1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thái độ của học sinh đối với môn hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi

14 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thái độ của học sinh đối với môn hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 183,73 KB
File đính kèm thái độ của HS với môn hóa học.rar (170 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC, KỸ NĂNG HỌC TẬP VÀ CHUẨN BỊ CHO KỲ THI Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra xem liệu có sự khác biệt đáng kể trong việc chuẩn bị cho môn hóa học về thái độ đ.

Trang 1

THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC, KỸ NĂNG HỌC

TẬP VÀ CHUẨN BỊ CHO KỲ THI

Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra xem liệu có sự khác biệt đáng kể trong việc chuẩn bị cho môn hóa học về thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi giữa nam và nữ, giữa học sinh nội trú và học sinh bán trú và giữa học sinh đạt thành tích thấp và cao Hai trăm mười một (211) đối tượng đã tham gia Một bảng câu hỏi được thiết kế để đo lường sự sẵn sàng trong môn hóa học liên quan đến thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi Để giải quyết các giả thuyết, phân phối tần số và thống kê mô tả khác bao gồm phương tiện, độ lệch chuẩn và tỷ lệ phần trăm đã được sử dụng Các thử nghiệm t mẫu độc lập đã được thực hiện để giải quyết các giả thuyết thứ nhất và thứ hai nhằm xác định xem có tồn tại sự khác biệt giữa các biến hay không Kết quả chỉ ra rằng có sự đồng nhất về phương sai giữa thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập

và chuẩn bị cho kỳ thi Các phát hiện cũng chỉ ra rằng sự chuẩn bị cho môn hóa học về mặt thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi là như nhau ở cả nam và nữ nhưng nam sinh tụt lại một chút so với nữ sinh về thái độ đối với hóa học Không có sự khác biệt đáng kể về sự sẵn sàng hóa học giữa các giới tính liên quan đến các biến này Các học sinh biên giới và ban ngày có sự chuẩn bị tương tự đối với môn hóa học về thái độ, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi Kết quả tiếp tục cho thấy rằng các học sinh ban ngày có sự chuẩn bị sẵn sàng

về hóa học cao hơn một chút so với học sinh nội trú Những người đạt thành tích cao hơn có thái độ tích cực hơn đối với hóa học, kỹ năng học tập tốt hơn và khả năng chuẩn bị cho kỳ thi cao hơn kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi Các phát hiện cũng chỉ ra rằng sự chuẩn bị cho môn hóa học về mặt thái độ đối với hóa học,

kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi là như nhau ở cả nam và nữ nhưng nam sinh tụt lại một chút so với nữ sinh về thái độ đối với hóa học Không có sự khác biệt đáng kể về sự sẵn sàng hóa học giữa các giới tính liên quan đến các biến này Các học sinh biên giới và ban ngày có sự chuẩn bị tương tự đối với môn hóa học về thái độ, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi Kết quả tiếp tục cho thấy rằng các học sinh ban ngày có sự chuẩn bị sẵn sàng về hóa học cao hơn một chút

so với học sinh nội trú Những người đạt thành tích cao hơn có thái độ tích cực hơn đối với hóa học, kỹ năng học tập tốt hơn và khả năng chuẩn bị cho kỳ thi cao hơn kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi Các phát hiện cũng chỉ ra rằng sự chuẩn bị cho môn hóa học về mặt thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi là như nhau ở cả nam và nữ nhưng nam sinh tụt lại một chút so với nữ sinh về thái độ đối với hóa học Không có sự khác biệt đáng kể về sự sẵn

Trang 2

sàng hóa học giữa các giới tính liên quan đến các biến này Các học sinh biên giới

và ban ngày có sự chuẩn bị tương tự đối với môn hóa học về thái độ, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi

1 Giới thiệu

Thái độ, với tư cách là cấu trúc của lĩnh vực tình cảm, đã được đưa vào diễn đàn nghiên cứu trong nhiều năm (Aiken & Aiken, 1969; Koballa & Crawley, 1985; Koballa, 1988) Thái độ đã xác định sức mạnh để dự đoán các hành vi trong tương lai như sở thích về môn học và nghề nghiệp của người học (Koballa, 1988; Osborne, Simon & Collins, 2003), và mối quan hệ tồn tại giữa thái độ và thành tích học tập (Schibeci, 1984; Shrigley, 1990; Weinburgh, 1995; Osborne & Collins, 2000) Trong phân tích tổng hợp của họ về các yếu tố liên quan đến thái độ dự đoán hành vi trong tương lai, Glasman và Albarracín (2006) đã kết luận rằng có mối tương quan giữa thái độ và hành vi trong tương lai; nghĩa là, thái độ là một tiềm năng để dự đoán sở thích trong tương lai, đặc biệt nếu có sự tương tác trực tiếp giữa người tham gia và đối tượng thái độ (tức là đối tượng liên quan đến thái

độ như bài học khoa học) Trên thực tế, các nghiên cứu kiểm tra mối tương quan giữa thái độ và thành tích học tập không mang lại kết quả nhất quán Ví dụ, Schibeci (1984) đã tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thái độ và thành tích Mặt khác, Shrigley (1990) lập luận rằng chỉ có mối quan hệ vừa phải giữa thái độ đối với khoa học và thành tựu khoa học Thêm một số nghiên cứu xin vui lòng

Các tài liệu về thái độ đã tập trung vào một loạt các khía cạnh (Osborne et al., 2003) như định nghĩa thái độ và phân biệt giữa các thuật ngữ tương tự (Kobella, 1988), xác định các đối tượng của thái độ (Spall, Dickson & Boyes, 2004), và phát triển cấu trúc thái độ (Kind, Jones & Barmby, 2007)

Bên cạnh việc xác định thái độ và các khía cạnh của thái độ, các tài liệu đề cập rộng rãi đến các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với khoa học Các cấp lớp (Hofstein, Ben-Zvi, Samuel & Tamir, 1977; Yager & Yager, 1985; Simpson & Oliver, 1990; Francis & Greer, 1999; George, 2006; Barmby và cộng sự, 2008), giới tính (Hofstein và cộng sự , 1977; Harvey & Stables, 1986; Francis & Greer, 1999; Barmby và cộng sự, 2008), thành tích (Weinburgh, 1995; Salta & Tzougraki, 2004) là một số yếu tố được nghiên cứu nhiều nhất ảnh hưởng đến thái độ của học sinh trung học đối với khoa học

Kỹ năng học tập là những kỹ năng cần thiết để hiểu và truy xuất thông tin; đặc biệt chúng là mối liên kết giữa hiểu và ghi nhớ (Al-Hilawani & Sartawi, 1997) Hoover (1989) đã liệt kê các năng lực cụ thể của các kỹ năng học tập bao gồm thu thập

Trang 3

thông tin, ghi lại thông tin, ghi lại các phản hồi phù hợp với thông tin được trình bày, định vị thông tin cần thiết, tổ chức và quản lý các hoạt động một cách hiệu quả, tổng hợp thông tin để tạo ra các mẫu phản hồi có ý nghĩa, ghi nhớ và truy xuất thông tin theo yêu cầu

Văn học tự hào về các nghiên cứu cho thấy lợi ích của việc sử dụng các kỹ năng học tập hiệu quả Al-Hilawani và Sartawi (1997) báo cáo rằng những sinh viên có điểm trung bình tốt hơn có đủ kỹ năng học tập và những sinh viên không thành công trong học tập sử dụng ít các kỹ năng học tập hơn những sinh viên đạt thành tích cao Hoover (1989) chỉ ra rằng các kỹ năng và thói quen học tập tốt là những công cụ hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập để thu nhận và lưu giữ thông tin mới và rất cần thiết cho thành tích học tập thành công của học sinh Jones, Slate và Kyle (1992) báo cáo rằng những sinh viên đạt thành tích cao có kỹ năng học tập tốt hơn những sinh viên đạt thành tích thấp trong các lĩnh vực quản lý thời gian, kỹ thuật học tập và thái độ đối với việc học

