Theo tài liệu kiểm toán năng lượng của Khoa Quản Lý NăngLượng – Đại học Điện Lực, kiểm toán năng lượng được định nghĩa như sau: Kiểm toán năng lượng là quá trình khảo sát, phân tích và đ
Trang 1CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
1.1 Khái niệm kiểm toán năng lượng
Kiểm toán năng lượng là một trong những nhiệm vụ đầu tiên để hoàn thành
chương trình kiểm soát năng lượng hiệu quả Có nhiều định nghĩa khác nhau vềkiểm toán năng lượng Theo tài liệu kiểm toán năng lượng của Khoa Quản Lý NăngLượng – Đại học Điện Lực, kiểm toán năng lượng được định nghĩa như sau:
Kiểm toán năng lượng là quá trình khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động tiêu thụ năng lượng nhằm xác định tiêu thụ năng lượng của đơn vị kinh doanh, dịch vụ, các nhà máy sản xuất hay hộ gia đình, đồng thời tìm ra các lĩnh vực sử dụng năng lượng lãng phí, đưa ra các cơ hội bảo tồn năng lượng và biện pháp mang lại tiết kiệm năng lượng.
Các hoạt động chủ yếu của kiểm toán năng lượng bao gồm:
+ Khảo sát, đo lường, thu thập số liệu về mức sử dụng năng lượng của cơ
sở sản xuất
+ Phân tích, tính toán và đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng
+ Đánh giá tiềm năng tiết kiệm năng lượng
+ Đề xuất giải pháp sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng
+ Phân tích hiệu quả đầu tư các hạng mục tiết kiệm năng lượng và xâydựng các hoạt động, giải pháp hỗ trợ sau kiểm toán
1.2 Phân loại kiểm toán năng lượng
Có nhiều tài liệu phân loại kiểm toán năng lượng khác nhau Phân loại theomức độ phức tạp, mức độ yêu cầu phạm vi thực hiện, kiểm toán năng lượng đượcphân thành hai loại chính là:
- Kiểm toán năng lượng sơ bộ
- Kiểm toán năng lượng chi tiết
Ngoài hai loại kiểm toán trên, còn có kiểm toán năng lượng mô phỏng trênmáy tính và một số kiểm toán năng lượng đặc biệt khác được dùng cho các thiết bị,
hệ thống hoặc quá trình tiêu thụ năng lượng cụ thể như: kiểm toán hệ thống lò hơi,kiểm toán hệ thống lạnh và điều hòa không khí, kiểm toán hệ thống điện, kiểm toán
hệ thống chiếu sáng
Kiểm toán năng lượng sơ bộ là hoạt động khảo sát thoáng qua quá trình sửdụng năng lượng của hệ thống Bao gồm cả việc đánh giá các dữ liệu về tiêu thụnăng lượng để phân tích số lượng và mô hình sử dụng năng lượng, cũng như sosánh với các giá trị trung bình hoặc tiêu chuẩn của các thiết bị tương tự
Kiểm toán sơ bộ là kiểm toán đơn giản và dễ thực hiện, chi phí kiểm toánnày là không lớn nhưng có thể đánh giá sơ bộ tiết kiệm và đưa ra các cơ hội tiếtkiệm với chi phí thấp nhờ các biện pháp quản lý như thay đổi thói quen vận hành và
GVHD: KSC SVTH:
Trang 2bảo dưỡng Đồng thời kiểm toán này cũng là cơ hội để lựa chọn thông tin cho cáckiểm toán chi tiết sau này.
Kiểm toán năng lượng chi tiết là việc xác định lượng năng lượng sử dụng vàtổn thất thông qua quan sát và phân tích các thiết bị, hệ thống và các đặc điểm vậnhành, phân tích sâu hơn về mặt kỹ thuật, lợi ích kinh tế tài chính và mức tiết kiệmcủa các giải pháp tiết kiệm năng lượng
Khi phân tích có thể bao gồm cả việc đo đạc và thí nghiệm để xác định sốlượng năng lượng sử dụng và hiệu suất của các hệ thống khác nhau Sử dụng cácphương pháp tính toán khoa học để phân tích hiệu suất và tính toán tiết kiệm nănglượng cũng như chi phí thông qua việc cải tiến và thay đổi từng hệ thống
Chi phí và thời gian kiểm toán năng lượng chi tiết lớn hơn nhiều so với kiểmtoán năng lượng sơ bộ, những giải tiết kiệm năng lượng đưa ra trong kiểm toánnăng lượng chi tiết sẽ đầy đủ và chính xác cao hơn
2 MỤC ĐÍCH CỦA KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
Sử dụng các công nghệ lạc hậu, thiết kế chưa tối ưu, vận hành chưa phù hợp,
sử dụng chưa hiệu quả là những nguyên nhân gây thất thoát năng lượng Theo khảosát thực trạng tiêu thụ năng lượng và nhiều báo cáo kiểm toán năng lượng cho thấytiềm năng áp dụng các giải pháp đối với các doanh nghiệp của Việt Nam thườngmang lại hiệu quả tiết kiệm năng lượng từ 5% - 40% tổng năng lượng tiêu thụ
Thông qua kiểm toán năng lượng, người ta có thể:
Đánh giá được tình hình sử dụng năng lượng của đơn vị hiện tại Nhậnbiết được những vị trí sử dụng năng lượng đang tiết kiệm, những vị trí sử dụng nănglượng chưa tốt, còn lãng phí năng lượng Sau đó, từ các phân tích có thể nhận biếtđược các cơ hội bảo tồn năng lượng và tiềm năng tiết kiệm chi phí dựa trên thựctrạng hoạt động tiêu thụ năng lượng của đơn vị
Kiểm toán năng lượng sẽ đưa ra các cơ hội và giải pháp tiết kiệm nănglượng với mức độ ưu tiên với từng giải pháp, đánh giá được những tác động của cácgiải pháp tiết kiệm năng lượng đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhữngtác động tới môi trường
Giảm chi phí năng lượng và tăng cường nhận thức về tiết kiệm và sửdụng năng lượng của lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp
Kiểm toán năng lượng giúp xác định được khuynh hướng tiêu thụ nănglượng và các nguy cơ hiện tại và tiềm ẩn thông qua đánh giá chi tiết các hệ thống, thiết
bị khác nhau như: động cơ, bơm, hệ thống thông gió, máy nén, hệ thống hơi, nhiệt
3 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
Quy trình kiểm toán năng lượng được chia làm hai giai đoạn chính là kiểm toánnăng lượng sơ bộ và kiểm toán năng lượng chi tiết Các bước trong quy trình kiểmtoán năng lượng được minh họa qua hình dưới đây:
Khảo sát sơ bộ - Liệt kê quy lượng, xác định mức tiêu thụ.- Xác định bước đầu các công đoạn tiêu hao năng
lượng lớn
Phân tích các dòng
năng lượng
- Thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng
- Đo đạc và đánh giá kết quả
Đề xuất các cơ hội
- Xác định sơ đồ dòng phân bố năng lượng
- cân bằng vật chất và năng lượng
- Xác định các cơ hội tiết kiệm năng lượng
- Lựa chọn các cơ hội tiền khả thi
- Đánh giá khả thi về kỹ thuật, kinh tế và môi trường
- Lựa chọn các giải pháp thực hiện
Trang 3Hình 1.1 Các bước xây dựng quy trình kiểm toán năng lượng
3.2 Kiểm toán năng lượng sơ bộ
Kiểm toán năng lượng sơ bộ cho phép các kiểm toán viên có được bức tranhtổng quát về hệ thống tiêu thụ năng lượng của doanh nghiệp Qua đó nhận dạng các
cơ hội và tiềm năng lượng tiết kiệm năng lượng của đơn vị và xác định các giảipháp ưu tiên (giải pháp không mất chi phí hoặc chi phí thấp) Hoạt động này có thểphát hiện ra ít nhất 70% các cơ hội tiết kiệm năng lượng trong hệ thống
