1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí đánh giá lòng tốt của học sinh phổ thông việt nam

11 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Khoa Học Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Lòng Tốt Của Học Sinh Phổ Thông Việt Nam
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 86,3 KB
File đính kèm đánh giá lòng tốt.rar (83 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ LÒNG TỐT CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG VIỆT NAM Lòng nhân ái là giá trị cốt lõi, làm nền tảng cho việc giáo dục các phẩm chất đạo đức khác của con người Chương trình.

Trang 1

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ LÒNG TỐT CỦA

HỌC SINH PHỔ THÔNG VIỆT NAM

Lòng nhân ái là giá trị cốt lõi, làm nền tảng cho việc giáo dục các phẩm chất đạo đức khác của con người Chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam tiếp tục định hướng phát triển các giá trị truyền thống, đạo đức dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại đáp ứng yêu cầu cơ bản, hiện đại, phù hợp với lứa tuổi và tâm lý học sinh Vì vậy, “lòng nhân ái” cần được hình thành và phát triển ở học sinh Việt Nam Bên cạnh đó, việc nghiên cứu xây dựng khung tiêu chí lòng nhân ái để phục

vụ thực tiễn giáo dục và đánh giá giáo dục lòng nhân ái là rất quan trọng Trên cơ

sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lòng nhân ái, biểu hiện của lòng nhân

ái trong quan hệ giữa người với người, bài viết đề xuất khung tiêu chí đánh giá lòng nhân ái của học sinh trung học Việt Nam hiện nay Khung bao gồm năm nhóm đặc điểm: “Yêu thương và chia sẻ”; Thông cảm và thương xót; Bao dung và tha thứ; “Đoàn kết, trách nhiệm”; “biết ơn và tôn trọng” với 25 hành vi tương đương Đó sẽ là cơ sở để giáo dục và tự giáo dục, đánh giá và tự đánh giá kết quả giáo dục lòng nhân ái cho học sinh phổ thông đáp ứng bối cảnh xã hội hiện nay

1 Giới thiệu

I.1 Lòng nhân ái là giá trị phổ quát đưa con người đến một cuộc sống tốt đẹp Đối

với Việt Nam, lòng nhân ái và tình yêu thương dành cho người khác đã được thể hiện kể từ khi 15 bộ lạc cổ đại thống nhất thành một quốc gia duy nhất có tên là Văn Lang Đó là giá trị của con người Việt Nam được hình thành trong hàng nghìn năm chiến đấu với thiên tai, địch họa để tạo nên sự gắn bó cộng đồng, đùm bọc lẫn nhau Các bằng chứng khoa học cho thấy lòng tốt đã được các nhà Nho đề cập từ

xa xưa và vẫn được coi trọng ở nhiều nơi trên thế giới Mặc dù cách hiểu về lòng tốt giữa phương Đông và phương Tây có khác nhau nhưng gần đây hai bên trên thế giới đã xích lại gần nhau hơn ở điểm: lòng tốt là bản chất của con người là làm điều tốt; nó có thể được giáo dục Lòng tốt không hữu hình, chung chung mà thể hiện ở những việc làm tốt, những hành vi có lương tâm với người khác1 2 3 4 5 6 Ngày nay, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, thế giới trở nên phẳng hơn, loài người được đặt trong một nền văn minh được vận hành bởi công nghệ Vì vậy việc quan tâm và giáo dục những phẩm chất làm người càng quan trọng hơn bao giờ hết Hầu hết các quốc gia đều hướng tới mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu xã hội hiện tại và tương lai Vì vậy, “ý thức tự do”, “lòng nhân ái”,

“tinh thần sáng tạo” rất được quan tâm như F Rabelais đã từng nói “ Tri thức mà không có lương tâm chẳng là gì ngoài sự tàn lụi của tâm hồn” [1 ; tr.7]

Trang 2

I.2 Trong thế kỷ 21, khối lượng tri thức nhân loại ngày càng gia tăng với tốc độ

chưa từng có, nhưng vẫn còn đó những bất ổn toàn cầu và khu vực, những bất trắc khó lường đối với mỗi cá nhân và nhân loại như: xung đột chủng tộc, khủng bố, suy thoái xã hội, tệ nạn xã hội v.v làm những người có lương tâm vô cùng nhức nhối