DiVesta và Moreno (1993) đã xem các kỹ năng học tập như là sự bù đắp cho những hạn chế về nhận thức trong hệ thống xử lý thông tin và báo cáo rằng có một mối tương quan đáng kể giữa GPA và các hoạt động theo dõi khả năng hiểu, điều này lại là một dấu hiệu cho thấy những học sinh có GPA cao thực hành nhận thức

về bản thân, lập kế hoạch có mục đích và tự điều chỉnh hoạt động nhiều hơn so với sinh viên có điểm trung bình thấp Các nghiên cứu về học tập tự điều chỉnh kiểm tra quá trình này dưới dạng các kỹ năng nhận thức có thể dạy được khi học sinh học cách suy nghĩ về cách họ học (Paris & Winograd, 2001)

Mặc dù các hành vi học tập tích cực rất quan trọng đối với thành tích của học sinh, nhưng kiến thức về các hành vi học tập thực tế và các kỹ thuật được sử dụng lại khá hạn chế (Elliot et al, 2002) Tuy nhiên, các học giả đồng ý rằng học sinh thường sử dụng nhiều kỹ thuật học tập khác nhau (Allgood et al, 2000), trong khi các kỹ thuật thực tế được sử dụng hiếm khi được ghi lại (King 1992; Stanley et al., 1999; Van Meter et al, 1994; Wood et al .1999)

Phẩm chất chủ động tự điều chỉnh của người học và khả năng tự tạo động lực giúp phân biệt họ với các đồng nghiệp của họ Nghiên cứu cho thấy rằng những sinh viên tự điều chỉnh tham gia nhiều hơn vào việc học của họ Những người học này thường ngồi ở phía trước lớp học (Labuhn, Zimmerman, & Hasselhorn, 2010), tự nguyện đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi (Elstad & Turmo, 2010) và tìm kiếm các nguồn bổ sung khi cần để nắm vững nội dung (Clarebout, Horz, & Schnotz, 2010) Quan trọng nhất, những người học tự điều chỉnh cũng vận dụng môi trường

Trang 4

học tập của họ để đáp ứng nhu cầu của họ (Kolovelonis, Goudas, & Dermitzaki, 2011)

Ví dụ, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người học tự điều chỉnh có nhiều khả năng tìm kiếm lời khuyên hơn (Clarebout và cộng sự, 2010) và thông tin (De Bruin và cộng sự, 2011) và theo đuổi môi trường học tập tích cực (Labuhn và cộng sự, 2010) hơn so với các bạn đồng trang lứa thể hiện ít khả năng tự điều chỉnh hơn trong lớp học Do sự tháo vát và sự tham gia của họ, không có gì ngạc nhiên khi những phát hiện từ các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng những người học tự điều chỉnh cũng thực hiện tốt hơn các bài kiểm tra học thuật và các thước đo

về thành tích và thành tích của học sinh (Schunk & Zimmerman, 2007; Zimmerman, 2008)

Để thúc đẩy SRL trong lớp học, giáo viên phải dạy học sinh các quy trình tự điều chỉnh để tạo điều kiện học tập Các quy trình này thường bao gồm: thiết lập mục tiêu (Winne & Hadwin, 1998; Wolters, 1998), lập kế hoạch (Zimmerman, 2004; Zimmerman & Risemberg, 1997), tự tạo động lực (Corno, 1993; Wolters, 2003; Zimmerman, 2004), sự chú ý kiểm soát (Harnishferger, 1995; Kuhl, 1985; Winne, 1995), sử dụng linh hoạt các chiến lược học tập (van de Broek, Lorch, Linderholm,

& Gustafson, 2001; Winne, 1995), tự giám sát (Butler & Winne, 1995; Carver & Scheier, 1990), tìm kiếm sự trợ giúp thích hợp (Butler, 1998; Ryan, Pintrich, & Midgley, 2001), và tự đánh giá (Schraw & Moshman, 1995)

Việc tạo môi trường SRL cho nhiều nền tảng, kỹ năng và tính cách phức tạp và đa dạng mà nhiều học sinh bao gồm cũng đặt ra những thách thức đối với những giáo viên giàu kinh nghiệm nhất May mắn thay, rất nhiều tài liệu giới thiệu nhiều chiến lược giảng dạy hiệu quả để khuyến khích sự tự điều chỉnh trong lớp học (Andreassen & Braten, 2011; Boekaerts & Corno, 2005; Cleary & Zimmerman, 2004; De Corte, Mason, Depaepe, & Verschaffel , 2011; Dignath & Buettner, 2008; Graham, Harris & Mason, 2004; Souvignier & Mokhlesgerami, 2006; Stoeger & Ziegler, 2011; Tonks & Taboada, 2011) Một số chiến lược này bao gồm hướng dẫn và làm mẫu trực tiếp, thực hành độc lập và có hướng dẫn, hỗ trợ và phản hồi xã hội, và thực hành phản xạ