Nội dung các bước thực hiện kiểm toán sơ bộ:
Khảo sát lướt qua toàn bộ các dây chuyền công nghệ, các thiết bị cungcấp và tiêu thụ năng lượng tại doanh nghiệp
Nhận dạng nguyên lý, quy trình công nghệ của thiết bị, hệ thống
Thu thập thông tin về sản lượng sản phẩm, năng lượng tiêu thụ và nguyênvật liệu để tính toán cân bằng năng lượng
Thu thập hóa đơn tiêu thụ năng lượng thực tế và các yếu tố liên quan đếnviệc tiêu thụ năng lượng
Đánh giá tiềm năng tiết kiệm và sắp xếp thứ tự ưu tiên của các giải pháp
Nhận dạng các thiết bị, các điểm cần đo lượng sâu hơn sau này, các vị tríđặt thiết bị đo lường
GVHD: KSC SVTH:
Trang 43.3 Kiểm toán năng lượng chi tiết
Sau khi kiểm toán năng lượng sơ bộ, tiếp theo cần phân tích, đánh giá kỹthuật các phương án tiết kiệm năng lượng (căn cứ vào đánh giá từ kiểm toán nănglượng sơ bộ) Xem xét các vị trí, thiết bị cần đo đạc, tính toán chi tiết để thấy rõcách thức, hiệu quả thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng có thể áp dụng tạiđơn vị Phân tích hiệu quả kinh tế, kỹ thuật, lợi ích môi trường của từng giải pháp
Nội dung các bước thực hiện kiểm toán năng lượng chi tiết như sau:
Thu thập, kiểm tra số liệu quá khứ về vận hành, năng suất, tiêu thụ nănglượng và chi phí năng lượng
Khảo sát, đo lường, thử nghiệm, theo dõi hoạt động của thiết bị, đolường tại chỗ
Nhận diện các hệ thống tiêu thụ năng lượng từ kiểm toán năng lượng sơ
bộ như hệ thống: chiếu sáng, động cơ, nhiệt, HVAC
Xây dựng chi tiết các giải pháp và phương án thực hiện
Ước lượng mức tiết kiệm và đầu tư của các giải pháp
Phân tích phương án để lựa chọn phương án tốt nhất trên cả 3 mặt: Kỹthuật, kinh tế và tác động môi trường
Lập kế hoạch duy trì, giám sát các giải pháp sau kiểm toán
3.4 Phân tích kiểm toán
Công việc tiếp theo sau khi đã thu thập được các số liệu, kiểm toán viên phảikiểm tra, xem xét lại toàn bộ các khía cạnh liên quan đến việc tiêu thụ năng lượng.Nếu thiếu thông tin hay số liệu nào còn thiếu thì cần phải hỏi lại người quản lý, vậnhành hoặc kiểm tra trực tiếp thiết bị Trong kiểm toán năng lượng chi tiết, các kiểmtoán viên xác định được các cơ hội bảo tồn năng lượng, đồng thời cần phải phântích về mặt kinh tế, kỹ thuật và tác động môi trường, chi phí thực hiện cũng nhưnhững lợi ích tiềm năng của từng cơ hội bảo tồn năng lượng
Sau khi phân tích các cơ hội bảo tồn năng lượng, với những cơ hội khả thi vềmặt kỹ thuật, kiểm toán viên cần sắp xếp chúng theo mức độ ưu tiên và hiệu quảkinh tế Xét đến tính hiệu quả kinh tế, người ta thường quan tâm đến thời gian hoànvốn giản đơn của các cơ hội tiết kiệm năng lượng
Các cơ hội bảo tồn năng lượng khả thi về mặt kỹ thuật và tối ưu về mặt kinh
tế sẽ được lựa chọn để thực hiện và lập báo cáo kiểm toán năng lượng Báo cáokiểm toán là tổng hợp các giải pháp tiết kiệm năng lượng khả thi nhất và đưa rađược cách thức, phương pháp hay kế hoạch thực hiện cũng như hiệu quả của từnggiải pháp sau khi thực hiện
Quá trình phân tích kiểm toán cần thực hiện có hệ thống, kết hợp với một sốtiêu chuẩn năng lượng để có thể đánh giá, đưa ra những đánh giá và kết luận chính
Trang 53.5 Lập báo cáo kiểm toán năng lượng
Bước tiếp theo trong quy trình kiểm toán năng lượng là lập báo cáo chi tiếtkết quả kiểm toán, đưa ra những gợi ý, kế hoạch thực hiện và duy trì các cơ hội tiếtkiệm năng lượng Mức độ chi tiết của báo cáo phụ thuộc vào từng loại kiểm toánnăng lượng, từng lĩnh vực và từng dạng năng lượng
Báo cáo thường có 3 phần là mở đầu, nội dung và kết luận Cụ thể là:
+ Phần mở đầu: cần đưa ra một bảng tóm tắt về các cơ hội bảo tồn năng
lượng có thể đạt được và các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật, tính khả thi củatừng giải pháp; Nói rõ được mục đích của kiểm toán năng lượng, sự cầnthiết của việc thực hiện và kiểm soát chi phí năng lượng
+ Phần nội dung: kiểm toán viên cần phải mô tả đơn vị thực hiện kiểm
toán và các dữ liệu về tiêu thụ năng lượng Đồng thời, đưa ra được cácbảng biểu, đồ thị biểu diễn mức độ tiêu thụ và chi phí năng lượng, phântích chi phí năng lượng
+ Phần kết luận: đưa ra danh sách các cơ hội tiết kiệm năng lượng tiềm
năng, hiệu quả kinh tế của từng cơ hội và một số nhận xét cuối cùng.Báo cáo kiểm toán năng lượng phải được trình bày ngắn gọn, trung thực và
dễ hiểu, hạn chế sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành để khách hàng áp dụngđược tốt nhất các giải pháp
3.6 Lập kế hoạch hoạt động trong sử dụng năng lượng
Đây là công việc cuối cùng trong quy trình kiểm toán năng lượng, các kiểmtoán viên cần đưa ra kế hoạch duy trì các giải pháp tiết kiệm năng lượng trongtương lai đối với đơn vị được kiểm toán Kế hoạch hoạt động cần đưa ra các địnhhướng, các bước thực hiện trong quản lý sử dụng năng lượng nhằm duy trì việc sửdụng năng lượng hiệu quả
Sau khi lập kế hoạch, các doanh nghiệp cần thực hiện liên tục các giải pháp
và thành lập các nhân hay một nhóm đảm nhiệm công việc này Đồng thời doanhnghiệp cũng cần có sự sáng tạo trong hoạt động sử dụng năng lượng để các giảipháp được thực hiện hiệu quả nhất hoặc có thể tìm ra các cơ hội tiết kiệm khác
4 CÁC CÔNG CỤ KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
4.1 Các thiết bị đo thông số năng lượng
Để có thông tin tốt nhất trong quá trình kiểm toán năng lượng, kiểm toánviên cần sử dụng các thiết bị đo thông số năng lượng Các thiết bị đo hiện nay rất đadạng, ngày càng được cải tiến với nhiều chức năng, nhỏ gọn, độ chính xác cao, đơngiản trong vận hành và sử dụng mà không gây ảnh hưởng đến quá trình vận hành,sản xuất của đơn vị Ngoài ra các thiết bị đo còn có chức năng ghi, phân tích số liệu
và truy - xuất dữ liệu với máy tính và các thiết bị chuyên dụng khác
GVHD: KSC SVTH:
Trang 6Các thiết bị đo lường trong kiểm toán năng lượng được phân thành nhiều loạikhác nhau Thiết bị đo phân loại theo chức năng sử dụng bao gồm các nhóm thiết bị
đo thông số về: điện năng, ánh sáng, động cơ, nhiệt, lưu lượng Dưới đây em giớithiệu một số thiết bị đo điển hình với chức năng và thông số cơ bản như sau:
1 Máy đo và phân tích điện đa năng Kyoritsu 6310
2 Thiết bị đo cường độ ánh sáng Kyoritsu 5202
3 Thiết bị phân tích khí thải IMR – 2800P
4.