Học sinh phổ thông đang ở độ tuổi đang hình thành tính cách, hình thành thế giới quan, giá trị con người, nhân cách và sẽ sớm gia nhập lực lượng lao động Ở độ tuổi này, mối quan hệ của học sinh với những người khác phong phú hơn vì sự tương tác xã hội của chúng được mở rộng Đối với một bộ phận học sinh phổ thông Việt Nam khi có cơ hội tham gia thường xuyên các hoạt động xã hội, tình nguyện thì những biểu hiện của lòng nhân ái được thể hiện rõ nét, chân thực như: tình cảm yêu thương, lòng vị tha, cảm thông với mọi người Có rất nhiều tấm gương học sinh giúp đỡ, chia sẻ với nhau trong học tập và cuộc sống: một học sinh cõng bạn đến trường hàng ngày; một học sinh khác liều mạng cứu người khác; hoặc những người khác đã cứu trẻ nhỏ khỏi chết đuối; nhiều người chăm sóc người già neo đơn trong cộng đồng, xoa dịu nỗi đau thể xác và tinh thần cho những em nhỏ mắc bệnh hiểm nghèo bằng những bài hát, những cái ôm ấm áp Tuy nhiên, trong học đường vẫn còn những hiện tượng lệch chuẩn như: một số học sinh vô cảm khi dùng bạo lực với bạn bè; phân biệt; không hợp tác khi cần thiết; không tôn trọng đồng nghiệp của họ; vô lễ, xúc phạm thầy cô; không xấu hổ khi phạm sai lầm hoặc nói dối, v.v.1 3 7 8 Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, giáo dục lòng nhân ái đạt kết quả tốt sẽ giúp học sinh giảm căng thẳng, bạo lực trong học đường; tăng cường tự đánh giá, hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau giữa các sinh viên; nâng cao lòng biết ơn đối với người khác; giúp học sinh tập trung tốt hơn, vui vẻ hơn khi đến trường và cải thiện kết quả học tập12 , , ,

I.3 Coi lòng nhân ái là phẩm chất cao quý nhất mà mỗi con người được ban tặng

khi sinh ra cũng như có khả năng được vun đắp, gìn giữ và phát huy trong suốt cuộc đời, sự cần thiết của việc giáo dục lòng nhân ái cho học sinh Việt Nam luôn được thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục Việt Nam và Đào tạo Mới đây nhất, dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa thông qua ngày 27/7/2017 sau nhiều lần chỉnh sửa Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông tiếp tục hướng vào phát triển các giá trị truyền thống, đạo đức, tinh hoa văn hóa nhân loại; đáp ứng yêu cầu cơ bản, hiện đại, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Theo đó, “lòng tốt” là phẩm chất thứ hai trong năm phẩm chất cần hình thành và phát triển ở học sinh Việt Nam Giáo dục lòng nhân ái là cơ sở để giáo

Trang 3

dục các phẩm chất khác, từ tri thức đến nhân văn, lòng biết ơn, sự vâng lời Đối với bậc phổ thông, mục tiêu là giúp học sinh hình thành các phẩm chất, năng lực của người lao động, nhân cách của một công dân, ý thức về quyền nghĩa vụ đối với

Tổ quốc trên cơ sở duy trì, bồi dưỡng, hình thành các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp học dưới: yêu chuộng hòa bình; có lòng thương xót người khác, vị tha, chia sẻ không vụ lợi v.v nhân cách công dân, ý thức về quyền và nghĩa vụ đối với

Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và hình thành các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở bậc học thấp: yêu chuộng hòa bình; có lòng thương xót người khác, vị tha, chia sẻ không vụ lợi v.v nhân cách công dân, ý thức về quyền và nghĩa vụ đối với

Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và hình thành các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở bậc học thấp: yêu chuộng hòa bình; có lòng thương xót người khác, vị tha, chia sẻ không vụ lợi v.v.10 Điều này cho thấy việc nghiên cứu xây dựng tiêu chí làm nội dung giáo dục lòng nhân ái là cần thiết Đồng thời gợi mở phương hướng

có biện pháp hữu hiệu để giáo dục lòng nhân ái cho học sinh THPT

2 Nội dung

2.1 Cơ sở lý luận để đề xuất tiêu chí đánh giá lòng tốt của học sinh trung học 2.1.1 Định nghĩa lòng tốt và giải quyết các biểu hiện của lòng tốt

