu

xử lý Thiết lập được lấy mẫu lặp đi lặp lại trong các khoảng thời gian để phân tích trong thời gian nghiên cứu ES có số lượng THB cao nhất vào ngày 28 trong khi

FS có số lượng thấp nhất vào ngày 56 Đối với vi khuẩn sử dụng hydrocarbon (HUB), CS có số lượng cao nhất vào ngày 42 trong khi FS có số lượng HUB thấp nhất vào ngày 56 Đối với tất cả các phương pháp điều trị vào ngày 0, tổng hydrocarbon dầu mỏ (TPH) nằm trong khoảng từ 846,25 đến 4406 mg/kg trong khi hydrocarbon thơm đa vòng (PAH) nằm trong khoảng từ 2,02 đến 202,70 mg/kg Trong tất cả các phương pháp điều trị vào ngày thứ 56, TPH là < 405 mg/kg trong khi PAH là < 6,5 mg/kg Đến ngày thứ 56, tỷ lệ phần trăm mất TPH của các lựa chọn điều trị được đo bằng GC-FID là AS (63 %), BS (72 %), CS (76

%), DS (95 %), ES (98 %), FS (59 %) và GS xử lý nhiệt (47 %) ES có TPH cao nhất (4403,91 mg/kg) vào ngày 0 trong khi CS ghi nhận TPH thấp nhất (93,01 mg/kg) vào ngày 56 Đến ngày 56, phần trăm mất PAH của các phương pháp điều trị được đo bằng GC-FID là AS ( 98 %), BS (97 %), CS (93 %), DS (94 %), ES (96

%), FS (31 %) và GS được xử lý nhiệt (31 %) Tuy nhiên, ES có tỷ lệ mất TPH cao nhất (98 %), tiếp theo là DS (95 %) và cuối cùng là GS (47 %) FS có PAH cao nhất (201,67 mg/kg) vào ngày 0 trong khi AS có PAH thấp nhất (0,04 mg/kg) vào ngày 56 AS có tỷ lệ mất PAH cao nhất (98 %) tiếp theo là BS (97 %) và cuối cùng

là FS và GS (31 %) Tổng cộng có 121 vi khuẩn sử dụng hydrocarbon đã thu được bao gồm Đến ngày thứ 56, tỷ lệ mất PAH của các phương pháp điều trị được đo bằng GC-FID là AS (98 %), BS (97 %), CS (93 %), DS (94 %), ES (96 %), FS ( 31

%) và GS xử lý nhiệt (31 %) Tuy nhiên, ES có tỷ lệ mất TPH cao nhất (98 %), tiếp theo là DS (95 %) và cuối cùng là GS (47 %) FS có PAH cao nhất (201,67 mg/kg) vào ngày 0 trong khi AS có PAH thấp nhất (0,04 mg/kg) vào ngày 56 AS có tỷ lệ mất PAH cao nhất (98 %) tiếp theo là BS (97 %) và cuối cùng là FS và GS (31

%) Tổng cộng có 121 vi khuẩn sử dụng hydrocarbon đã thu được bao gồm Đến ngày thứ 56, tỷ lệ mất PAH của các phương pháp điều trị được đo bằng GC-FID là

Trang 2

AS (98 %), BS (97 %), CS (93 %), DS (94 %), ES (96 %), FS ( 31 %) và GS xử lý nhiệt (31 %) Tuy nhiên, ES có tỷ lệ mất TPH cao nhất (98 %), tiếp theo là DS (95