5 Súng đo nhiệt độ IFRAPOINT – INSPACTOR HT
+ Đo công suất, cường độ dòng điện, hiệu
điện thế, hệ số công suất, tần số và nhiễu
sóng hài của dòng điện 1 và 3 pha
+ Phân tích nồng độ khói thải, bao gồm: O2,
CO2, CO, NO, NO2, SO2, H2S, CXHY, hiệu
suất cháy, chênh áp, nhiệt độ và vận tốc
khí
+ Nguồn cung cấp: 110V hoặc 230V
+ Độ chính xác: Tùy theo từng loại khí thải
khoảng ±0,2 ~ 5%
+ Nhiệt độ hoạt động: -20 ~ 1200 0C
+ Hãng sản xuất: IMR – Mỹ
+ Đo nhiệt độ bề mặt và các điểm theo yêu
cầu, chuyên dùng cho ngành công nghiệp
luyện kim, thủy tinh và các ngành công
Trang 76 Thiết bị đo tốc độ động cơ Kyoritsu 5601
7 Thiết bị đo vận tốc gió và nhiệt độ Extech 451181
8 Máy đo lưu lượng bằng siêu âm – Ultrsonic Water Flowmeter
+ Thời gian xử lý: 1 – 10 giây
+ Lưu trữ dữ liệu đo và tự tắt máy khi
không sử dụng sau 3 phút
+ Hãng sản xuất: Kyoritsu – Nhật Bản
+ Đo vận tốc, lưu lượng gió, độ ẩm tương
đối, khối lượng không khí, điểm sương
Trang 89 Thiết bị đo rò rỉ khí, môi chất làm lạnh PCE - LD1
10 Máy đo dòng rò Kyoritsu 2000
Bảng 1.1: Danh sách một số thiết bị phục vụ kiểm toán năng lượng
+ Đo rò rỉ khí, hỗn hợp khí và môi chất
lạnh như CFCs, HFCs, R22, R134a,
R410A, R407C…Chuyên dụng trong công
nghệ làm lạnh Cảnh báo bằng âm thanh và
ánh sáng
+ Điều chỉnh độ nhạy: cao, thấp
+ Kiểm tra theo chu kỳ liên tục
+ Thời gian xử lý: 90 giây
+ Tự động tắt máy: sau 10 phút
+ Hãng sản xuất: PCE Group - Anh
+ Đo dòng rò đa năng dòng AC, DC, điện
trở, kiểm tra diode và tụ
Trang 91 Máy đo và phân tích điệnnăng Model 6300; 6310
14 Máy đo lưu lượng bằng siêuâm Dynasonic 902 175,3 Nhật
(Nguồn: Viện Khoa học năng lượng)
4.2 Công cụ tính toán
Ngoài việc sử dụng các thiết bị đo đạc, các kiểm toán viên cần phải sử dụngcác phần mềm thông dụng như Excel, Matlab, cùng một số phần mềm chuyên dụngnhư SaveX, Motor Savings Analysis, Sinasave, Dialux…Đây là các phần mềm để
GVHD: KSC SVTH:
Trang 10tính toán, phân tích, đánh giá tiềm năng tiết kiệm năng lượng (bao gồm cả phân tíchkinh tế - kỹ thuật) cho từng giải pháp, hay thiết bị sử dụng Ngoài ra còn sử dụngcác phần mềm tính toán, phân tích tổng hợp Energy Audit, Lend, Rescreen…Dướiđây em giới thiệu tổng quát về một số phần mềm như sau:
a) Phần mềm Energy Audit
Phần mềm này giúp tính toán, phân tích, lập báo cáo về năng lượng, giúp các
cá nhân hay doanh nghiệp có được những lời khuyên về sử dụng năng lượng hiệuquả, đánh giá mức tiết kiệm và phương pháp để tiết kiệm năng lượng Energy Auditgiúp tính toán các dữ liệu liên quan đến sử dụng năng lượng, chi phí năng lượng vàlượng khí thải CO2… Energy Audit gồm có hai phiên bản phần mềm đó là: BizEEBenchmark và BizEE Pro, cụ thể:
BizEE Benchmark:
- Dùng cho kiểm toán sơ bộ, thời gian ngắn Trọng tâm là cắt giảm thời giancần để đánh giá mức tiêu thụ năng lượng và tiềm năng tiết kiệm năng lượng, cungcấp thông tin và các cách thức để sử dụng năng lượng hiệu quả cho một doanhnghiệp
- Phần mềm này sử dụng tiêu chuẩn dựa trên việc phân tích dữ liệu trong quákhứ, so sánh các dữ liệu tiêu thụ năng lượng với các mô hình năng lượng, sử dụngcác số liệu điểm chuẩn; tính toán năng lượng tiêu thụ, chi phí năng lượng và tiềmnăng tiết kiệm năng lượng có thể cho doanh nghiệp
Hình 1.2 Hình ảnh giao diện phần mềm BizEE Benchmark
Trang 11- BizEE Pro tính toán nhanh và chính xác hơn tiềm năng tiết kiệm, chi phí năng lượng, lượng phát thải CO2 và lập báo cáo một cách linh hoạt với nhiềutính năng để lựa chọn.
- Sử dụng BizEE Pro để kiểm toán cho doanh nghiệp bao gồm ba bước: Tạo
ra một mô hình hóa cho doanh nghiệp, đo đạc hiệu quả sử dụng năng lượng để tínhtoán mức tiết kiệm, và lập báo cáo
Hình 1.3 Hình ảnh giao diện của phần mềm BizEE Pro
dự án RETScreen bao gồm: hiệu quả năng lượng, điện năng (gồm có điện mặt trời,gió, sóng, địa nhiệt…), sưởi ấm và làm mát (như mô hình sinh khối, bơm hơi nhiệt,làm nóng nước/không khí bằng năng lượng mặt trời)…
Retscreen được cung cấp miễn phí, có được sử dụng trên toàn thế giới đểphân tích hay thiết kế hệ thống năng lượng tái tạo, đánh giá các giải pháp tiết kiệmnăng lượng bao gồm phí tổn thất trong chu kỳ hoạt động, giảm phát thải khí nhàkính, tính khả thi về mặt tài chính cũng như phân tích độ nhậy (rủi ro)
GVHD: KSC SVTH:
Trang 12Phần mềm còn bao gồm cơ sở dữ liệu về sản phẩm (pin mặt trời, ắc quy…),chi phí và dữ liệu về khí tượng như bức xạ mặt trời như bức xạ mặt trời, tốc độ gió,nhiệt độ (nguồn do NASA cung cấp) với một cẩm nang hướng dẫn sử dụng chi tiết.Phần mềm này có ngôn ngữ tiếng Việt.