Theo Từ điển Oxford, lòng tốt được định nghĩa là "một phẩm chất hành vi: thân thiện, hào phóng Một hành động tốt" Theo Từ điển Cambridge, lòng tốt được định nghĩa là "một phẩm chất hành vi: tình yêu, lòng tốt, thiện chí Một hành động tốt"

Theo Từ điển Tiếng Việt , “Lòng tốt là lòng thương yêu con người, sẵn sàng giúp

đỡ người khác khi cần thiết” Lòng tốt tương đương với “từ thiện”, “nhân từ” và ngược lại với “vô đạo đức”11

Qua tham khảo một số tài liệu trong nước và quốc tế1 5 6 7 9 12 , ta có thể thấy các định nghĩa về lòng tốt không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, giữa các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất về bản chất của lòng tốt: đó là tiêu chí đầu tiên để đánh giá một con người; nền tảng để giáo dục các phẩm chất đạo đức khác cho con người; sự cần thiết phải xây dựng một xã hội văn minh, nhân văn; sợi dây bền chặt kết nối mọi người với nhau; giá trị tốt đẹp nhất, quý giá nhất cần nuôi dưỡng, lưu giữ trong mỗi con người

Đối với những biểu hiện của lòng nhân ái, chúng ta có thể tìm thấy những đặc

điểm chung thể hiện ở các phẩm chất nhân cách như: lòng yêu thương người

khác (quan tâm đến mọi người, thương xót những mảnh đời bất hạnh, làm việc

Trang 4

thiện cho người khác một cách hồn nhiên v.v ); lòng vị tha, bao dung (không định

kiến; sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của người khác; yêu cái chính đáng; ghét cái

ác ); thông cảm và thương xót (cùng thấu hiểu cảm xúc và hoàn cảnh của người khác; đặt mình vào vị trí của người khác; đồng cảm với người khác v.v.); có trách

nhiệm (làm việc thiện không vụ lợi; không để người khác hiểu lầm; bảo vệ quyền

lợi chính đáng của người dân ); đoàn kết, quan tâm và chia sẻ(phối hợp hoàn

thành công việc được giao; không bè phái, không tranh giành, giúp đỡ người khó

khăn ); lòng biết ơn, tôn trọng và tin tưởng (thừa nhận thiện ý của người khác, tin

tưởng người khác, tôn trọng ý kiến của người khác, chấp nhận mặt tốt và mặt xấu của người khác; hiểu tính cách của người khác, v.v.)2 9 Những biểu hiện trên sẽ được tham khảo để xây dựng khung tiêu chí về lòng nhân ái của học sinh phổ thông Việt Nam

Từ kết quả rút ra từ việc nghiên cứu các tài liệu tham khảo có liên quan, có thể đưa

ra một định nghĩa về lòng tốt như sau: Lòng tốt là một nhân cách tổng quát khiến con người tin vào sự chính trực của con người, luôn nghĩ đến việc làm điều tốt, tin rằng con người có thể được giáo dục để trở thành tốt Lòng tốt của một người có thể thể hiện ở sự yêu thương, chia sẻ của họ; cảm thông, xót thương; tha thứ, bao dung; đoàn kết, có trách nhiệm; lòng biết ơn, sự kính trọng trong quan hệ với mọi người xung quanh

2.1.2 Định Nghĩa Học Sinh Trung Học

Học sinh trung học phổ thông là những người trong độ tuổi từ 15 đến 18 đang học trung học phổ thông, được học tập chính quy tại nhà trường, thực hiện nhiệm vụ giáo dục theo kế hoạch và nội quy giáo dục của nhà trường, phù hợp với phẩm chất đạo đức, lối sống của học sinh.13

Dưới đây là một số đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh phổ thông ở Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến kết quả giáo dục lòng nhân ái trong nhà trường:

- Vai trò xã hội của lứa tuổi này đã thay đổi căn bản và điều này được thể hiện ở vai trò độc lập và trách nhiệm rõ ràng hơn đối với gia đình (kinh tế gia đình, lựa chọn nghề nghiệp tương lai…) Nhiều người trong số họ có thu nhập và có tiếng nói đối với một số vấn đề của gia đình họ

- Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp quy định (quyền làm việc, bầu cử, thực hiện nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Từ 18 tuổi,