2 Phương pháp

Nghiên cứu này đã thử nghiệm ba giả thuyết vô hiệu:

Trang 5

một HO : Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ chuẩn bị cho môn hóa học

xét về thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi giữa nam và nữ

b HO: Không có sự khác biệt đáng kể về sự chuẩn bị cho môn hóa học xét về thái

độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi giữa học sinh nội trú

và học sinh bán trú

c HO: Không có sự khác biệt đáng kể về thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập

và chuẩn bị cho kỳ thi giữa học sinh đạt thành tích thấp và cao trong việc chuẩn bị cho môn hóa học

2.1 Mẫu

Những người được hỏi là học sinh trung học từ tất cả các lớp (từ mẫu 1 đến mẫu 4)

từ một trường công lập ở Kenya có số lượng học sinh là 689 học sinh Do mẫu được lấy từ các nhóm đã tồn tại nên thiết kế lấy mẫu đủ điều kiện để lấy mẫu phân tầng Thông qua lấy mẫu có chủ đích, người ta đảm bảo rằng các tầng lớp nhân dân (tất cả các lớp) được đại diện đầy đủ trong mẫu Cỡ mẫu hợp lệ bao gồm 211 đối tượng trong đó 111 nam và 100 nữ Trong số tất cả những người được hỏi trong mẫu, 56 người ở dạng một, 51 ở dạng hai, 54 ở dạng ba và 50 ở dạng bốn Đa số (173 học sinh) trong độ tuổi từ 15 đến 18 và một số ít dưới 15 (14 học sinh) và trên

18 (24 học sinh) tuổi

2.2 nhạc cụ

Với mục đích của cuộc khảo sát này, một bảng câu hỏi được thiết kế để đo lường

sự chuẩn bị cho môn hóa học liên quan đến thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi Phần đầu tiên của bảng câu hỏi được thiết kế để lấy thông tin nhân khẩu học từ các sinh viên Phần này của bảng câu hỏi thu thập thông tin của học sinh về giới tính, là học sinh nội trú hay bán trú và điểm của học sinh trong kỳ thi hóa học học kỳ trước Phần thứ hai của bảng câu hỏi bao gồm 12 mục đánh giá thái độ của học sinh đối với môn hóa học, 19 mục tìm hiểu thông tin về

kỹ năng học tập và 12 mục đánh giá sự chuẩn bị cho kỳ thi

Mỗi người trả lời được hướng dẫn đọc các câu phát biểu trong phần một và đánh dấu vào trong ngoặc trước câu trả lời phù hợp nhất cho câu hỏi được hỏi Trong thang đo bốn likert; 1- Không đồng ý, 2- Có xu hướng không đồng ý, 3- Có xu hướng đồng ý và 4- Đồng ý, người trả lời được yêu cầu đánh dấu vào ô phù hợp nhất với quan điểm của họ trong bốn cột

Trang 6

Tổng số mục được sử dụng trong bảng câu hỏi là 47 và được chia thành hai loại,

30 câu khẳng định tích cực và 17 câu khẳng định tiêu cực, tất cả đều được sử dụng

để thu thập thông tin từ người trả lời Do đó, các tuyên bố phủ định đã được ghi lại,

do đó, đưa ra các giá trị 4, 3, 2 và 1 thay vì 1, 2, 3 và 4 trước khi thực hiện xử lý bằng SPSS ngoài việc lấy các bảng tần số

Sử dụng 47 mục, độ tin cậy của bảng câu hỏi được tìm thấy là 0,901 với kiểm tra Cronbach dựa trên giá trị alpha là 0,05, ngụ ý rằng xác suất không mắc lỗi loại 1 là 95%