Hình 1.4 Hình ảnh chụp màn hình của phần mềm Retscreen
5 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KHUYẾN CÁO TRONG KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG
5.1 Những khó khăn khi thực hiện kiểm toán năng lượng
Nhiều đơn vị kiểm toán từ chối cung cấp dữ liệu, hoặc cung cấp số liệukhông đúng với thực tế Mặt khác nhiều doanh nghiệp nhỏ, không có hồ sơ ghi chép
về năng lượng hay nếu có thì chúng cũng không đủ để phân tích, đánh giá hệ thống,quá trình hay các thiết bị tiêu thụ năng lượng
Người kiểm toán năng lượng đôi khi gặp khó khăn vì thiếu các thiết bị đocần thiết, hoặc các thiết bị đo không phù hợp, hoặc không biết ứng biến để tiến hành
đo đạc thì sẽ rất khó khăn để thu thập được số liệu chính xác, và có thể dẫn đếnphân tích – đánh giá hệ thống không chính xác
Nhiều nhà máy không có các dụng cụ đo lường thông số năng lượng nênkiểm toán viên khó khăn khi so sánh với các số liệu chuẩn để đánh giá hiệu quả sửdụng năng lượng
Kiểm toán viên gặp khó khăn khi liên hệ với các doanh nghiệp để họ chấpnhận kiểm toán, nhiều doanh nghiệp có thái độ thờ ơ, hoài nghi với kiểm toán nănglượng
Trang 13 Nhiều doanh nghiệp thiếu hiểu biết về kiểm toán, nên cho rằng kiểm toán làviệc tìm ra những sai sót của họ, không giúp đỡ họ và kiểm toán sẽ làm tốn thờigian và chi phí của doanh nghiệp
5.2 Một số khuyến cáo khi thực hiện kiểm toán năng lượng
Kiểm toán năng lượng nên được thực hiện bởi một nhóm các cán bộ kỹthuật hoặc những người có kinh nghiệm nhất định trong việc thiết kế và vận hànhcác phương tiện, thiết bị đặc trưng, hệ thống hoặc quá trình sẽ được kiểm toán
Khi thực hiện kiểm toán, cần lập nhóm kiểm toán Kinh nghiệm và kỹnăng của các kỹ sư kiểm toán và thời gian kiểm toán sẽ xác định số lượng kỹ sưtrong nhóm kiểm toán Nhóm kiểm toán nên gồm 3 -5 người – là cán bộ giàu kinhnghiệm đại diện cho các lĩnh vực chính (như điện, cơ khí, hóa ) Mỗi loại hìnhkiểm toán nhóm kiểm toán cũng khác nhau như:
-Trong kiểm toán năng lượng tòa nhà: Nhóm kiểm toán nên có thêm người có
kiến thức về xây dựng và kiến trúc
-Trong kiểm toán năng lượng công nghiệp: Các thành viên kiểm toán nên bao
gồm các kỹ sư nhà máy, các quản đốc phân xưởng hay cán bộ giám sát bảo trì thiết
bị, hệ thống
Trong kiểm toán năng lượng chi tiết, các kiểm toán viên nên có sự hỗ trợ
từ các chuyên viên kế toán, tài chính và máy tính để dễ dàng tính toán, phân tích cácgiải pháp tiết kiệm và kế hoạch đầu tư
Kiểm toán năng lượng có thể được tiến hành bất cứ lúc nào trong năm,hoặc được thực hiện định kỳ theo một lịch trình để giám sát liên tục quá trình sửdụng năng lượng Quy mô của hộ tiêu thụ năng lượng là yếu tố chủ yếu trong việcxác định loại và số lần kiểm toán năng lượng
6 HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ lâu, các hoạt động liên quan đến việc giảm tiêu thụ năng lượng, đã đượcnhiều doanh nghiệp Việt Nam áp dụng Các doanh nghiệp đều quan tâm đến việckiểm soát nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào, áp dụng công nghệ, thiết bị hiệu suấtcao Tuy nhiên những hoạt động đó chưa có một quy chuẩn hay sự bắt buộc nàonên nó diễn ra một cách tự phát, chưa phổ biến
Hoạt động kiểm toán năng lượng tại Việt Nam được chú ý từ khi Việt Nam
ký công ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)ngày 11/6/1992 và Nghị định thư Kyoto ngày 03/12/1998 Theo đó Việt Nam phảithực hiện nhiều dự án về giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả năng lượngtrong đó có hoạt động kiểm toán năng lượng
Từ năm 1996 đến nay, dưới sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế vàmột số nước phát triển, nhiều doanh nghiệp được tư vấn và tham gia nhiều dự ánliên quan đến việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, giảm phát thải khí nhà
GVHD: KSC SVTH:
Trang 14kính, phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có hoạt động kiểm toán năng lượng.Một số dự án tiêu biểu có thể kể đến như:
+ Các dự án CDM về lĩnh vực “ Nâng cao hiệu quả năng lượng’’, từ năm
1996 đến nay Với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế như tổ chức Liên Hợp Quốc,Qũy môi trường toàn cầu và các nước phát triển như Nhật Bản, Phần Lan, ThụyĐiển, Đan Mạch, Áo
+ Dự án “ Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Việt Nam (PECSME)” do Bộ Khoa học & Công nghệ, Chương trìnhphát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Qũy môi trường toàn cầu (GEF) hỗ trợ thựchiện, giai đoạn 2006 – 2010
+ Dự án “ Thúc đẩy sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm thông qua hỗtrợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (MEET-BIS Vietnam)” do
Ủy ban châu Âu và Chương trình phát triển châu Á tài trợ từ tháng 1/2008
+ Dự án “ Trình diễn sản xuất sạch hơn” - thuộc chương trình Hợp tác pháttriển Việt Nam – Đan Mạch (DCE) từ năm 2005 – 2011
Từ khi Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm vàhiệu quả (VNEEP) từ năm 2006 - 2015 và Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm vàhiệu quả ra đời năm 17/6/2010 Hoạt động kiểm toán thực sự được quan tâm, chútrọng Bộ Công Thương đã xây dựng quy chuẩn và tiêu chuẩn về năng lượng, về “Các công trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” Hoạt động kiểm toánđược triển khai rộng rãi và bắt buộc đối với một số doanh nghiệp trọng điểm và tiêuthụ nhiều năng lượng
Có một số tổ chức trực thuộc nhà nước và trường đại học tham gia kiểm toánnăng lượng, tiêu biểu như: Viện Khoa học năng lượng, Viện Năng lượng, trường đạihọc Điện Lực, đại học Bách Khoa, Trung tâm tiết kiệm năng lượng Hà Nội và một
số Trung tâm tiết kiệm năng lượng trực thuộc Sở Công Thương các tỉnh thành phố
Ngoài ra, nhiều công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, thựchiện kiểm toán năng lượng như:
+ Công ty TNHH phát triển năng lượng SYSTECH
+ Công ty Schneider tại Việt Nam
+ Công ty Nguyễn Phát
+ Công ty CP năng lượng và môi trường RCEE
+ Công ty CP giải pháp tiết kiệm năng lượng và công nghệ thông tin
+ Công ty CP giải pháp công nghệ Việt Nam
+ Công ty VESCO
Hiện nay, hoạt động kiểm toán trở nhu cầu tất yếu của sản xuất và kinhdoanh hiện đại Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ra đời, kiểm toánnăng lượng càng được quan tâm và đầu tư hơn, đặc biệt là đến tháng 10/2011 Bộ
Trang 15chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng” cho các tổ chức, cánhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực năng lượng Kiểm toán năng lượng đã vàđang được hoàn thiện quy trình đối với từng ngành trong nền kinh tế.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Kiểm toán năng lượng không đơn thuần là hoạt động chỉ thực hiện một lần,
mà phải được thực hiện liên tục hoặc theo định kỳ Kiểm toán năng lượng là nềntảng cho một chương trình quản lý năng lượng hiệu quả và lâu dài Kiểm toán nănglượng không chỉ chấm dứt với báo cáo kiểm toán năng lượng, nó là một quá trìnhtiếp diễn liên tục nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng, đánh giá xem nănglượng nào đang được sử dụng? Sử dụng ở đâu? Tại sao được sử dụng? Sử dụng nónhư thế nào và với chi phí bao nhiêu
