1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi rối loạn phổ tự kỷ ở trường mầm non hòa nhập

15 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi rối loạn phổ tự kỷ ở trường mầm non hòa nhập
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Mầm Non Hòa Nhập Hà Nội
Chuyên ngành Phát triển ngôn ngữ trẻ em
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 82,01 KB
File đính kèm biện pháp phát triển vốn từ.rar (78 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 4 TUỔI RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ Ở TRƯỜNG MẦM NON HÒA NHẬP Nghiên cứu được thực hiện với 40 giáo viên đang dạy tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn Hà Nội nhằm đ.

Trang 1

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI RỐI LOẠN PHỔ

TỰ KỶ Ở TRƯỜNG MẦM NON HÒA NHẬP

Nghiên cứu được thực hiện với 40 giáo viên đang dạy tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn Hà Nội nhằm đánh giá thực trạng mức độ sử dụng và hiệu quả phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi rối loạn phổ tự kỷ, được thực hiện bởi sau đó giáo viên đề xuất một số biện pháp có thể trên cơ sở đó Kết quả cho thấy giáo viên thiếu linh hoạt trong việc sử dụng các biện pháp, đặc biệt là việc phối hợp các biện pháp; các biện pháp chưa chú trọng phát triển vốn từ mà thiên về nhận thức Từ thực tế, nghiên cứu đề xuất 7 biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi rối loạn phổ tự kỷ tập trung vào trò chơi, đưa ra tình huống có ý nghĩa, tăng cường giao tiếp qua tranh ảnh, khuyến khích sự tương tác của trẻ với bạn bè… Kết quả thực nghiệm cho thấy trẻ có sự tiến bộ trong phát triển vốn từ về mọi mặt (1) khả năng hiểu nghĩa của từ (2) khả năng vận dụng từ đúng vào tình huống (3) số lượng từ mà trẻ có thể hiểu và nói được Điều này chứng tỏ rằng các biện pháp đề xuất đã có tác động tích cực đến trẻ em

1 Giới thiệu

Phát triển vốn từ của trẻ là tăng số lượng từ, giúp trẻ hiểu nghĩa của từ và sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp.1 Giai đoạn từ 3 – 4 tuổi là giai đoạn trẻ tiếp thu và thể hiện ngôn ngữ qua ngôn từ mạnh mẽ, giai đoạn này trẻ rất tò mò, bắt đầu đặt câu hỏi về thế giới xung quanh, về cơ bản trẻ đã có đủ phạm vi từ nhưng chủ yếu là danh từ và động từ, được dùng như đặc điểm riêng, Nguyễn Ánh Tuyết (2013)2 Đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD), đây là mốc quan trọng để xem trẻ

có bị rối loạn phổ tự kỷ hay không, mức độ phát triển và đặc biệt là về vốn từ của trẻ Đây cũng là thời điểm quan trọng để các nhà giáo dục tiến hành phát triển kỹ năng giao tiếp sớm cho trẻ, bởi trẻ càng lớn thì càng gặp nhiều khó khăn trong học tập và giao tiếp.3 Một số trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD) hầu như không sử dụng được các câu có cấu trúc phức tạp, trong khi những trẻ khác thể hiện được ngữ điệu phức tạp ở mức độ phù hợp4 5 Một số trẻ có thể phát triển ngôn ngữ tốt và vốn từ khá rộng, thậm chí khá bình thường nhưng nó chỉ xuất hiện ở những trẻ được chẩn đoán không quá nặng hoặc chức năng cao.6

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác động tích cực của can thiệp sớm sẽ giúp phát triển ngôn ngữ cho hầu hết trẻ rối loạn phổ tự kỷ (Dawson & Osterling,

19977 ; Koegel & Koegel, 19888 ; Lovaas, 19879 ; Rogers & VISMARA,

200810 Ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển tích cực nếu được xử lý sớm và đúng phương pháp vì hình thái ngôn ngữ nói là một trong những biến số quan trọng nhất

Trang 2

để chúng ta dự đoán kết quả ngôn ngữ của trẻ trong thời thơ ấu và trưởng thành (Gillberg & Steffenburg, 198711 , Howlin và cộng sự, 200412 ; Venter A, Lord C, Schopler E, 199213 Các kỹ năng nhận thức xã hội, chẳng hạn như hiểu tâm trí và cảm xúc của người khác, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của trẻ trong các tình huống thực tế Ngoài rối loạn phổ tự kỷ (ASD), ngày càng có nhiều kiến thức cho rằng trẻ em bị suy giảm ngôn ngữ cụ thể (SLI) cũng thể hiện những khó khăn trong khả năng nhận thức xã hội của chúng14 ; Nghiên cứu của Taylor LJ, Maybery MT,