Trang 5

công dân có trách nhiệm đối với tổ quốc, dân tộc, cộng đồng quốc tế và mọi hành động của họ phải tuân theo pháp luật) Các em phải nhận thức được sự cần thiết của việc nhận thức, rèn luyện và tự đánh giá các phẩm chất, năng lực nhân cách của mình không chỉ ở hiện tại mà cả trong tương lai

- Tích cực tìm kiếm bản sắc riêng với mục đích xã hội Ngoài việc học tập, chọn nghề, học sinh có nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội tùy theo sở thích, sở trường, điều kiện cụ thể (các nhóm tình nguyện đã giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn

và các em thiếu nhi Trong các nhóm này có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Đảng đóng một vai trò quan trọng đối với hầu hết học sinh ở lứa tuổi này) Việc học sinh trung học tham gia các hoạt động xã hội làm phong phú vốn kinh nghiệm và đời sống nội tâm của các em, có tác động tích cực đến sự hình thành lòng nhân ái và thiện chí (chia sẻ, tôn trọng, có trách nhiệm, tôn trọng lương tâm và đồng cảm) Cùng với việc hình thành những phẩm chất tâm lý tích cực nêu trên,

Một số nghiên cứu gần đây về biểu hiện của một số phẩm chất như “hợp tác”, “tôn trọng”, “tinh thần trách nhiệm”, “đồng cảm, chia sẻ” ở học sinh THPT cho thấy, đa

số học sinh nhận thức và có thái độ đúng đắn về những giá trị này Nhưng biểu hiện hành vi còn hạn chế so với mong muốn: một bộ phận học sinh trong mẫu chưa thực sự tích cực, chưa thường xuyên làm theo suy nghĩ của mình Chẳng hạn, học sinh tôn trọng, chấp nhận sở thích, ý kiến của bạn bè nhưng không dám kể lỗi với bạn bè, không muốn bị phê bình, không quan tâm đến nỗi buồn của người khác chỉ

vì không muốn chịu thiệt thòi Họ cũng không dám bênh vực những việc làm chân chính của bạn bè v.v.8 14

2.1.3 Định nghĩa giáo dục lòng tốt cho học sinh trung học

Giáo dục lòng nhân ái cho học sinh THPT là quá trình tác động có mục tiêu được nhà trường hoạch định đến học sinh trong độ tuổi từ 15 đến 18 đang theo học tại các trường THPT nhằm hình thành ở học sinh tư tưởng yêu thương, chia sẻ , thái độ và hành vi cảm thông , bao dung , đoàn kết và có trách nhiệm , biết ơn và tôn trọng người khác bằng các biện pháp thích hợp.

Lòng tốt có nội dung rất rộng vì nó bao hàm toàn bộ hệ thống quan hệ của một cá nhân với những người khác Thực chất, giáo dục lòng nhân ái chính là giáo dục các mối quan hệ tử tế bởi nó được biểu hiện, phát triển và phát huy thông qua các mối quan hệ giữa con người với nhau Để giáo dục lòng nhân ái cần chỉ ra những biểu hiện của nó bởi giáo dục lòng nhân ái không thể thực hiện một cách chung chung

mà phải thông qua việc giáo dục những phẩm chất nhân cách thông qua những

Trang 6

hành vi cụ thể Khung tiêu chí và biểu hiện của lòng nhân ái sẽ là công cụ để rà soát nhu cầu, đánh giá kết quả thực chất và tổ chức giáo dục phù hợp với học sinh phổ thông Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tư liệu văn học trong nước có liên quan, học thuyết hướng thiện của Mạnh Tử và những đặc điểm tâm lý

cơ bản của học sinh phổ thông, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về lòng nhân ái của học sinh THPT để làm tiêu chí xác định các biểu hiện như nội dung giáo dục lòng nhân ái Theo đó, lòng tốt của học sinh THPT sẽ chỉ giới hạn trong một số phẩm chất cốt lõi và biểu hiện của những phẩm chất đó trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, người thân dưới dạng hành vi liệt kê Đây là những yêu cầu đầu ra của năng lực thể hiện lòng nhân ái ở sinh viên, bởi như đã nói ở phần đầu, triết lý

về cái thiện, lòng nhân ái được thể hiện trước hết ở những việc làm tử tế Điều này