Kiểm toán năng lượng là một công cụ hữu ích nhằm kiểm soát việc tiêu thụnăng lượng và giảm chi phí năng lượng thông qua việc bảo tồn Nó không chỉ manglại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn tiết kiệm tài nguyên quốc gia, giảm khai tháctài nguyên, giảm được những tác động xấu tới môi trường, góp phần đảm bảo anninh năng lượng và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nănglượng còn khá mới mẻ nên cần được nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiếtkiệm và hiệu quả, kiến thức về kiểm toán năng lượng, các cán bộ kỹ thuật cần đượcnâng cao trình độ theo kịp thời đại Đồng thời các cơ quan chức năng cần xây dựng
mô hình kiểm toán năng lượng chặt chẽ từ cơ sở, phù hợp với đặc điểm các doanhnghiệp Việt Nam, làm nền tảng vững chắc để hoạt động kiểm toán năng lượngđược
áp dụng vào thực tiễn theo chiều sâu và hiệu quả hơn
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH NHỰA VIỆT NAM VÀ KHU CÔNG NGHIỆP LÀNG NGHỀ MINH KHAI – TỈNH HƯNG YÊN
GVHD: KSC SVTH:
Trang 161 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NHỰA VIỆT NAM
1.1 Đặc điểm chung của ngành nhựa
a Nguyên liệu còn phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu, nguyên nhân dẫn
đến tình trạng nhập siêu lớn
Do ngành sản xuất nguyên liệu và ngành hóa dầu chưa phát triển, nguồnnguyên vật liệu trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nên Việt Nam phảinhập khẩu 70 – 80% nguyên liệu và các chất phụ gia nhựa để sản xuất Việt Namnhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ các nước châu Á như: Hàn Quốc, Đài Loan, ẢRập Xê Út – đây là những nước có công nghiệp hóa dầu phát triển mạnh và một sốnước khác như Mỹ, Đức, Ý
Hình 2.1 Các nước cung cấp chính nguyên liệu cho ngành nhựa Việt Nam
(Nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam, năm 2008)
Hiện nay, cũng đã có một số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất đượcvật liệu nhựa PVC và PET đủ nhu cầu trong nước Có hai nhà sản xuất PVC làCông ty TPC Vina và Công ty Nhựa và Hóa chất Phú Mỹ với công suất tổng hợp là200.000 tấn/năm, trong đó 30% dành cho xuất khẩu và 70% dành cho thị trườngtrong nước Sản xuất nguyên liệu nhựa PET thì có Công ty Formusa Việt Nam(100% vốn của Đài Loan) với công suất là 145.000 tấn/năm
b Ngành Nhựa Việt Nam được đánh giá là một trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng tốt nhất thế giới
Ngành nhựa Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao cả về sản lượng và giá trị,nhờ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng mạnh Kể từ năm 2000 đến nay tốc độtăng trưởng của ngành trung bình từ 15 – 20%, bất chấp những biến động và khủnghoảng kinh tế Dự báo tổng sản lượng cả nước sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới
do nhu cầu cầu nhựa trong nước nhiều khả năng tăng cao hơn nữa
Trang 17Hình 2.2 Sản lượng ngành nhựa từ năm 2000 – 2010
(Nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam)
Sản phẩm nhựa của Việt Nam phục vụ cho xuất khẩu cũng có tiềm năng rấtlớn Nhựa là một trong những mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng nhanh nhấttại Việt Nam Sản phẩm nhựa Việt Nam đã có mặt tại hơn 55 quốc gia trên thế giới,các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Campuchia,Đức, Anh, Hà Lan, Pháp, Đài Loan, Malaysia và Philippines
Hình 2.3 Sản lượng nhựa xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010
(Nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam)
Năm 2011, ngành nhựa có tỷ trọng hơn 4% so với toàn ngành công nghiệpnội địa và giữ vai trò một ngành phụ trợ thiết yếu cần phát triển trong các kế hoạchkinh tế của Nhà nước Ngành nhựa là một trong 10 ngành được Nhà nước ưu tiênphát triển do có tốc độ tăng trưởng tốt và ổn định, xuất khẩu khá mạnh, có khả năngcạnh tranh tốt với các nước trong khu vực
GVHD: KSC SVTH:
Trang 18c Công nghệ kỹ thuật chưa theo kịp thế giới
Hiện nay, cả nước có hơn 5000 máy móc các loại bao gồm: 3000 máy ép, hơn
1000 máy thổi, và hàng trăm thanh profile các loại Có khoảng 60 – 70% máy móc đều
là máy mới, chủ yếu nhập khẩu từ các nước Châu Á Tuy sản phẩm từ các thị trườngnày, đặc biệt là Trung Quốc có giá thành thấp hơn nhưng công nghệ khá đơn gian,chưa đạt trình độ công nghệ phức tạp như thiết bị của Đức, Ý, Nhật Bản Các côngnghệ mới hiện đại trong các ngành kinh tế đã có nhựa đã có mặt tại Việt Nam, tiêu biểunhư công nghệ sản xuất vi mạch điện tử bằng nhựa, DVD, CD, chai 4 lớp, chai PET,PEN và màng ghép phức hợp cao cấp BOPP Tuy nhiên hầu hết các thiết bị và máymóc sản xuất phải nhập khẩu, nên công nghệ sản xuất của Việt Nam vẫn đi chưa theovới thế giới
d Ngành nhựa phát triển còn manh mún, thiếu tập trung
Theo hiệp hội nhựa Việt Nam (VPA), nước ta hiện có hơn 2000 doanhnghiệp hoạt động trong ngành nhựa, tập trung chủ yếu là ở miền Nam (khoảng80%), miền Trung (5%), miền Bắc (15%) Trong 2000 doanh nghiệp hầu hết cácdoanh nghiệp ngành nhựa là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó 90% là doanhnghiệp tư nhân
1.2 Cơ cấu ngành nhựa Việt Nam
Sản phẩm ngành nhựa được chia bốn phân ngành chính là nhựa bao bì, nhựa
kỹ thuật, nhựa gia dụng và nhựa xây dựng
Hình 2.4 Biểu đồ cơ cấu ngành nhựa Việt Nam
(Nguồn: Bộ Công Thương)
Các sản phẩm và nguyên liệu chính trong bốn phân ngành như sau:
a) Nhựa bao bì
Đây là phân ngành có tỷ trọng lớn nhất (39%) thị phần toàn ngành Các sảnphẩm của phân ngành này là bao bì rỗng, chai nhựa, lọ nhựa, bao bì đơn, bao bì kép,
Trang 19bao bì nhựa phức hợp, các loại thùng nhựa Theo thống kê của Hiệp hội Nhựa ViệtNam có khoảng 66% kim ngạch xuất nhựa xuất khẩu là sản phẩm bao bì, trong đósản phẩm PET, màng phim PE và bao dệt là những sản phẩm được xuất khẩu nhiềunhất Hiện nay xu thế chung của thế giới, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam trongphân ngành này, đặc biệt là chai PET và các sản phẩm túi nhựa tái chế thân thiệnvới môi trường sẽ tăng trưởng cao nhất Nhực bao bì được chia làm bốn phân khúcchính là:
+ Bao bì thực phẩm: Chiếm đa số các doanh nghiệp trong nhóm nhựa bao bì,
nguyên liệu chính là hạt nhựa PP và giấy kraft Phục vụ cho tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu
+ Bao bì xây dựng: Chủ yếu là cho ngành xây dựng trong nước, nguyên liệu
chủ yếu là hạt nhựa PP
+ Bao bì PET: Đây là phân khúc đòi hỏi quy mô lớn, công nghệ cao với
nguyên liệu chính là hạt nhựa PET
+ Bao bì túi nhựa: Nhóm sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao, nguyên liệu chính
là hạt nhựa PE, sản phẩm chủ yếu là để xuất khẩu
b) Nhựa xây dựng
Sản phẩm chính của nhóm ngành này bao gồm: các loại ống nhựa, cánh cửanhựa, tấm ốp trần, nội thất Các sản phẩm nhựa xây dựng nội địa được ưa chuônghơn hàng nhập khẩu do giá thành thấp hơn và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu xâydựng và cấp thoát nước trong nước Nguyên liệu chính của phân ngành là hạt nhựaPVC Nhựa Bình Minh và Nhựa Tiền Phong là hai doanh nghiệp dẫn đầu phânngành, chiếm phần lớn thị phần của phân ngành này ở miền Nam và miền Bắc Nhựa Bình Minh chiếm 50% thị trường miền Nam và khoảng 30% thị trường cảnước; Nhựa Tiền Phong có 65% thị phần miền Bắc và khoảng 25% thị phần ốngnhựa cả nước