%) và cuối cùng là GS (47 %) FS có PAH cao nhất (201,67 mg/kg) vào ngày 0 trong khi AS có PAH thấp nhất (0,04 mg/kg) vào ngày 56 AS có tỷ lệ mất PAH cao nhất (98 %) tiếp theo là BS (97 %) và cuối cùng là FS và GS (31 %) Tổng cộng có 121 vi khuẩn sử dụng hydrocarbon đã thu được bao gồm 67 mg/kg) vào ngày 0 trong khi AS có PAH thấp nhất (0,04 mg/kg) vào ngày 56 AS có tỷ lệ mất PAH cao nhất (98 %), tiếp theo là BS (97 %) và cuối cùng là FS và GS ( 31 %) Tổng cộng có 121 vi khuẩn sử dụng hydrocarbon đã thu được bao

gồmMicrococcus sp 35 (28,93 %), Acinetobacter sp (9,92 %), Pseudomonas sp (28,93 %), Bacillus sp (14,05%), Alcaligenes sp (4,96 %), Proteussp (1,65 %) và

các chủng chưa xác định (11,57 %) Mô hình hồi quy của vi khuẩn cho thấy ảnh hưởng của thời gian, nitơ và phốt pho đến vi sinh vật và ảnh hưởng của HUB và THB đến các thông số hóa lý Thời gian và nitơ có tác động tích cực đến HUB và THB trong khi phốt pho có tác động tiêu cực Một đơn vị tăng thời gian và nitơ làm tăng HUB 0,0545 và 19,8826 trong khi tăng tổng phốt pho làm giảm HUB 51,83 Time, HUB và THB ảnh hưởng tiêu cực đến TPH Khi tăng một đơn vị thời gian, HUB và THB đã giảm TPH lần lượt là 30,84, 74,75 và 145,1 đơn vị Những thay đổi và tác động của các mô hình toán học này có ý nghĩa thống kê ở giá trị P

<0,05 và giá trị t Giá trị F ngụ ý các mô hình tổng thể có ý nghĩa thống kê Các mô hình này đã thiết lập rằng việc điều chỉnh các chất dinh dưỡng hạn chế (đạm,

1 Giới thiệu

Mô hình toán học đã trở thành một công cụ quan trọng để hỗ trợ phân tích và hiểu các hệ thống môi trường phức tạp Vô số các quá trình như bản chất vật lý, hóa học hoặc sinh học, tương tác với nhau Mô hình toán học cung cấp một khung hợp lý

để xây dựng và tích hợp kiến thức thu được từ (i) công việc lý thuyết (ii) cơ bản, ví

dụ như nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và (iii) công việc thực nghiệm cụ thể tại địa điểm1 Hơn nữa, mô hình toán học là một phương pháp mô phỏng các tình huống thực tế bằng các phương trình toán học để dự đoán hành vi trong tương lai của chúng Mô hình hóa được thực hiện để xác định xem hoạt động của vi sinh vật

có chịu trách nhiệm trực tiếp phân hủy các chất gây ô nhiễm hữu cơ hay liệu nó được sử dụng gián tiếp để thay đổi điều kiện địa hóa1

Ô nhiễm đất, nước ngầm, trầm tích, nước mặt và không khí với các hóa chất nguy hiểm và độc hại là một vấn đề mà các nước công nghiệp hóa và đang phát triển phải đối mặt ngày nay Có những địa điểm chứa chất độc hóa học và nguy hiểm tiềm ẩn, nơi người ta ước tính rằng một số lượng đáng kể các bể chứa ngầm bị vỡ,

Trang 3

tai nạn giao thông, rò rỉ và phá hoại đường ống ở khắp các quốc gia trên thế giới đang bị rò rỉ2 3 4 Mặc dù các bước quản lý đã được thực hiện để giảm hoặc loại bỏ việc sản xuất và thải các hóa chất này ra môi trường, nhưng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã xảy ra trong quá khứ và có thể sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai Nhu cầu khắc phục các địa điểm này đã dẫn đến sự phát triển của các công nghệ mới (xử lý sinh học) nhấn mạnh vào việc giải độc và tiêu hủy các chất gây ô nhiễm hơn là phương pháp xử lý thông thường5 6 7 8