có nghĩa là học sinh không chỉ hiểu và tin vào những điều đó, mà còn có nhu cầu lĩnh hội và thể hiện bản thân hàng ngày trong mối quan hệ với người khác lòng tốt của học sinh THPT sẽ chỉ giới hạn trong một số phẩm chất cốt lõi và biểu hiện của những phẩm chất đó trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, người thân dưới dạng hành

vi liệt kê Đây là những yêu cầu đầu ra của năng lực thể hiện lòng nhân ái ở sinh viên, bởi như đã nói ở phần đầu, triết lý về cái thiện, lòng nhân ái được thể hiện trước hết ở những việc làm tử tế Điều này có nghĩa là học sinh không chỉ hiểu và tin vào những điều đó, mà còn có nhu cầu lĩnh hội và thể hiện bản thân hàng ngày trong mối quan hệ với người khác lòng tốt của học sinh THPT sẽ chỉ giới hạn trong một số phẩm chất cốt lõi và biểu hiện của những phẩm chất đó trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, người thân dưới dạng hành vi liệt kê Đây là những yêu cầu đầu ra của năng lực thể hiện lòng nhân ái ở sinh viên, bởi như đã nói ở phần đầu, triết lý về cái thiện, lòng nhân ái được thể hiện trước hết ở những việc làm tử

tế Điều này có nghĩa là học sinh không chỉ hiểu và tin vào những điều đó, mà còn

có nhu cầu lĩnh hội và thể hiện bản thân hàng ngày trong mối quan hệ với người khác như đã nói ở phần đầu, triết lý về cái thiện, về lòng nhân ái được thể hiện trước hết ở những việc làm tốt Điều này có nghĩa là học sinh không chỉ hiểu và tin vào những điều đó, mà còn có nhu cầu lĩnh hội và thể hiện bản thân hàng ngày trong mối quan hệ với người khác như đã nói ở phần đầu, triết lý về cái thiện, về lòng nhân ái được thể hiện trước hết ở những việc làm tốt Điều này có nghĩa là học sinh không chỉ hiểu và tin vào những điều đó, mà còn có nhu cầu lĩnh hội và thể hiện bản thân hàng ngày trong mối quan hệ với người khác

2.1.4 Định nghĩa tiêu chí và tiêu chí đánh giá lòng tốt của học sinh trung học

Trang 7

Theo từ điển của “Nhà tâm lý học thực tiễn” (X.IU Golovin, 2001),

tiêu chí trên là dấu hiệu để người ta đánh giá, định nghĩa, phân loại một sự vật nào

đó.2

Từ đó có thể hiểu, tiêu chí lòng nhân ái của học sinh trung học chính là những dấu hiệu, trên cơ sở đó nhận diện, đánh giá mức độ biểu hiện của các phẩm chất đạo

đức tương ứng, đó là: yêu thương, chia sẻ; khoan dung và tha thứ ; thông cảm và

thương xót ; đoàn kết , có trách nhiệm, biết ơn và tôn trọng mọi người xung quanh

2.2 Cơ sở thực tiễn của các chuẩn mực về lòng nhân ái của học sinh THPT 2.2.1 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về các tiêu chí và biểu hiện cơ bản của lòng nhân ái

Để có những tài liệu khách quan, khoa học trong việc xây dựng tiêu chí lòng nhân

ái của học sinh THPT, ngoài việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát giáo viên và học sinh THPT đã được tiến hành Mục đích khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về lòng tốt, những biểu hiện của lòng tốt và vai trò của giáo dục lòng tốt trong việc phát triển nhân cách học sinh Phương pháp được sử dụng là Viết điều tra và Phân tích toán học Mẫu nghiên cứu gồm 27 giáo viên đang giảng dạy và 88 học sinh đang học tại các trường THPT trên địa bàn Hà Nội Các mẫu phản hồi được thiết kế cho giáo viên

và học sinh khác nhau Có ba câu hỏi được hỏi ở dạng câu hỏi mở:

Câu 1: Yêu cầu những người được khảo sát viết suy nghĩ/quan niệm của họ về lòng tốt?

Câu 2: Yêu cầu mọi người liệt kê những biểu hiện/biểu hiện của một người có lòng nhân ái?