c) Nhựa gia dụng
Sản phẩm chính của phân khúc này là các sản phẩm gia dụng như bàn, ghế,
tủ kệ, chén đĩa nhựa, đồ chơi nhựa, giày dép Sản phẩm gia dụng xuất khẩu chiếmkhoảng 20% kim ngạch xuất khẩu Doanh nghiệp tiêu biểu cho phân ngành là công
ty nhựa Dạng Đông
d) Nhựa kỹ thuật
Các doanh nghiệp thuộc phân ngành này chiếm thị phần nhỏ nhất, sản phẩmchính là các thiết bị nhựa dùng trong lắp ráp ô tô, xe máy, thiết bị điện tử Sản phẩm củaphân ngành này chủ yếu phục vụ trong nước, xuất khẩu sản phẩm kỹ thuật chiếm khoảng
11% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam Các doanh nghiệp tiêu biểu
trong phân ngành gồm có công ty Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong, Nhựa Tân Tiến
- CTCP Nhựa Tân Đại Hưng (TPC)
- CTCP Nhựa
Kỹ Nghệ Đô Thành (DTT)
- CTCP Nhựa Tân Phú (TPP)
- CTCP Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong (NTP)
- CTCP Nhựa Đồng Nai (DNP)
- Tập đoàn nhựa Đông
Á (DAPLastic)
Trang 20Hình 2.5 Một số công ty có thị phần lớn nhất trong ngành nhựa Việt Nam
(Nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam)
1.3 Công nghệ sản xuất nhựa
Các thiết bị, máy móc mà ngành nhựa đang sử dụng, hầu hết đều phải nhập
khẩu (khoảng 95%) từ nhiều nước khác nhau
Hình 2.6 Các nước cung cấp máy móc và thiết bị sản xuất nhựa cho Việt Nam
( Nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam, năm 2008 )
Hiện nay có 3 công nghệ chính mà Việt Nam đang sử dụng để sản xuất các
sản phẩm nhựa là: Công nghệ ép phun, đùn thổi và thanh profile Cả nước hiện có
khoảng 5000 máy khác nhau, bao gồm: 3000 máy ép nhựa, hơn 1000 máy thổi,
hàng trăm thanh Profile các loại, trong đó 60 -70% là máy đời mới Các công nghệ
mới đang dần được áp dụng, tuy nhiên chỉ đối với các doanh nghiệp nhựa liên
doanh hay 100% vốn nước ngoài
a) Công nghệ ép phun (Injection technology)
Trang 21Đây là công nghệ truyền thống của ngành sản xuất nhựa, được phát triển qua
4 thế hệ máy, thế hệ thư tư là các loại máy ép điện, ép gas đang được áp dụng phổbiến tại các quốc gia có công nghiệp nhựa tiên tiến (Mỹ, Đức, Nhật )
Công nghệ này được sử dụng để sản xuất các sản phẩm nhựa, phụ tùng chocác ngành khác nhau như thiết bị điện tử, điện lực, xe máy và công nghiệp ô tô.Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 3000 loại thiết bị phun ép sử dụng công nghệ này,trong đó có 2000 máy ở thế hệ thứ 2, thứ 3 (những năm 90)
b) Công nghệ đùn thổi (Blow Extrusion technology)
Đây là công nghệ thổi màng, sản xuất các loại vật liệu bao bì nhựa từ màng,dùng trong các công nghệ thổi túi PE, PP và màng đơn, màng phức hợp (cán màngPVC) Các máy thổi được cải tiến từ Việt Nam để thổi túi xốp từ nhiều loại nguyênliệu khác nhau từ đơn nguyên PE, PP đến phức hợp OPP, BOPP thông qua giaiđoạn cán kéo hai chiều, bốn chiều
Hiện nay nhiều doanh nghiệp nhựa sử dụng công nghệ này bằng nhiều loạithiết bị nhập từ các nước, từ nhiều thế hệ máy để sản xuất các sản phẩm bao bìnhựa Nhiều loại sản phẩm dạng chai nhựa tiên tiến như PET, PEN, thùngphuy đều phát triển từ công nghệ đùn thổi
c) Công nghệ sản xuất nhựa dùng thanh Profile (Profile technology)
Được cải tiến từ công nghệ truyền thống đùn thổi, công nghệ này được sửdụng để sản xuất các sản phẩm như ống thoát nước PVC, ống cấp nước PE, ốngnhôm nhựa, cáp quang, cửa ra vào PVC, tấm lợp, phủ tường, vách ngăn
1.4 Một số giải pháp tiết kiệm năng lượng chung cho ngành nhựa
1.4.1 Đặc thù tiêu thụ năng lượng ngành nhựa
♦ Các doanh nghiệp nhựa Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệp vừa vànhỏ, vốn đầu tư ít (chủ yếu là vốn tự có) nên ít có điều kiện đổi mới công nghệ.Phần lớn công nghệ sản xuất hiện tại các doanh nghiệp là lạc hậu, tiêu thụ và lãngphí nhiều năng lượng
♦ Quá trình sản xuất sản phẩm nhựa trải qua nhiều khâu khác nhau, từ khâu
sơ chế tạo ra nguyên liệu, đến trộn hạt, ép, tạo dáng, đóng gói, thành phẩm lưukho tất cả để sử dụng một nguồn năng lượng là điện Việc sử dụng lượng điệnnhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô, trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp
♦ Các thiết bị chính tiêu thụ điện năng trong sản xuất nhựa bao gồm: cácđộng cơ (tiêu thụ lớn nhất trong các máy nghiền, ép, đùn và cắt ), quạt, hệ thốngchiếu sáng và các thiết bị khác
1.4.2 Giới thiệu một số giải pháp tiết kiệm năng lượng chung cho ngành nhựa
a) Đối với các động cơ
Hiện trạng
GVHD: KSC SVTH:
Trang 22Những động cơ là thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng nhất trong sản xuất nhựa.Quy trình sản xuất sản phẩm nhựa là quá trình khép kín Do đó các động cơ thườnghoạt động ở chế độ non tải hoặc không tải gây lãng phí điện năng Ví dụ như động
cơ bơm trong các máy phun nhựa, máy ép nhựa chỉ hoạt động có tải là khi phunnguyên liệu vào khuôn đúc Phần lớn thời gian còn lại gần như động cơ hoạt độngkhông tải
Giải pháp đưa ra
Lắp Powerposs hoặc biến tần cho máy đúc, máy phun nhựa, máy ép nhựa vàcác thiết bị có chạy non tải, hoặc không tải nhằm kiểm soát tốc độ động cơ, cungcấp điện năng cho động cơ phù hợp với tải, nâng hệ số cosφ và tuổi thọ động cơ
b) Đối với hệ thống chiếu sáng
Hiện trạng
Một số cơ sở hiện nay trong nhà xưởng vẫn còn sử dụng những bóng đèn tiêuthụ nhiều điện năng, hiệu suất phát quang thấp như bóng đèn T10, sử dụng chấn lưusắt từ, bóng đèn sợi đốt Đồng thời, cách bố trí chiếu sáng của nhiều cơ sở chưa hợp
lý, nhiều khu vực thừa, thiếu ánh sáng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
Giải pháp
+ Thay thế các bóng đèn T10, sử dụng chấn lưu sắt từ bằng các bóng đèn tiếtkiệm điện như bóng đèn T5 hoặc Compact
+ Bố trí các cửa sổ, mái che để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên
+ Đồng thời bố trí các bóng đèn, chiếu sáng các khu vực hợp lý mà đảm bảonhu cầu chiếu sáng
c) Lắp bảo ôn các điện trở đốt
Hiện trạng
Trong quá trình sản xuất nhựa, một phần điện năng được chuyển thành nhiệtnăng trong khâu nhựa hóa thường sử dụng các điện trở đốt để làm nóng các hạtnhựa trước khi được đưa vào khuôn Nhiều nhà máy có lắp các tấm nhôm, lá chắnnhằm giảm nóng cho công nhân nên nhiệt lượng tỏa ra ngoài sẽ làm tiêu tốn điệnnăng và làm nóng nhà xưởng
Giải pháp
Bảo ôn các điện trở đốt bằng cách bọc một lớp cách nhiệt bằng bông thủytinh hoặc các tấm xốp và bên ngoài dùng các tấm kim loại để bảo vệ lớp cách nhiệt.tGiải pháp này chủ yếu để làm giảm nhiệt độ trong phân xưởng sản xuất
d) Cải tiến hoặc thay đổi công nghệ
Đặc thù ngành nhựa Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đódoanh nghiệp tư nhân chiếm 90%, vốn đầu tư cũng như thiết bị và máy móc sản
Trang 23xuất đa số đã lạc hậu, tiêu hao nhiều điện năng và hiệu suất thấp nên đây là một giảipháp tuy có khả thi nhưng do hạn chế về mặt tài chính, quy mô nên nhiều doanhnghiệp không áp dụng giải pháp này.