Nhiều vi sinh vật sở hữu khả năng vốn có để biến đổi các hợp chất nguy hiểm Tuy nhiên, sự tồn tại lâu dài của nhiều chất gây ô nhiễm này trong môi trường là minh chứng cho thực tế rằng các quá trình xảy ra tự nhiên này thường không xảy ra với tốc độ đủ nhanh để bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người Thông thường, các

vi sinh vật bị hạn chế bởi sự sẵn có của chất ô nhiễm hoặc chất nền quan trọng khác hoặc không có đủ số lượng Trong nhiều trường hợp, xử lý sinh học có thể khắc phục những hạn chế này thông qua kỹ thuật cẩn thận của môi trường bị ô nhiễm, do đó nâng cao tỷ lệ của các quá trình vi sinh vật quan trọng2 3 7 9 Do đó,

xử lý sinh học thành công liên quan đến việc tích hợp các kỹ thuật kỹ thuật và vi sinh môi trường với các ngành khác, chẳng hạn như địa hóa học và thủy văn

Trong nghiên cứu này, các phương án xử lý sau đây đã được lựa chọn bao gồm, riêng đất bị nhiễm dầu thô, đất bị nhiễm dầu thô, các tỷ lệ nitơ và phốt pho khác nhau và mẫu đất bị nhiễm dầu thô được xử lý nhiệt Tất cả các phương án xử lý này đều phải tuân theo các điều kiện môi trường giống nhau trong khoảng thời gian

56 ngày

2 Vật liệu và phương pháp

2.1 Địa điểm lấy mẫu/Lấy mẫu

Mẫu cho nghiên cứu này là đất bị ô nhiễm dầu thô Mẫu được lấy từ Bodo ở (Ogoni) Khu vực chính quyền địa phương Gokana của bang Rivers Các mẫu được thu thập bằng cách sử dụng các vật chứa mẫu tiệt trùng thích hợp Các mẫu được đồng nhất và vận chuyển đến phòng thí nghiệm để được xử lý

2.2 Thiết kế thử nghiệm

Đất bị ô nhiễm dầu thô đã được lấy mẫu và bảy phương án xử lý được chỉ định là

A, B, C, D, E, F và G được thiết lập ba lần trong các ô Năm (AE) được kích thích sinh học bằng NH 4 NO 3 và KH 2 PO 4 trong khi không sửa đổi (F) và xử lý nhiệt (G) được dùng làm đối chứng Cuộc điều tra xử lý sinh học kéo dài trong 56 ngày Các lựa chọn điều trị khác nhau và các biện pháp kiểm soát được thiết lập ba

Trang 4

lần trong các ô khác nhau bằng bát nhựa Đối với mỗi phương án xử lý, 2kg (trọng lượng ướt) đất/nước bị nhiễm dầu thô được bổ sung 40 g vật liệu xử lý theo Abu và Ogiji10 Mẫu được xử lý nhiệt được hấp khử trùng ở 121°C trong 15 phút ở áp suất 15psi

Bảng 1 Thiết kế thí nghiệm có sửa đổi

Trong mỗi nghiệm thức, các thông số như số lượng vi khuẩn sử dụng hydrocacbon, tổng số vi khuẩn dị dưỡng, tổng số cacbon hữu cơ, tổng nitơ, tổng phốt pho và mức

độ hydrocacbon đã được xác định Trước khi áp dụng các vật liệu xử lý, đã có phân tích tiền xử lý các mẫu thử nghiệm (đất bị nhiễm dầu thô) bằng cách sử dụng các giao thức được liệt kê ở trên Điều này đã được thực hiện để thiết lập dữ liệu cơ sở của các mẫu

Khi giám sát các điều kiện và quy trình xử lý sinh học ở mỗi cơ sở, một lượng nhỏ các phương án xử lý khác nhau và các biện pháp kiểm soát đã được thu thập và phân tích đối với tổng lượng hydrocarbon dầu mỏ (TPH) và hydrocarbon thơm đa vòng (PAH), tổng lượng nitơ, tổng lượng phốt pho và vi sinh vật trong ngày số

Trang 5

không và phân tích tiếp theo được thực hiện trong suốt thời gian (56 ngày) của nghiên cứu7

2.3 Phân tích thống kê dữ liệu

Phân tích thống kê được thực hiện trên dữ liệu được tạo ra từ số lượng vi khuẩn và nồng độ hydrocarbon đối với các phương pháp điều trị khác nhau bằng cách sử dụng phân tích phương sai (ANOVA) và xét nghiệm So sánh bội Duncan, để kiểm tra sự khác biệt đáng kể giữa các phương án xử lý khác nhau ở mức 95 % (p< 0,05) mức tin cậy