Câu 3: Đề nghị anh (chị) suy nghĩ về ý nghĩa của lòng nhân ái và cách giáo dục lòng nhân ái cho học sinh một cách hiệu quả

Các câu trả lời sau đó được thu thập, xử lý định lượng theo phần trăm ý kiến Kết quả như sau: * Phần trả lời của giáo viên và học sinh đối với câu hỏi 1 thể hiện sự thống nhất giữa các học sinh với nhau, giữa các giáo viên với nhau, giữa giáo viên với học sinh Đồng thời, cách hiểu của thầy và trò trong văn mẫu khá phù hợp với quan điểm học thuật hiện nay về lòng nhân ái Cụ thể, lòng nhân ái là một phẩm chất tốt đẹp với nền tảng là sự yêu thương sẻ chia giữa con người với nhau, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, khiến con người sống vì người khác mà không toan tính vụ lợi * Ở câu hỏi thứ hai, câu trả lời của giáo viên và học sinh được

Trang 8

tổng hợp và trình bày trong bảng dưới đây Có thể thấy, những biểu hiện của lòng tốt mà thầy và trò đưa ra khá phong phú, khá giống nhau và phù hợp với quan niệm của các em về lòng tốt (ở câu 1) Tuy nhiên,

Bảng 1 Nhận xét của HS và GV về nội dung lòng nhân ái

Bảng 2 Các tiêu chí cơ bản về lòng tốt của giáo viên và học sinh

Tiếp đó, các dấu hiệu liệt kê trên được nhóm nghiên cứu thể hiện lại dưới dạng các tiêu chí và cách diễn đạt tương ứng (có bổ sung trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan), sau đó gửi lại cho người được khảo sát để lấy ý kiến Tổng cộng có 05 tiêu chí: “Yêu thương và chia sẻ”; “Có lòng thương xót”; “Lòng vị tha, bao dung”; “Đoàn kết, trách nhiệm”; “Có lòng biết ơn và kính trọng” Kết quả bảng 2 là ý kiến thu được từ giáo viên và học sinh trong mẫu

Kết quả ở bảng 2 cho thấy, mặc dù sự đánh giá của giáo viên và học sinh đối với từng tiêu chí của lòng nhân ái là khác nhau nhưng xét về thang điểm và thứ bậc thì các tiêu chí đều được chấp nhận là những dấu hiệu (tiêu chí) cơ bản của lòng nhân

ái * Đối với câu hỏi số 3 về vai trò của lòng nhân ái, theo các phóng viên, lòng nhân ái là giá trị cốt lõi, có vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển các

Trang 9

phẩm chất khác và hướng con người đến những giá trị “Chân”, “Thiện” ”, và “Cái đẹp” như: Thương yêu nhau, bao dung, có trách nhiệm, cảm thông, chia sẻ, cởi mở, tin tưởng vào lẽ phải, có suy nghĩ và hành động tích cực Có thể thấy, những câu trả lời về ý nghĩa của lòng nhân ái trên đây cũng đã khẳng định nội dung chứa đựng trong đó là nếu muốn giáo dục lòng nhân ái thì chúng ta phải giáo dục những phẩm chất này ngay từ đầu Điều này khá phù hợp với tư tưởng chung về nội dung của lòng nhân ái được đề cập trong các tài liệu học thuật, tuy chưa đầy đủ

Đối với việc giáo dục lòng nhân ái như thế nào cho hiệu quả, hầu hết các phóng viên đều nhấn mạnh vai trò của giáo dục nhà trường: cung cấp kiến thức và tổ chức rèn luyện kỹ năng để giáo dục học sinh các giá trị truyền thống và hiện đại thông qua việc lồng ghép vào dạy học các môn khoa học xã hội tiềm ẩn (văn, sử, địa, ngoại khóa) các hoạt động, v.v.); giáo dục gia đình và giáo dục xã hội nhằm kết nối, cộng tác để xây dựng môi trường thực tiễn cho kết quả học tập mà học sinh nhận được từ giáo dục nhà trường

Kết quả khảo sát trên là cơ sở quan trọng để giải quyết các tiêu chí và biểu hiện lòng nhân ái của học sinh trung học Việt Nam

2.2.2 Văn bản pháp luật liên quan Kết quả nghiên cứu

Trong mọi thời đại, nguồn lực con người luôn được coi là sức mạnh quan trọng nhất của một quốc gia bởi mọi giá trị vật chất và tinh thần đều do bàn tay và khối