Hiện nay, các công nghệ sản xuất nhựa tiên tiến như sản xuất chai PET, cácsản phẩm nhựa tái chế, thân thiện với môi trường đang xu hướng chung của ngànhnhựa thế giới cũng như Việt Nam nên phát triển các công nghệ sản xuất các sản phẩmnày vì các sản phẩm này đang được ưa chuộng và có tác động tích cực đối với môitrường
e) Xây dựng hệ thống quản lý năng lượng
Ngoài việc áp dụng các biện pháp ở trên, đây là một giải pháp tổng hợpmang lại hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp Hiện nay nhiều doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp tư nhân chưa tính được suất tiêu hao năng lượng trên một đơn
vị sản phẩm nên đã gây ra nhiều khó khăn trong việc hạch toán, tính toán giá thànhsản phẩm Do đó cần xây dựng hệ thống quản lý năng lượng để quản lý chặt chẽ quátrình tiêu thụ năng lượng và xác định được định mức suất tiêu hao năng lượng trêntừng loại sản phẩm Từ đó, xác định được giá thành sản phẩm, tính toán được chiphí và hiệu quả sử dụng năng lượng, nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng chongười lao động
2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NHỰA TỈNH HƯNG YÊN - KHU CÔNG NGHIỆP LÀNG NGHỀ MINH KHAI
2.1 Tổng quan ngành nhựa tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên có các ngành công nghiệp chủ đạo như: ngành cơ khí – điện tử,ngành chế biến lương thực thực phẩm, ngành dệt may, ngành nhựa ngành sản xuấtvật liệu xây dựng, ngành giày dép Trong đó, ngành nhựa là một trong những ngànhđiển hình, với nhiều doanh nghiệp hoạt động với quy mô lớn như: Công ty TNHHSong Long – thành lập năm 1995 (sản xuất các sản phẩm nhựa gia dụng và côngnghiệp, hàng năm cung cấp ra thị trường trên 30.000 tấn sản phẩm); Công ty TNHHBao bì Thăng Long – thành lập tháng 8/2003 (là một trong những công ty hàng đầucủa Việt Nam về công nghệ in ấn và sản xuất bao bì màng ghép phức hợp, hàngnăm cung cấp ra thị trường 55 – 60 triệu m2 bao bì); Công ty Nhựa điện lạnh HòaPhát (sản xuất các sản phẩm nhựa cao cấp, linh kiện nhựa )
Bên cạnh đó hình thành từ khá lâu đời tại Làng nghề tái chế nhựa Minh Khaivới quy mô hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhỏ Hầu hết dân trong Làng đều làm nghềtái chế nhựa nên mức độ tiêu thụ năng lượng lớn, dẫn đến thiếu năng lượng trongsản xuất Ngoài ra, do đặc thù của nghề, nguyên liệu đầu vào là rác thải từ nhựa dẫnđến mất mỹ quan chung, do công nghệ lạc hậu dẫn đến ô nhiễm môi trường sốngcủa chính người dân sống tại đây Để giải quyết vấn đề trên và giúp phát triển ngànhnghề, năm 2009 hình thành dự án “Khu công nghiệp Làng nghề tái chế nhựa Minh
GVHD: KSC SVTH:
Trang 24Khai” với mục đích tập trung, phát triển các cơ sở nhỏ lẻ lên hoạt động với quy môlớn hơn, với dây chuyền công nghệ hiện đại hơn Có các trạm điện phục vụ sảnxuất, sinh hoạt giải quyết vấn đề thiếu điện như ở trong Làng có các trạm bơm nướcsạch phục vụ sinh hoạt giải quyết vẫn đề nguồn nước trong Làng bị ô nhiễm nặng,nhiều gia đình khoan giếng tới độ sâu 40 - 50m nhưng vẫn không dùng được nước
do có mùi tanh, cặn
Trong khuôn khổ của đồ án, chỉ tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏhoạt động trong lĩnh vực sản xuất nhựa Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai hoạtđộng với quy mô hộ gia đình nên trong báo cáo này chủ yếu đề cập đến hiện trạngsản xuất và tiêu thụ năng lượng tại KCN Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai
2.2 Khu công nghiệp Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai
2.2.1 Giới thiệu chung
Khu công nghiệp (KCN) Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai hình thành từnăm 2009, đến tháng 9/2011 đã có 143 doanh nghiệp đăng ký đất để hoạt động sảnxuất và 70 doanh nghiệp đang trong quá trình hoạt động Hình thức hoạt động chínhcủa các doanh nghiệp là sản xuất nhựa tái chế Nguyên liệu đầu vào là gồm tất cảcác loại nhựa, bàn ghế, xô nhựa, chai lọ, và các bao gói các loại, được thu mua từcác tỉnh thành trong nước như: Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Đầu rachủ yếu là sản phẩm túi nilon, túi siêu thị và một số mặt hàng khác
Để sản xuất ra các mặt hàng trên, các doanh nghiệp sử dụng năng lượngchính là điện, dây chuyền máy móc (chủ yếu là máy móc nhập khẩu, và Việt Namtái chế) Mỗi năm KCN Làng nghề cung cấp ra thị trường khoảng 30.000 tấn sảnphẩm các loại như túi nilon, túi siêu thị, màng che phủ và tiêu thụ trên 20.000MWh điện
2.2.2 Hiện trạng sản xuất và quy trình công nghệ
Với nhiều loại mặt hàng từ nhựa tái chế, KCN Làng nghề hình thành banhóm sản xuất chính với các quy trình công nghệ sản xuất như sau:
● Nhóm 1: Các doanh nghiệp thuộc nhóm này chuyên sản xuất hạt nhựa rồi
xuất đi Quy trình sản xuất gồm ba khâu:
1 Thu mua nguyên liệu đầu vào, rồi phân loại theo màu sắc, chất liệu haytính chất của sản phẩm
2 Nghiền ra đến kích thước nhỏ và đồng đều
3 Sàng lọc, pha trộn phụ gia và tạo hạt nhựa
● Nhóm 2: Các doanh nghiệp thuộc nhóm này vừa sản xuất hạt nhựa vừa sản
xuất các sản phẩm từ nhựa (sản phẩm chính là túi nilon) Quy trình sản xuất chínhgồm hai khâu:
Trang 251 Tạo hạt nhựa (quy trình tương tự như quy trình sản xuất nhóm 1).
2 Thổi túi nilon, gồm ba bước:
+ Cho hạt nhựa vào máy thổi để tạo ra sản phẩm dưới dạng ống mỏng cókích thước định sẵn và quận lại thành từng cuộn
+ Các cuộn nhựa được đưa tới máy cắt hình, cắt ra thành từng đoạn với yêucầu độ dài của sản phẩm
+ Các đoạn sản phẩm được cắt ở bước hai được công nhân xếp chồng lênnhau và đưa vào máy dập tạo thành hai quai của túi nilon và tạo thành sản phẩm
● Nhóm 3: Các doanh nghiệp thuộc nhóm này thuộc chuyên nhập hạt nhựa từ
trong và ngoài nước về và tạo các sản phẩm từ nhựa (sản phẩm chính là túinilon, túi siêu thị) Quy trình sản xuất gồm ba bước như nhóm hai
Các thiết bị chính tiêu thụ năng lượng trong KCN được cho ở bảng 2.1:
Bảng 2.1 Danh sách các thiết chính sử dụng tại KCN Làng nghề Minh Khai Phân
Trang 262 Tiêu thụ điện bình quân 1 DN [kWh/tháng] 9.000
3 Tổng tiêu thụ điện bình quân các DN [kWh/tháng] 126.000
2 Tiêu thụ điện bình quân 1 DN [kWh/tháng] 26.000
3 Tổng tiêu thụ điện bình quân các DN [kWh/tháng] 936.000
2 Tiêu thụ điện bình quân 1 DN [kWh/tháng] 40.000
3 Tổng tiêu thụ điện bình quân các DN [kWh/tháng] 800.000
(Nguồn: Ban quản lý KCN Làng nghề Minh Khai )
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG II
Ngành sản xuất sản phẩm nhựa là một trong những ngành công nghiệp đangphát triển nhanh nhất tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình trong năm quakhoảng 15 – 20% Đây là ngành có tốc độ tăng trưởng ổn định và ít bị ảnh hưởngbởi biến động kinh tế, ví dụ như năm 2008 xảy ra khủng hoảng kinh tế nhưng tổngdoanh thu ngành Nhựa đạt 5 tỷ USD tăng 26% so với năm 2007 Việt Nam sản xuấtrất nhiều sản phẩm nhựa, đa dạng về chủng loại khác nhau thuộc bốn phân ngànhchính là nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa kỹ thuật và nhựa vật liệu xây dựng Cácsản phẩm nhựa chủ yếu phục vụ cho các linh vực như đồ gia dụng, bao bì đóng gói,vật liệu xây dựng, thiết bị điện và điện tử, linh kiện ô tô và xe máy, các linh kiệnphục vụ cho ngành viễn thông và giao thông vận tải
Do nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước ngày càng tăng tạo điều kiện chongành sản xuất nhựa Việt Nam phát triển, tăng trưởng nhanh Tuy nhiên ngànhnhựa lại phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu, các chất phụ gia, máy móc và thiết bịphục vụ cho sản xuất nhựa Trung bình hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu 70 –80% nguyên liệu nhựa trong đó có hơn 40 loại nguyên liệu khác nhau và hàng trămloại phụ gia Việt Nam nhập khẩu hầu hết các loại thiết bị, máy móc cần thiết chongành sản xuất nhựa, chủ yếu từ các nước châu Á, châu Âu và Mỹ Hiện nay ngànhnhựa Việt Nam đang sử dụng ba công nghệ là đùn thổi, ép phun và thanh profle.Các doanh nghiệp ngành nhựa hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung chủyếu trong miền Nam
Tỉnh Hưng Yên có nhiều ngành công nghiệp và làng nghề khác nhau hoạtđộng, trong đó có làng nghề tái chế nhựa ở Minh Khai – đây là làng nghề đã hìnhthành từ lâu đời, đến nay vẫn hoạt động và được mở rộng nên thành KCN Làngnghề Minh Khai từ năm 2009 Những thiết bị sản xuất trong KCN không nhiều vàtất cả đều sử dụng một dạng năng lượng chính là điện, tuy mới thành lập nhưngtrong KCN có nhiều loại thiết bị đã qua sử dụng, hiệu suất thấp và tiêu thụ nhiềuđiện năng
GVHD: KSC SVTH:
Trang 28CHƯƠNG III: KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG TẠI CÔNG TY TNHH
SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI GIA KHOA
TÓM TẮT PHƯƠNG ÁN KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG CHI TIẾT TẠI DOANH NGHIỆP
Nghiên cứu, khảo sát đo kiểm việc tiêu thụ năng lượng của các hệ thống, thiết bị tiêu thụ năng lượng hiện có tại doanh nghiệp.