2.4 Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng (QA/QC)

Thiết lập ba lần và phân tích trùng lặp được thực hiện để kiểm tra độ đúng và độ chính xác trong khi phân tích mẫu trắng được thực hiện để kiểm tra sự nhiễm bẩn Hiệu chuẩn thiết bị được thực hiện để kiểm tra độ nhạy và độ chính xác của thiết bị Bài kiểm tra Ngoại lệ là để kiểm tra các lỗi hệ thống bao gồm các lỗi về phương pháp, công cụ và/hoặc cá nhân

Đếm/xác định tổng số vi khuẩn dị dưỡng (THB) và vi khuẩn sử dụng hydrocarbon (HUB)

Đếm THB và HUB được thực hiện trên mẫu cơ sở vào ngày 0, 14, 28, 42 và 56 tương ứng Từ mỗi lựa chọn xử lý và kiểm soát, 1g (trọng lượng ướt) của đất bị ô nhiễm dầu thô được đồng nhất hóa trong 9 ml dung dịch muối sinh lý 0,85% được pha loãng nối tiếp 10 lần Pha loãng (gấp 10 lần) các huyền phù được mạ thành hai bản trên thạch dinh dưỡng (Titan biotech ltd) và ủ ở 37°C trong 24 giờ để đếm THB Đối với số lượng HUB, các độ pha loãng thích hợp đã được chọn và mạ thành hai bản trên môi trường muối khoáng (MSA) của13 , 14 Hydrocacbon được cung cấp thông qua cơ chế chuyển pha hơi sang vi khuẩn sử dụng hydrocacbon bằng cách đặt giấy lọc Whatman No 1 vô trùng thấm đẫm dầu thô vô trùng và đặt một cách vô trùng trên bề mặt nắp của đĩa Petri úp ngược Các đĩa được ủ ở 30°C trong 7 ngày Các khuẩn lạc riêng lẻ của vi khuẩn sử dụng hydrocarbon đã được kiểm tra các đặc điểm nuôi cấy và được chọn ra và cấy truyền để thử nghiệm sinh hóa13 , 14 Các xét nghiệm sinh hóa sau: catalase, oxidase, sản xuất indole, sử dụng citrate, sử dụng sắt đường ba, proskauer đỏ methyl, thủy phân tinh bột, lên men đường; glucose, sucrose, lactose đã được sử dụng để xác định và mô tả đặc điểm của vi khuẩn sử dụng hydrocarbon Các xét nghiệm kiểu hình khác được thực hiện

là xét nghiệm khả năng vận động và nhuộm Gram Việc giảm TPH và PAH được

Trang 6

phân tích vào mỗi ngày lấy mẫu bằng sắc ký khí với đầu dò ion hóa ngọn lửa (GC-FID)

3 Kết quả

3.1 Đặc điểm cơ bản của đất bị ô nhiễm dầu thô

Các giá trị của vi khuẩn cơ sở (tổng số vi khuẩn dị dưỡng (THB) và vi khuẩn sử dụng hydrocacbon (HUB), các thông số hóa lý (Tổng nitơ, nitrat, tổng phốt pho, phốt phát và tổng hàm lượng hữu cơ), phân tích sắc ký khí của tổng số hydrocacbon dầu mỏ (TPH) và đa vòng hydrocacbon thơm (PAH) cũng như hàm lượng kim loại nặng trong mẫu đất bị ô nhiễm dầu thô được trình bày trong Bảng

2 Số lượng vi khuẩn (đối với tổng số vi khuẩn dị dưỡng (THB) và vi khuẩn sử dụng hydrocacbon (HUB) khác nhau 10 8 cfu/g và 10 6cfu/g tương ứng Điều này cho thấy thực tế là quần thể vi khuẩn tạo nên THB và HUB có khả năng sử dụng hydrocarbon dầu mỏ Nồng độ của TPH và PAH trong đất bị ô nhiễm dầu thô cũng cho thấy có quần thể vi khuẩn đang hoạt động trong đất bị ô nhiễm dầu thô sử dụng hydrocarbon trong đất bị ô nhiễm dầu thô làm nguồn carbon và năng lượng do hàm lượng thấp của chúng nồng độ trong đất bị ô nhiễm dầu thô có hàm lượng hydrocacbon dầu mỏ cao Hàm lượng hydrocarbon cơ bản trong đất bị ô nhiễm dầu thô trước khi xử lý sinh học lần lượt là 366,916 mg/kg và 215 mg/kg TPH và PAH nhưng hàm lượng này đã tăng vọt với dầu thô cho đến 4800 mg/kg TPH và 235 mg/kg PAH

Bảng 2 Đặc điểm cơ bản của đất bị ô nhiễm

Trang 7

Hình 1 _ Hồ sơ THB trong quá trình xử lý sinh học đất bị ô nhiễm dầu thô 3.2 Số lượng vi khuẩn và sự phân hủy hydrocarbon trong quá trình xử lý sinh học

Trang 8

Trong khoảng thời gian xử lý sinh học kéo dài 56 ngày đang được nghiên cứu, các

xu hướng khác nhau đã được quan sát thấy trong tất cả các thông số sinh học và hydrocacbon được phân tích trong các mẫu đất bị ô nhiễm dầu thô được sửa đổi và kiểm soát khác nhau trong các tế bào trong bát nhựa Kết quả tổng số lượng vi khuẩn dị dưỡng trong đất được trình bày trong Hình 1 trong đó ES có số lượng THB cao nhất (1,28 x 10 8 Cfu/g) đối với đất trong khi FS có số lượng thấp nhất (3,45 x 10 2 Cfu/g) đối với đất đất vào ngày thứ 56 Có sự sụt giảm chung đối với tất cả các phương pháp xử lý và đối với tất cả các phương pháp xử lý khác là A, B,

C, D, E, F và G đã giảm từ 10 8 cfu/g vào ngày 28 xuống 10 2cfu/g vào ngày thứ 56 khi thử nghiệm kết thúc Đối chứng được xử lý nhiệt (hG) không ghi nhận sự phát triển của vi khuẩn vào ngày 0 nhưng có một số vi khuẩn không đáng kể vào ngày

42 và 56 Số lượng THB không có ý nghĩa thống kê với P < 0,05 khi sử dụng ANOVA một chiều

Hình 2 biểu thị số lượng vi khuẩn sử dụng hydrocarbon (HUB) trong tất cả các phương pháp điều trị bao gồm cả việc kiểm soát trong quá trình xử lý sinh học kéo dài 56 ngày Số lượng HUB trong tất cả các phương pháp điều trị tăng từ 10 2 cfu/g vào ngày 0 lên 10 6 cfu/g vào ngày 42 và giảm xuống 10 4 cfu/g vào ngày 56 ngoại trừ FS không được sửa đổi vẫn ở mức 10 2 cfu/g ES có mức cao nhất Số lượng HUB là 2,95 x 10 6 cfu/g vào ngày 42 trong khi FS có số lượng thấp nhất là 3,20 x

10 2 cfu/g vào ngày 56 hG đối chứng được xử lý nhiệt cho thấy THB và HUB không tăng trưởng vào ngày 0, 14, 28 ,42 nhưng tăng trưởng không đáng kể vào ngày 56

Hình 2 _ Hồ sơ HUB trong quá trình xử lý sinh học đất bị ô nhiễm dầu thô

Trang 9

Hình 3 _ Hàm lượng TPH trong xử lý sinh học đất bị ô nhiễm dầu thô

Hình 4 _ Hàm lượng PAH trong xử lý sinh học đất bị ô nhiễm dầu thô

Sự phân hủy của hydrocarbon (TPH và PAH) có trong các mẫu đất bị ô nhiễm dầu thô được cải tạo bằng các nguồn dinh dưỡng khác nhau (NH 4 NO 3 ), các biện pháp kiểm soát sinh học và phi sinh học (F và hG) được thể hiện trong Hình 3và 4 Đối với tất cả các phương án xử lý vào ngày 0, tổng lượng hydrocarbon dầu mỏ (TPH) nằm trong khoảng từ 846,25 đến 4403,91 mg/kg đất bị nhiễm dầu thô Đến

Trang 10

ngày thứ 56, TPH của tất cả các lựa chọn điều trị đã giảm xuống <405 mg/kg Đến ngày thứ 56, tỷ lệ TPH bị mất của các lựa chọn điều trị khác nhau được đo bằng GC-FID là AS (63 %), BS (72 % ), CS (76 %), DS (95 %), ES (98 %), FS (59 %)

và GS được xử lý nhiệt (47 %) Phần trăm mất TPH của đất bị ô nhiễm dầu thô trong các phương án xử lý khác nhau cho thấy ES có TPH cao nhất (4403,91 mg/kg) vào ngày 0 trong khi CS ghi nhận TPH thấp nhất (93,01 mg/kg) vào ngày

56 Tuy nhiên, ES có TPH thấp nhất (93,01 mg/kg) vào ngày thứ 56 phần trăm TPH bị mất cao nhất (98 %) của đất bị nhiễm dầu thô, tiếp theo là DS (95 %) và cuối cùng là GS (47 %) Phần trăm tổn thất của TPH có ý nghĩa thống kê ở mức 95% (P <0 05) khoảng tin cậy sử dụng phép thử bội ANOVA và Duncan cho sự khác biệt đáng kể Hydrocacbon thơm đa vòng (PAH) cho tất cả các lựa chọn xử lý vào ngày 0 nằm trong khoảng từ 2,02 mg/kg đến 201,67 mg/kg Đến ngày thứ 56, PAH của tất cả các lựa chọn điều trị đã giảm xuống < 6,5 mg/kg Đến ngày thứ 56,

tỷ lệ phần trăm mất PAH của các lựa chọn điều trị khác nhau được đo bằng GC-FID là AS (98 %), BS (97 %), CS (93 %), DS (94 %), ES (96 %), FS (31 %) và GS

xử lý nhiệt (31 %) Từ CS (93 %), DS (94 %), ES (96 %), FS (31 %) và GS xử lý nhiệt (31 %) Từ CS (93 %), DS (94 %), ES (96 %), FS (31 %) và GS xử lý nhiệt (31 %) TừHình 4 , FS có PAH cao nhất (201,67 mg/kg) vào ngày 0 trong khi AS ghi nhận PAH thấp nhất (0,04 mg/kg) vào ngày 56 Tuy nhiên, AS có tỷ lệ PAH mất đi cao nhất (98 %), tiếp theo là BS ( 97 %) và cuối cùng là FS và GS (31 %)

3.3 Đặc điểm của vi khuẩn phân lập

Nhiều loại vi khuẩn đã được phân lập từ đất bị ô nhiễm dầu thô đã được sửa đổi và chưa được xử lý trong thời gian xử lý sinh học kéo dài 56 ngày Tất cả các chi vi khuẩn là từ các chi vi khuẩn được biết là có khả năng phân hủy hydrocarbon dầu

mỏ Tổng cộng có 121 vi khuẩn sử dụng hydrocarbon thu được từ đất bị ô nhiễm dầu thô, một trăm linh bảy (107) trong số đó được chỉ định danh tính tạm thời và

chi Bacillus , Proteus , Pseudomonas , Alcaligenes , Micrococcus và Acinetobacter

Mười bốn chủng vi khuẩn không thể được xác định danh tính dự kiến và được chỉ định là các chủng vi khuẩn không xác định Tần suất xuất hiện của các giống vi khuẩn được xác định trong nghiên cứu và tỷ lệ phần trăm TPH và PAH bị mất tương ứng được đưa ra trong Bảng 3 và Bảng 4

Bảng 3 Tần suất xuất hiện các giống vi khuẩn từ đất nhiễm dầu thô

Ngày đăng: 02/01/2023, 12:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w