óc của con người làm nên Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng ở Việt Nam Nó quyết định việc dựng nước thành công Lực lượng con người bao gồm học sinh phổ thông hiện nay cũng được tính đến Như vậy, trong văn bản hướng dẫn của Bộ GD-ĐT đã có những yêu cầu cụ thể về kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông Qua đây có thể thấy rõ yêu cầu giáo dục lòng nhân ái cho

học sinh Trong “Nội quy trường trung học …”,học sinh được hướng dẫn rõ ràng

về những gì nên làm và những gì không nên làm Chẳng hạn, tại khoản 1 Điều 38

về bổn phận của học sinh quy định: Học sinh phải "Kính trọng thầy cô giáo, cán

bộ, nhân viên trong nhà trường; đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện "; Điều 40, khoản 1, nêu “hành vi, ngôn ngữ của học sinh trung học phải bảo đảm các nguyên tắc văn hóa, phù hợp với đạo đức, lối sống của lứa tuổi”; Điều

41 về những hành vi học sinh không được làm, tại các khoản 1, 4 và 5: “Không xúc phạm nhân phẩm, danh dự của nhà giáo, không được xâm phạm thân thể của nhà giáo và của học sinh”; “Không đánh nhau, phá rối an ninh trật tự trong trường

Trang 10

học và nơi công cộng”; "Không được phép sử dụng ma túy, vũ khí, chất nổ, chất độc, v.v.13 Tương tự, trong Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và THPT

do Bộ GD-ĐT ban hành ngày 12/12/2011, có 4 mức đánh giá đạo đức học sinh là

“Tốt”, “Khá”, “Trung bình” " và "Yếu" Trong phần đánh giá này, có một số tiêu chí tương tự như việc học sinh thể hiện lòng tốt Ví dụ, học sinh loại Giỏi phải

“Tích cực tham gia đấu tranh chống tiêu cực, tệ nạn xã hội, phòng chống tội phạm”; “Kính thầy, trọng người lớn; yêu thương, giúp đỡ lớp trẻ; có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết, được người khác yêu quý v.v.” Trong khi đó, HS bị xếp loại “Yếu” nếu có hành vi “Vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác; xâm phạm thân thể người khác”; “Đánh nhau,16

Những nội dung nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để nhóm nghiên cứu xây dựng tiêu chí lấy lòng nhân ái làm nội dung giáo dục học sinh phổ thông ở Việt Nam

2.3 Đề xuất các tiêu chí về lòng tốt và những biểu hiện cơ bản của nó ở học sinh trung học phổ thông Việt Nam

Những kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên là những tư liệu quan trọng cho việc xây dựng và đề xuất khung bao gồm 05 tiêu chí và 25 biểu hiện cơ bản về lòng nhân ái của học sinh trung học phổ thông Việt Nam Khung đánh giá này đã được giáo viên và người đánh giá thống nhất thông qua phương pháp tham vấn và phỏng vấn sâu trên mẫu 27 giáo viên Khung tiêu chí có thể chi tiết hóa thành danh mục các hành vi cụ thể để sử dụng cho việc nghiên cứu, giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục lòng nhân ái cho học sinh Các giáo viên cho rằng, những cách diễn đạt là những gợi ý quan trọng để họ tổ chức giáo dục lòng nhân ái cho học sinh khi giảng dạy bộ môn mình phụ trách Đây là những gợi ý về nội dung giáo dục có thể được trích ra từ môn học hoặc từ các hoạt động khác có liên quan trong nhà trường Đặc biệt, kết quả của một quá trình giáo dục tử tế hiệu quả là làm cho mỗi cá nhân tự giáo dục mình thành người tử tế thông qua quá trình

tự rèn luyện tích cực, phù hợp Đó cũng là mục đích cuối cùng của giáo dục nhà trường và đặc biệt quan trọng trong giáo dục giá trị của lòng nhân ái

3 Kết luận

Trong thời đại công nghệ thông tin, số hóa và nền kinh tế tri thức, mối quan hệ thiện chí giữa người với người càng được coi trọng hơn bao giờ hết Nền giáo dục ngày nay là nền giáo dục khoa học và công nghệ đồng thời luôn đề cao tính nhân văn Human đang hướng tới xây dựng một nền văn minh hòa bình, khoan dung dựa trên hệ thống thái độ tôn trọng các giá trị độc lập dân tộc và bản sắc dân tộc, đề cao

Ngày đăng: 02/01/2023, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w