Các hệ thống, thiết bị khảo sát, đo kiểm bao gồm:
Hệ thống máy băm, máy nghiền nguyên liệu
Hệ thống máy xào (sàng), máy ép nhựa, máy tạo hạt
Hệ thống thông gió
Hệ thống đèn chiếu sáng
Tủ điện tổng (phụ tải tổng)
Và các thiết bị phụ trợ khác
Đánh giá sơ bộ và thu thập thông tin chung về sử dụng năng lượng
Mục đích chính của đánh giá sơ bộ là xác định những khu vực có tiềm năngtiết kiệm năng lượng Thu thập những thông tin liên quan đến việc sử dụng nănglượng từ quá trình đánh giá sơ bộ, từ các tài liệu hiện có và hệ thống máy tính tạicông ty, kết hợp phỏng vấn cán bộ, nhân viên có liên quan, khảo sát cụ thể các phânxưởng sản xuất trong nhà máy Từ đó có cái nhìn tổng quan về các cơ hội tiết kiệmnăng lượng cho doanh nghiệp
Những thông tin thu thập gồm có:
Trang 29+ Thông tin chi tiết về công ty, như: địa chỉ, số lượng cán bộ công nhânviên, doanh thu, dòng sản phẩm, thời gian làm việc, vận hành của các thiết
bị, năng xuất
+ Sơ đồ tổ chức, cơ cấu nhân lực, các phòng ban và chức năng kèm theo.+ Sơ đồ mặt bằng, dây chuyền sản xuất chung của toàn công ty, với cácthông tin đầu và đầu ra ở từng công đoạn
+ Số liệu sản xuất trong hai năm, thống kê theo từng tháng
+ Dữ liệu về tiêu hao và chi phí năng lượng
+ Kiểm kê các thiết bị tiêu thụ năng lượng chính
Lựa chọn các khu vực trọng tâm đánh giá
Các khu vực xác định cần được nghiên cứu sâu, có thể là:
+ Toàn bộ nhà máy
+ Một bộ phận, phân xưởng sản xuất, dây chuyền sản xuất hoặc một côngđoạn sản xuất
+ Các thiết bị sử dụng năng lượng hay nguồn năng lượng cụ thể nào đó
Xác định nguyên nhân dẫn đến tổn thất năng lượng
Xác định nguyên tổn thất điện năng, nhiệt năng hay dạng năng lượngkhác
Xác định xem tổn thất ở đâu: thiết bị, khu vực hay công đoạn sản xuấtnào và đo đạc mức tổn thất
Đề xuất và lựa chọn các giải pháp tiết kiệm năng lượng
Các giải pháp đề xuất có thể xem xét ở cả ba mặt: quản lý và kỹ thuật - côngnghệ, tác động tới môi trường Cụ thể các giải pháp có thể nằm trong một nhữnggiải pháp sau:
Quản lý nội vi
Cải tiến thiết bị, quá trình sản xuất
Thay thế thiết bị, công nghệ mới
Thay thế nguyên liệu đầu vào
Tuần hoàn, tái sử dụng
Sản xuất sản phẩm phụ hữu ích
Cải tiến sản phẩm
Phân tích tính khả thi, hiệu quả của các giải pháp
1 MÔ TẢ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
1.1 Thông tin chung về doanh nghiệp
GVHD: KSC SVTH:
Trang 30 Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Gia Khoa
Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH
Giám đốc: Nguyễn Văn Tình
Địa chỉ: Số 16 Lô F1, KCN Làng Nghề Minh Khai, Như Quỳnh – Văn Lâm– Hưng Yên
Số lượng công nhân: 5 ÷ 7 người
Điện thoại: 0912.154.578 Fax: 03213.785.636
1.2 Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực – lao động
Xưởng 1: phân loại, nghiền thô…
Xưởng 2: tạo hạt, lưu kho sản phẩmPhụ trách kỹ
thuật
Trang 31Giám đốc công ty – Ông Nguyễn Văn Tình, là người có thẩm quyền cao nhất
và chịu trách nhiệm mọi hoạt động của Công ty, quản lý tất cả các mặt từ lao độngđến sản xuất, nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra Cụ thể là:
+ Chịu trách nhiệm phát triển, đầu tư mở rộng sản xuất
+ Tổ chức sản xuất và bảo vệ an ninh
+ Quản lý tài chính, vật tư – bán thành phẩm, và tiêu thụ
+ Công tác đối ngoại, giao dịch
Giám đốc – quản lý sản xuất
+ Phụ trách, chỉ đạo điều hành sản xuất
+ Kiểm soát, tính toán giá cả, tiền lương công nhân, hợp đồng gia công ngoài.+ Quản lý việc cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩmđầu ra
+ Công tác đào tạo, nâng cấp công nhân
Giám đốc – phụ trách kỹ thuật
+ Chỉ đạo công tác kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, sửa chữa bảo dưỡng cơ điện.+ Phụ trách cải tiến, nghiên cứu kỹ thuật và chế thử các sản phẩm mới,cải tiến sản phẩm
+ Chỉ đạo công tác định mức kinh tế - kỹ thuật
b) Nguồn nhân lực – lao động
Do đặc thù của công việc đơn giản, không đòi hỏi trình độ và chuyên mônnên số lượng công nhân không nhiều, công việc chủ yếu là phân loại, đứng nghiền
và vận hành máy tạo hạt Tổng số nhân công lao động tại doanh nghiệp khoảng 5 –
7 người
Công nhân tại Công ty cũng như các doanh nghiệp khác trong KCN đượcchia làm 2 nhóm: nhóm cố định và nhóm không cố định:
-Nhóm cố định: Công nhân thường là nam giới, công việc chủ yếu là thao tác
đứng máy, phụ trách vận hành các máy băm, máy sàng, máy tạo hạt
-Nhóm không cố định: Là những công nhân phụ trách khâu phân loại nguyên
liệu Trong nhóm này công nhân có thể là người làm thường xuyên tại Công tyhoặc có thể là người đi thu mua phế liệu bán cho doanh nghiệp, rồi doanh nghiệpthuê ở lại làm trong ngày và trả công theo giờ hoặc theo ca
1.3 Vị trí địa lý, sơ đồ mặt bằng sản xuất, và vốn đầu tư
a) Vị trí địa lý
- Doanh nghiệp nhựa Gia Khoa nằm trong KCN làng nghề Minh Khai, vớidiện tích đất đăng ký là 300 m2 Cũng như các doanh nghiệp khác trong KCN,doanh nghiệp Gia Khoa nằm cạnh làng nghề tái chế nhựa lâu đời thuộc thôn MinhKhai - Văn Lâm - Hưng Yên, với nền móng sản xuất nhựa tái chế lâu đời
GVHD: KSC SVTH: