1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tải free cơ sở lý luận về hợp đồng dân sự làm luận văn

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tải free cơ sở lý luận về hợp đồng dân sự làm luận văn
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật dân sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận giữa một bên để chuyển giao tài sản, thực hiện công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa

Trang 1

Tải Free Cơ Sở Lý Luận Về Hợp Đồng Dân Sự Làm Luận Văn

1 Khái niệm về hợp đồng

Khái niệm về hợp đồng dân sự được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau Theo phương diện khách quan, “hợp đồng dân sự là do các quy phạm pháp luật của nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể khác nhau1”

Theo phương diện chủ quan, “hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong

đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định2” Như vậy nghiên cứu ở khía cạnh này cho thấy hợp đồng dân sự vừa được xem xét dưới dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái

quát Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì: “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các

bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng 3

Bộ luật dân sự năm 2015 đã định nghĩa như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa

thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự 4” Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận giữa một bên để chuyển giao tài sản, thực hiện công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng dân sự là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu giao lưu, trao đổi trong dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó

1 Tr.111.

2 Tr.112.

3 Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991.

4 Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trang 2

Hợp đồng là sự thể hiện ý chí của hai bên về việc thể hiện với nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định khi nào và trong điều kiện nào thì các quyền và nghĩa vụ này được xác lập, được thay đổi và chấm dứt Các chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân hoặc pháp nhân và các loại chủ thể khác “Khách thể của hợp đồng chính là đối tượng của hợp đồng có thể là tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ Nguyên tắc quan trọng và bình đẳng được pháp luật bảo vệ là nguyên tắc tự do thỏa thuận, bình đẳng và thiện chí, trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng5”

2 Bản chất của hợp đồng

Có thể thấy rằng, bản chất của hợp đồng được thể hiện thông qua những nội dung sau:

Thứ nhất, thừa nhận và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

Nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật hợp đồng được hiểu là “các bên được tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình miễn là nó không trái với trật tự công cộng Nguyên tắc này khi chiếu vào việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng lại mang một sắc thái khác, làm phát sinh một tiểu nguyên tắc là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng6”

Theo Vũ Văn Mẫu, “nguyên tắc tự do ý chí trong luật hợp đồng là một sản phẩm lịch sử của các lý thuyết về tự do thế kỷ 18, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các Bộ luật dân sự của Pháp và Đức7”, gián tiếp ảnh hưởng tới pháp luật hợp đồng của Việt Nam Lý thuyết này “ủng hộ tự do ý chí vô giới hạn vì tin rằng sự tự do thương lượng giữa các cá nhân với nhau để ràng buộc chính mình sẽ mang lại công bằng và sự tự do cạnh tranh sẽ mang lại sự thịnh vượng về kinh tế, đã dẫn tới hệ quả là coi hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ - đề cao nghĩa vụ dân sự thay vì nghĩa

5 Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang (2020), Pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh,

Tuyên Quang, tr.3.

6 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr.243.

7 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr.243.

Trang 3

vụ pháp định vì nó đến từ chính ý chí của chủ thể bị ràng buộc8” Đó cũng là hai căn cứ phát sinh nghĩa vụ đầu tiên trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 tại Điều 275

Một người có quyền tự do giao kết hợp đồng, nghĩa là tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc như thế nào Và một khi đã tuyên bố ý chí về sự tự ràng buộc thì người đó không còn được tự do thực hiện nghĩa vụ nữa, mà sẽ bị cưỡng chế thực hiện Hiệu lực

ràng buộc của hợp đồng còn được gọi dưới cái tên Latin pacta sunt servanda, được hiểu

đơn giản là “cam kết phải được tôn trọng” Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định

về nguyên tắc tự do ý chí như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt

quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng 9

Hợp đồng là “sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa

vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ dân sự ở đây liên quan đến tài sản - đặc điểm của nghĩa vụ dân sự là có tính tài sản Nếu các bên không tự thỏa thuận thì cần phải sử dụng các biện pháp khác để xác lập hoặc bảo vệ quyền sở hữu, ví dụ, biện pháp cưỡng chế hay ép buộc10” Ví dụ, “A có hành vi gây thiệt hại tài sản cho B Trong trường hợp A và B đạt được sự thỏa thuận thương lượng được với nhau về việc B sẽ bồi thường cho A Ở đây chi phí giao dịch là thấp nhất bởi lẽ thời gian giải quyết tranh chấp nhanh chóng, các bên không phải chịu các loại chi phí khác Còn nếu các bên không thể thỏa thuận mức bội thường thì tranh chấp buộc phải được giải quyết bởi cơ chế trung gian hòa giải hoặc bằng

cơ quan tài phán11” Trong những trường hợp như vậy: “i) thời gian giải quyết tranh chấp

sẽ bị kéo dài; ii) các bên buộc phải trả tiền cho các thiết chế này, và rõ ràng là chi phí giao dịch sẽ cao hơn Trong trường hợp hợp đồng được ký kết không trên cơ sở thỏa thuận mà do một trong các bên hành động cơ hội, ví dụ ép buộc hay áp đặt bởi độc quyền

8 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr.83 – 84.

9 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015.

10 Hoàng Vĩnh Long & Dương Anh Sơn (2013), “Thừa nhận và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

– nhìn từ góc độ kinh tế học”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 02), tr 57 – 65.

11 Hoàng Vĩnh Long & Dương Anh Sơn (2013), “Thừa nhận và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

– nhìn từ góc độ kinh tế học”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 02), tr 57 – 65.

Trang 4

hoặc lừa dối… thì hậu quả là bên bị ép buộc, bên bị lừa dối sẽ bị thiệt hại là điều đương nhiên và điều này sẽ là nguy cơ làm phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng sau này12”

Thứ hai, sự thiện chí

“Thiện chí” bắt nguồn từ thuật ngữ Latin “bona fide”, trong tiếng Anh là “good faith”, là “thuật ngữ trừu tượng và chỉ được làm rõ nghĩa khi gắn chặt với hoàn cảnh cụ thể của một ứng xử cụ thể Thiện chí không được định nghĩa bởi luật, mang nghĩa về mặt luân lý nhiều hơn với liên hệ gần gũi về sự trung thực, không có sự ác ý hay tư lợi bất chính13”

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nguyên tắc thiện chí như sau: “Trong quan

hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa

vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào 14” Bộ luật dân sự năm 2015 đã lược bớt

đoạn “không bên nào được lừa dối bên nào” ra khỏi nguyên tắc thiện chí: “Cá nhân,

pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”.

Theo Ngô Huy Cương, “nguyên tắc thiện chí ở Bộ luật dân sự năm 2005 nhấn mạnh về yếu tố phi lừa dối của sự thiện chí, tức là cách thức hành xử chứ không nhấn mạnh vào động cơ hay mục đích của hành vi Ông cũng đưa ra nhận xét mà có thể áp dụng cho cả quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về nguyên tắc thiện chí rằng, nguyên tắc này chưa đủ lớn khi không đề cập tới thiện chí trong giải quyết tranh chấp và trong một số trường hợp đặc biệt khác15” Sự “bổ sung thêm vào nguyên tắc rằng giai đoạn chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, các bên cũng phải tuân thủ nghĩa vụ thiện chí có thể coi là một nỗ lực khái quát hóa thiện chí cho tất cả các giai đoạn của một hợp đồng, nhưng không nhắc đến thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp mà bao gồm nhiều

12 Hoàng Vĩnh Long & Dương Anh Sơn (2013), “Thừa nhận và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

– nhìn từ góc độ kinh tế học”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 02), tr 57 – 65

13 Trần Kiên & Nguyễn Khắc Thu (2019), “Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp

luật hợp đồng Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (số 2 + 3).

14 Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015.

15 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

Trang 5

phương thức khác nhau từ thương lượng, hòa giải đặc biệt cần sự thiện chí, đến trọng tài, tòa án thì vẫn còn thiếu sót16”

Vì nội hàm của thuật ngữ “thiện chí” không rõ ràng, “cần phải giải nghĩa trong những trường hợp cụ thể nên việc xác định nội dung của nguyên tắc thiện chí cần phải được giao cho tòa án Ngày nay các tòa án ở Hoa Kỳ có khuynh hướng tiếp cận học thuyết về sự thiện chí theo hai khía cạnh về sự công bằng và khía cạnh kinh tế học17”.Tương đồng như vậy, “Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng, một sự thi hành thành ý không thể trái với sự công bằng Còn về mặt kinh tế, khi sự thi hành quá thiệt cho trái chủ và quá lợi cho người thụ trái thì bị coi là không thành ý18”

Trong lĩnh vực luật hợp đồng, “đặc biệt là ở giai đoạn giao kết, nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc tự do ý chí, có nghĩa là việc xác lập hợp đồng

và các điều kiện của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên19” Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, “nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với

sự công bằng về lợi ích giữa các bên20” Hoặc “với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng, thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương21” Đặc biệt “sự vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi22” (hardship)

Bộ luật dân sự năm 2005 có nguyên tắc riêng về thực hiện hợp đồng, Điều 412 khoản 1 cho thấy nguyên tắc thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ hợp đồng là quan trọng nhất

16 Trần Kiên & Nguyễn Khắc Thu (2019), “Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp

luật hợp đồng Việt Nam” Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số (2 + 3).

17 Emily Houh, The Doctrine of Good Faith in Contract Law: A (Nearly) Empty Vessel?, Utah Law Review, Vol.

2005, p 1, 2005, 1-2 https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=622982 truy cập ngày 04/03/2022.

18 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr.240.

19 Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr 155.

20 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược Khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr 250.

21 Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr 155

22 Nguyễn Anh Thư (2014), “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật

Dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 30, tr 61–72.

Trang 6

và được ưu tiên hàng đầu so với hai nguyên tắc thực hiện trung thực, tin cậy (mà ở đây không xuất hiện thuật ngữ “thiện chí”) và nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác: “Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác”.Có lẽ với sự bãi bỏ nguyên tắc riêng của chế định hợp đồng, áp dụng một cách toàn diện nguyên tắc thiện chí cùng với

sự công nhận trường hợp không cần phải thực hiện đúng những nghĩa vụ đã cam kết khi

có hoàn cảnh thay đổi, Bộ luật dân sự Việt Nam đã có những chuyển biến trong quy tắc thực hiện nghĩa vụ

3 Các yếu tố của hợp đồng

3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết về hợp đồng

* Đề nghị giao kết hợp đồng

Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải được thể hiệ ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định Chỉ có như vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó có thể đi đến việc giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việ một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày

tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một hợp đồng dân sự

Để người mà mình muốn giao kết hợp đồng họ co thể hình dung một hợp đồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể

và rõ ràng Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Người để nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận hoặc

có thể thông qua điện thoại…Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận ấn định Ngoài ra, để nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định

Để đảm bảo quyền lợi cho người được đề nghị, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy

định: “Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề

nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời

Trang 7

thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu

có thiệt hại phát sinh 23

Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với người đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thể thay đổi hoặc rút

lại đề nghị trong các trường hợp sau: “Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị; bên

được đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận 24

* Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Là bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Trong những trường hợp, cần phải có thời gian để bên đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới phải trả lời về việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời

Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu của bưu điện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó bên đã đề nghị xác nhận việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định

Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đã đề nghị đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở thành người được đề nghị Người đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng

23 Điều 386 Bộ luật đân sự năm 2015.

24 Tr.130.

Trang 8

3.2 Đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng là “điều kiện để xác lập, thực hiện hợp đồng Mỗi hợp đồng được hình thành đều có đối tượng nhất định phù hợp với đặc điểm, tính chất, mục đích hướng đến hợp đồng đó Tuy nhiên các bên trong hợp đồng chỉ được chuyển giao đối tượng mà pháp luật cho phép” Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nội dung của

hợp đồng bao gồm: “Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức

thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán hợp đồng; Quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp”.

Như vậy, có thể thấy “điều khoản về đối tượng” là một trong những điều khoản bắt buộc Trường hợp các bên không thỏa thuận được về đối tượng của hợp đồng thì hợp đồng không thể thực hiện Theo giáo trình Luật dân sự, “đối tượng của hợp đồng có thể phân thành hai nhóm: một là, các loại hợp đồng có đối tượng là tài sản; hai là, các hợp đồng có đối tượng là công việc”

Ví dụ, đối tượng của hợp đồng thuê nhà ở là “diện tích dùng để ở mà chủ nhà chuyển quyền sử dụng cho bên thuê và từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên Diện tích nhà ở bao gồm diện tích chính và diện tích phụ Diện tích chính dùng

để ở, sinh hoạt, diện tích phụ dùng cho nhà bếp và sinh hoạt khác Nếu cho thuê nhà chung cư thì diện tích chung trong nhà chung cư đó người cho thuê có quyền sử dụng Ngoài ra bên thuê có quyền hưởng lợi các dịch vụ mà người cho thuê cầu thang máy, gửi

xe máy”

3.3 Nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa

vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng Điều 398 Bộ luật dân sự năm 2015 quy

định: “Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng; Hợp

đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

Trang 9

quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp 25

Trong tất cả các điều khoản nói trên, những điều khoản mà ở hợp đồng này các bên không cần thỏa thuận nhưng ở một hợp đồng khác, các bên buộc phải thỏa thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác, ngoài những nội dung cụ thể này, các bên còn có thể thỏa thuận để xác định với nhau thêm một số nội dung khác Vì vậy, có thể phân chia điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau:

Thứ nhất, điều khoản cơ bản:

Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng Đó là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng Nếu không thỏa thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm… Có những điều khoản cơ bản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không thỏa thuận tới nó sẽ không hình thành hợp đồng Chẳng hạn, điều khoản về đối tượng luôn là điều khản cơ bản trong hợp đồng mua bán tài sản Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bản những các bên thấy cần phải thỏa thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này là điều khoản cơ bản của hợp đồng giao kết

Thứ hai, điều khoản thông thường

Là những điều khoản được pháp luật quy định trước Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận được những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng

Để giảm bớt những công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng, các bên có thể không cần thỏa thuận và không cần ghi vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên phải thực hiện những điều khoản đó Vì vậy, nếu có tranh chấp về những nội dung này thì quy định cua pháp luật sẽ là căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Ví dụ: Địa điểm giao tài sản là động sản (đối tượng

25 Điều 398 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trang 10

của hợp đồng mua bán) là tại nơi cư trú của người mua nếu người mua đã trả tiền trong hợp đồng và các bên không thỏa thuận về địa điểm giao tài sản

Thứ ba, điều khoản tùy nghi

Ngoài những điều khoản phải thỏa thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn có thể thỏa thuận để xác định thêm một số điều khoản khác làm cho nội dung của hợp đồng được cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Các điều khoản này được gọi là điều khoản tùy nghi

Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng

tự ý được lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên Thông qua điều khoản tùy nghi, các bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi và đảm bảo được quyền yêu cầu của bên kia

Như vậy, một điều khoản cơ bản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản

cơ bản, có thể là điều khỏa thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy nghi Chằng hạn, địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điều khoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thỏa thuận cụ thể về nơi giao vật Ngươc lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thỏa thuận mà mặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật Mặt khác, địa điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi, nếu các bên đã thỏa thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao vật

Dựa vào tính chất của các điều khoản tùy nghi, người ta còn có thể phân chúng thành hai loại khác nhau: tùy nghi ngoài pháp luật và tùy nghi khác pháp luật

3.4 Hiệu lực của hợp đồng

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu

lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác 2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa

vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa

Ngày đăng: 02/01/2023, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w