2.3 Phân tích dữ liệu

Tất cả các phân tích được thực hiện bằng Gói thống kê cho khoa học xã hội (SPSS) Để giải quyết các giả thuyết, phân phối tần số và thống kê mô tả khác bao gồm phương tiện, độ lệch chuẩn và tỷ lệ phần trăm đã được sử dụng Thống kê mô

tả mô tả tính năng cơ bản của dữ liệu được nghiên cứu trong các bản tóm tắt đơn giản (Vogt et al., 2014) Các thử nghiệm t mẫu độc lập được thực hiện đối với dữ liệu được sử dụng để giải quyết các giả thuyết thứ nhất và thứ hai vì cần phải xác định xem có tồn tại sự khác biệt giữa các biến hay không Thử nghiệm t mẫu độc lập so sánh sự khác biệt giữa hai mẫu độc lập (Bùi, 2009) Đối với giả thuyết thứ

ba, Hệ số tương quan thời điểm của sản phẩm Pearson được xác định để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến

3 Kết quả và thảo luận

HO : Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ chuẩn bị cho môn hóa học xét về

thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi giữa nam và nữ

Để kiểm tra thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi như các khía cạnh của 'sự chuẩn bị về hóa học', học sinh trả lời các câu theo định dạng thang đo likert có thang đánh giá 4 điểm được dán nhãn; 1-không đồng ý, 2-không đồng ý, 3-đồng ý và 4-đồng ý Bài kiểm tra mẫu độc lập được thực hiện để xác định xem có sự khác biệt đáng kể giữa sự chuẩn bị của nam và nữ đối với hóa học liên quan đến thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi hay không Các kết quả được thể hiện trong Bảng 1 và Bảng 2 và được tóm tắt trong Bảng 3

Bảng 1.

Trang 7

Ban 2.

Bàn số 3.

Trong Bảng 2 , bài kiểm tra của Levene về sự bằng nhau của phương sai có các giá trị Sig là 0,300 đối với 'thái độ đối với hóa học', 0,594 đối với 'kỹ năng học tập' và 0,586 đối với 'sự chuẩn bị cho kỳ thi' lớn hơn 0,05 (giá trị alpha) Do đó, các giả thuyết vô giá trị để kiểm tra tính đồng nhất, 'có sự đồng nhất của phương sai' được chấp nhận Điều này khẳng định rằng các nhóm mẫu được lấy từ các quần thể có phương sai bằng nhau (Quinn & Keogh, 2002)

Bảng 3 ở trên cho thấy rằng giá trị p cho ba khía cạnh của sự chuẩn bị sẵn sàng cho hóa học cao hơn giá trị alpha là 0,05 (P=0,694, P=0,689, P=0,598), có nghĩa là giả thuyết vô hiệu 'không có sự khác biệt đáng kể trong việc chuẩn bị hóa học về thái

Trang 8

độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi giữa nam và nữ' được chấp nhận Nói cách khác, sự chuẩn bị của học sinh nam đối với hóa học về thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi là giống như của học sinh

nữ Giá trị trung bình của thái độ đối với hóa học ở trẻ em gái cao hơn một chút so với trẻ em trai Nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Những phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của Satta và Tzouglaki (2004) không tìm thấy sự khác biệt giữa thái độ của con trai và con gái đối với hóa học, nhưng khác ở chỗ Satta và Tzouglaki (2004) quan sát thấy xu hướng của con gái là tiêu cực hơn những cậu bé

Những phát hiện này mâu thuẫn với kết quả của nhiều nghiên cứu được thực hiện trong thời gian gần đây (Nyamba & Mwajombe, 2012; Can, 2012; Cheung, 2007) Mặc dù nhiều nghiên cứu đồng ý rằng giới tính là một yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với hóa học (Nyamba và Mwajombe 2012; Can, 2012; Cheung, 2012), những phát hiện của họ khác nhau ở chỗ một số nghiên cứu cho thấy các cô gái có thái độ tích cực hơn (Cheung 2007) Các nghiên cứu khác cho thấy các em gái hơi tụt hậu so với các em trai về thái độ đối với hóa học (Nyamba & Mwajombe, 2012) nhưng cuộc khảo sát này cho thấy các em trai tụt lại một chút so với các em gái về thái độ đối với hóa học Cheung (2007) trong một nghiên cứu về tác động tương tác giữa cấp lớp và giới tính đã phát hiện ra rằng nam giới cho biết họ thích các bài

học lý thuyết hóa học hơn so với các bạn nữ Trong một nghiên cứu về Chênh lệch

giới trong quan niệm về bản thân, thái độ và nhận thức đối với môn Vật lý và Hóa học , sinh viên nam có thái độ tích cực hơn đối với môn Vật lý so với sinh viên nữ

mặc dù sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê và điểm thái độ trung bình của cả hai nhóm cho thấy những sinh viên này có thái độ tích cực đối với môn Vật lý Vật

lý và Hóa học (Inzahuli, Vai trò & Makewa, 2012)

Bảng 4.

Bảng 5.

Trang 9

Can (2012) đã thực hiện một nghiên cứu tương tự như nghiên cứu của Cheung (2007), nhưng nhận thấy rằng học sinh nữ thể hiện sự yêu thích các bài học hóa học cao hơn so với học sinh nam Trong cả hai trường hợp, những nghiên cứu này đều có kết quả tương tự, đó là thái độ của cả nam và nữ đối với hóa học ở mức trung bình nhẹ, kết quả khảo sát này đồng tình với phát hiện của họ Xu hướng thái

độ đối với hóa học liên quan đến giới tính thay đổi theo các yếu tố có thể được xác định trong một nghiên cứu khác

Tương tự, giá trị p cho các kỹ năng học tập (p=0,689) và chuẩn bị cho kỳ thi (p=0,598) ở mức trung bình trở lên, cho thấy rằng, không có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị hóa học giữa các giới tính liên quan đến các biến này

HO: Không có sự khác biệt đáng kể về sự chuẩn bị cho môn hóa học xét về thái độ

đối với hóa học, kỹ năng học tập và sự chuẩn bị cho kỳ thi giữa học sinh nội trú và học sinh bán trú Các kết quả cho kiểm định t độc lập nằm trong Bảng 4 và Bảng

5 và được tóm tắt trong Bảng 6

Các giá trị sig của Levenes như được chỉ ra trong Bảng 5 là 0,715 đối với 'thái độ đối với hóa học', 0,762 đối với 'kỹ năng học tập' và 0,970 đối với 'sự chuẩn bị cho

kỳ thi', tất cả đều lớn hơn giá trị tới hạn là 0,05 Hàm ý là có sự đồng nhất của phương sai

Bảng 6.

Trang 10

Trong Bảng 6, tất cả các giá trị p (P=.673, P=890, P=878) đều lớn hơn 0,05 do đó giả thuyết không được chấp nhận Các học sinh biên giới và ban ngày có sự chuẩn

bị tương tự đối với môn hóa học về thái độ, kỹ năng học tập và chuẩn bị cho kỳ thi Tuy nhiên, học sinh ban ngày có sự chuẩn bị tốt hơn một chút về môn hóa học (µ=3,5855) so với học sinh nội trú (µ=3,5554) Trước đây trong nghiên cứu này,

nó đã được tiết lộ rằng các sinh viên có một vấn đề đáng chú ý với việc hỏi ý kiến giáo viên của họ Mặc dù học sinh nội trú dành phần lớn thời gian với giáo viên và các nhân viên hỗ trợ khác, nhưng các em có thể thiếu sự khuyến khích ở trường nhiều như học sinh bán trú ở nhà Như Azubuike (2011) đã phát hiện ra trong một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với các môn học hướng nghiệp, cha mẹ và người giám hộ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định thái độ của học sinh đối với một môn học

HO: Không có sự khác biệt đáng kể về thái độ đối với hóa học, kỹ năng học tập và

chuẩn bị cho kỳ thi giữa học sinh đạt thành tích thấp và cao trong việc chuẩn bị cho môn hóa học

Trong cuộc khảo sát này, thành tích được xác định dựa trên điểm số của học sinh trong các bài kiểm tra cuối học kỳ một môn hóa học

Bảng 7 và Bảng 8 đưa ra kết quả của các bài kiểm tra t trên cơ sở thành tích

Bảng 7.

Ngày đăng: 02/01/2023, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w