Grayndler L, Whitehouse AJ, Kết quả chỉ ra rằng trẻ mắc ALI và trẻ mắc SLI đều

có chung các khiếm khuyết về nhận dạng cảm xúc, điều này có thể là do khả năng ngôn ngữ kém của hai nhóm này15

Trên thực tế, việc phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam vẫn chưa được chú trọng trong môi trường hòa nhập Do số lượng trẻ đông nên giáo viên không thể quan tâm đến từng trẻ, các biện pháp phát triển vốn từ được áp dụng chung cho cả lớp, trẻ tự kỷ ít có cơ hội áp dụng các biện pháp phù hợp với đặc điểm, khả năng của bản thân vì vậy nó hạn chế khả năng đạt được vốn từ vựng Trong bài viết này, chúng tôi báo cáo kết quả nghiên cứu thực nghiệm và áp dụng các giải pháp vào phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi mắc rối loạn tự kỷ ở trường mầm non hòa nhập

2 Nội dung

2.1 Thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi mắc chứng tự kỷ

Nghiên cứu được thực hiện trên 40 giáo viên đang dạy tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn Hà Nội nhằm đánh giá tần suất sử dụng thực tế và mức độ hiệu quả của các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi rối loạn tự kỷ mà giáo viên đã thực hiện, từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ hiệu quả hơn Kết quả khảo sát được đánh giá cả về định lượng và định tính: (1) về định lượng: kết quả được tính toán và xử lý bằng thống kê toán học Số liệu điều tra chính được đánh giá theo điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm, thứ bậc, độ lệch và được thể hiện dưới dạng bảng, biểu đồ tổng hợp; (2) Về định tính: tập trung phân tích để làm rõ các biện pháp giáo viên sử dụng Quá trình thực hiện sử dụng các phương pháp như:

Mức độ sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ của giáo viên: tần suất sử dụng các biện pháp là khác nhau Đặc biệt, các biện pháp được sử dụng nhiều hơn (xếp thứ 1 đến 4) là: đàm thoại đặt câu hỏi kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan (M = 2,6); thường xuyên đọc sách, thơ, kể chuyện theo tranh để tạo cơ hội cho trẻ sử dụng và phát triển vốn từ (M = 2,57); luôn dùng đồ chơi để giao tiếp với trẻ

Trang 3

(M=2,52); sử dụng trò chơi để tạo hứng thú học từ mới cho trẻ (M=2,50), sử dụng

đa dạng các hình thức học tập nhằm nâng cao khả năng giải nghĩa và sử dụng từ (M=2,45) Qua trao đổi ý kiến các giáo viên cũng cho biết đây là những biện pháp được các cô thường xuyên sử dụng trong giờ học cũng như giờ ra chơi.16

Một số biện pháp ít được sử dụng: “tăng cường giao tiếp với trẻ trong cuộc sống hàng ngày” (M= 2,42); “kết hợp giữa quan sát và miêu tả sự vật, hiện tượng” (M= 2,37); “tạo tình huống có vấn đề khi chơi, học để kích thích trẻ giao tiếp” (M=1,80)

Kết quả điều tra cũng cho thấy tần suất sử dụng các biện pháp của giáo viên chênh lệch không nhiều và không có biện pháp nào không được sử dụng Tuy nhiên, thực

tế qua điều tra, phỏng vấn giáo viên cho thấy, trong quá trình sử dụng các biện pháp trên, giáo viên chú ý cung cấp vốn từ nhưng chưa chú ý đến việc hiểu và sử dụng từ đúng của trẻ Giáo viên chưa đưa ra hệ thống câu hỏi rõ ràng, tập trung vào phát triển vốn từ cho trẻ dẫn đến việc phát triển vốn từ của trẻ còn hạn chế Thay vào đó, giáo viên nên đưa ra những câu hỏi bắt trẻ phải dùng từ để giải thích, nhằm kích thích tính tích cực hình thành vốn từ của trẻ

Mức độ hiệu quả của các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi TTK: Kết quả cho thấy, nhìn chung hầu hết các biện pháp đều đạt điểm khá cao cho thấy tính hiệu quả trong quá trình áp dụng Biện pháp được đánh giá cao về hiệu quả sử dụng là: tăng cường giao tiếp với trẻ trong cuộc sống hàng ngày được xếp thứ 1 (M=2,60), thể hiện rõ đây là biện pháp được giáo viên đánh giá là hiệu quả nhất Xếp thứ 2 là hội thoại có câu hỏi liên quan đến sử dụng tiện ích trực quan (M=2,47) Xếp thứ 3 là sử dụng trò chơi tạo hứng thú học từ mới cho trẻ (M=2,37) Xếp thứ 4 là tạo tình huống có vấn đề khi chơi, học để kích thích trẻ giao tiếp (M=2,32)

Các biện pháp được đánh giá kém hiệu quả là: sử dụng đa dạng các hình thức học tập nhằm nâng cao khả năng diễn giải và sử dụng từ (M=2,30); luôn dùng đồ chơi

để giao tiếp với trẻ (M=2,05); thường xuyên đọc sách, thơ, kể chuyện theo tranh để tạo cơ hội cho trẻ sử dụng và phát triển vốn từ (M=1,95); kết hợp giữa quan sát và miêu tả sự vật, hiện tượng (M=0,75)

Các biện pháp mà giáo viên sử dụng đã có tác dụng nhất định trong việc phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi TTK Có sự khác nhau giữa mức độ sử dụng và mức độ

hiệu quả của các biện pháp này, cụ thể: ở biện pháp số 2: “luôn sử dụng đồ chơi để

giao tiếp với trẻ” , mức độ sử dụng xếp thứ 3 nhưng mức độ hiệu quả chỉ xếp thứ

6; ở biện pháp số 6 “thường xuyên đọc sách, thơ, kể chuyện theo tranh để tạo cơ

Trang 4

hội cho trẻ vận dụng và phát triển vốn từ”, mức độ vận dụng xếp thứ 2 nhưng mức

độ hiệu quả chỉ xếp thứ 7; biện pháp số 7 “tăng cường giao tiếp với trẻ trong cuộc

sống hàng ngày”được đánh giá cao về mức độ hiệu quả (xếp thứ 1) và mức độ sử

dụng xếp thứ nhất

Qua nghiên cứu về những khó khăn của giáo viên khi sử dụng các biện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ cho thấy: số trẻ trong một lớp đông là khó khăn chung của mỗi giáo viên ở các trường mẫu giáo và mẫu giáo hòa nhập ( M=1,85); Thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng hỗ trợ (M=1,45) Theo các giáo viên, để việc phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi TTK có tiến bộ, ngoài việc học trên lớp, cần có sự hỗ trợ, hợp tác từ phía gia đình, đặc biệt là sự thống nhất về phương pháp, biện pháp, kế hoạch cụ thể trong phát triển vốn từ; Những khó khăn khác là:

cơ sở vật chất chưa thuận lợi, thiếu sách và tài liệu Tuy nhiên,16

2.2 Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 TUỔI bị rối loạn tự kỷ ở trường mầm non hòa nhập Hà Nội

Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ RLPTK là những biện pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề khó khăn còn tồn tại trong quá trình phát triển lời nói cho trẻ RLPTK nhằm nâng cao vốn từ hiện có của trẻ.16

Biện pháp 1: Tăng cường sử dụng trò chơi nhằm tạo hứng thú học tập cho trẻ:

Trò chơi dùng để tạo hứng thú, kích thích trẻ học từ mới Sử dụng các trò chơi sẽ tạo ra không khí hoạt động vui vẻ hơn, giảm căng thẳng và khuyến khích trẻ học từ mới, giúp xây dựng vốn từ vựng cho trẻ Các trò chơi phải đảm bảo đa dạng về mục tiêu, mức độ mà trẻ đạt được khi chơi, phát huy được thế mạnh, khả năng của trẻ tự kỷ, nhằm giúp trẻ thành công và an toàn Trong giờ chơi giáo viên cần tạo cho trẻ không khí thoải mái, hứng thú Các trò chơi được sử dụng và phù hợp với trẻ trong giai đoạn này bao gồm: trò chơi phát triển vốn từ, trò chơi phát triển ngôn ngữ, trò chơi luyện phát âm, trò chơi đóng vai, trò chơi học tập… như: chơi gọi tên, đố vui đố đáp, phân biệt biển báo thông qua các đặc điểm của chúng Ở trường mầm non, hoạt động học luôn gắn liền với hoạt động chơi, trẻ vừa học vừa chơi mà ngược lại, vì vậy trò chơi được sử dụng như một công cụ bổ ích Khi tổ chức trò chơi giáo viên phải xác định: mục tiêu yêu cầu, nội dung trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ từ đó giúp trẻ sửa lỗi sai Ngoài ra, giáo viên cũng sẽ giúp trẻ phát triển các giác quan khi phát triển vốn từ như: gọi tên, chỉ ra đặc điểm của

sự vật, hiện tượng Khi sử dụng biện pháp này, giáo viên cần linh hoạt, sáng tạo trong việc tạo ra nhiều trò chơi phong phú, hấp dẫn mục tiêu, nội dung yêu cầu của trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ từ đó giúp trẻ sửa lỗi sai Ngoài ra, giáo

Trang 5

viên cũng sẽ giúp trẻ phát triển các giác quan khi phát triển vốn từ như: gọi tên, chỉ

ra đặc điểm của sự vật, hiện tượng Khi sử dụng biện pháp này, giáo viên cần linh hoạt, sáng tạo trong việc tạo ra nhiều trò chơi phong phú, hấp dẫn mục tiêu, nội dung yêu cầu của trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ từ đó giúp trẻ sửa lỗi sai Ngoài ra, giáo viên cũng sẽ giúp trẻ phát triển các giác quan khi phát triển vốn

từ như: gọi tên, chỉ ra đặc điểm của sự vật, hiện tượng Khi sử dụng biện pháp này, giáo viên cần linh hoạt, sáng tạo trong việc tạo ra nhiều trò chơi phong phú, hấp dẫn

Biện pháp 2: Cung cấp từ mới cho trẻ trong các tình huống có ý nghĩa

“Những tình huống có ý nghĩa đối với trẻ tự kỷ là những tình huống gắn liền với thực tế và thông qua đó, trẻ có thể học được từ mới” Sử dụng các tình huống có ý nghĩa giúp trẻ học được nhiều từ mới, mở rộng vốn từ, hình thành vốn từ cho trẻ một cách tích cực Các tình huống phải đảm bảo có ý nghĩa đối với trẻ, kích thích trẻ sử dụng từ, mở rộng phạm vi của từ Cung cấp từ mới cho trẻ thông qua các tình huống ý nghĩa xảy ra hàng ngày, xung quanh trẻ Tận dụng những thứ mà trẻ quan tâm để tạo ra những tình huống có ý nghĩa cho trẻ và bắt đầu dạy trẻ những từ mới, chẳng hạn dạy trẻ nói “không” khi trẻ không muốn một thứ gì đó hoặc khi trẻ cất đồ chơi sang một bên rồi nói “không” ” để trẻ hiểu thế nào là “không” hoặc khi khát nói “nước”, giáo viên nên thêm nhiều từ hơn bằng cách nói “uống nước” Mở rộng vốn từ vựng giúp trẻ có khả năng kết hợp từ và học cách nói tốt hơn Tuy nhiên, không nên cung cấp nhiều từ cho trẻ khiến trẻ không tiếp thu được, từ đó trẻ cảm thấy nhàm chán, không hiểu được

Biện pháp 3: Đàm thoại đặt câu hỏi kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan để tăng

cơ hội cho trẻ học từ mới

Tạo cơ hội cho trẻ học từ mới, học phát âm và xây dựng vốn từ một cách tích cực Chú ý đưa ra các câu hỏi phù hợp với lứa tuổi của trẻ, nhận thức của từng cá nhân, chủ đề bài học Để đàm thoại có năng suất giáo viên phải có óc quan sát tốt Khi sử dụng hệ thống câu hỏi, các câu hỏi này phải ngắn gọn, dễ hiểu và các câu hỏi này phải xuất phát từ đối tượng quan sát và mục đích quan sát Đồ dùng trực quan được chia làm hai loại: Vật thật và tranh ảnh Việc sử dụng đồ dùng trực quan đòi hỏi sự tham gia tối đa của các giác quan Đồ dùng trực quan cần có kích thước phù hợp để dễ quan sát Sử dụng đồ dùng trực quan như vật thật, tranh ảnh…

để giới thiệu từ ngữ, giải thích nghĩa của từ và vận dụng từ vào quan sát để trả lời câu hỏi Giáo viên cần:

Trang 6

i) Giới thiệu từ: giáo viên dùng đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ về từ cần dạy

và yêu cầu trẻ nhắc lại từ;

ii) Giải thích nghĩa của từ: giải thích nghĩa và định nghĩa của từ một cách chi tiết, không tập trung giải thích từng từ mà chỉ giải thích những từ khó Những từ khó đối với trẻ tự kỷ là những từ trừu tượng Khi giải nghĩa từ, giáo viên cần sử dụng lời kết hợp với đồ dùng trực quan (trẻ được quan sát các sự vật, hiện tượng qua vật thật, tranh ảnh hoặc mô hình giúp trẻ dễ hiểu từ);

iii) Thực hành sử dụng từ ngữ: trẻ vận dụng từ ngữ vào việc trả lời câu hỏi hoặc diễn đạt ý tưởng khi hội thoại Chú ý giúp trẻ chọn từ đúng khi sử dụng

Biện pháp 4: Tạo tình huống có vấn đề khi chơi/học nhằm kích thích trẻ giao tiếp

Biện pháp này tạo cơ hội tự nhiên giúp trẻ sử dụng ngôn ngữ Trong khi trẻ chơi, giáo viên có thể tạo ra các tình huống buộc trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để học cách chơi, cách lấy đồ chơi, cách tương tác với bạn và cô giáo hoặc khi học kích thích trẻ đặt câu hỏi Biện pháp này giúp trẻ tích cực hơn trong việc sử dụng từ đã học, hiểu nghĩa của từ và dùng từ đúng, đồng thời cung cấp thêm vốn từ mới cho trẻ Khi sử dụng biện pháp này, giáo viên cần chú ý đến đặc điểm của từng trẻ và

số lượng trẻ trong nhóm để khuyến khích trẻ giao tiếp và tự tin hơn trong giao tiếp Giáo viên không chỉ khuyến khích trẻ giao tiếp mà còn quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, sửa lỗi phát âm, trật tự từ và ngữ pháp trong câu Giáo viên cũng cần tạo nhiều cơ hội, tình huống thú vị cho trẻ để trẻ học cách lắng nghe và học từ mới thông qua việc đặt câu hỏi Ngoài ra, sau khi trẻ làm quen với một từ mới, giáo viên luôn phải tạo ra những tình huống khác nhau để trẻ sử dụng từ mới mà trẻ mới

có cơ hội tiếp cận

Biện pháp 5 : Thường xuyên đọc sách, thơ, kể chuyện theo tranh để tạo cơ hội cho trẻ vận dụng và phát triển vốn từ

Đọc sách, thơ, truyện cho trẻ nghe là hoạt động không chỉ nhằm mở rộng vốn ngôn ngữ, khả năng giao tiếp cho trẻ mà còn làm tăng vốn từ của trẻ Trong các hoạt động này, trẻ sẽ có cơ hội lắng nghe, ghi nhớ tất cả các tình tiết của câu chuyện và đặc biệt trẻ sẽ được làm quen với những từ mới và những câu chuyện thú vị Đối với trẻ 3 – 4 tuổi bị rối loạn tự kỷ, giáo viên nên chọn những câu chuyện: i) Phù hợp với lứa tuổi và khả năng ngôn ngữ cũng như ngôn từ phù hợp của trẻ, ii) Chọn những bài thơ ngắn, dễ hiểu, có nội dung đơn giản về thế giới xung quanh xung quanh trẻ, thói quen hàng ngày của trẻ; iii) Sử dụng truyện kể có tranh ảnh minh

Trang 7

họa, yếu tố bất ngờ để thu hút sự chú ý, hứng thú của trẻ Giáo viên nên khuyến khích trẻ tham gia kể chuyện, chẳng hạn cho trẻ nói theo những đoạn dễ trong truyện, nhắc đi nhắc lại để khuyến khích trẻ tự kể hoặc đọc truyện Cô giáo cùng trẻ đọc truyện, thơ sau đó đàm thoại với trẻ về đặc điểm của các nhân vật: tên gọi, đặc điểm, thích nhân vật nào, ghét nhân vật nào qua các cuộc trò chuyện trẻ sẽ học thêm được nhiều từ mới và hiểu biết thêm về câu chuyện Đối với những câu chuyện dài, giáo viên nên chuyển từ đơn giản thành những từ đơn giản hoặc cố gắng tóm tắt sao cho ngắn gọn, dễ hiểu để trẻ đọc hoặc kể cùng trẻ làm thơ sau đó trò chuyện với trẻ về đặc điểm của các nhân vật: tên gọi, đặc điểm, thích nhân vật nào, ghét nhân vật nào qua các cuộc trò chuyện, trẻ sẽ học thêm được nhiều từ mới và hiểu biết thêm về câu chuyện Đối với những câu chuyện dài, giáo viên nên chuyển từ đơn giản thành những từ đơn giản hoặc cố gắng tóm tắt sao cho ngắn gọn, dễ hiểu để trẻ đọc hoặc kể cùng trẻ làm thơ sau đó trò chuyện với trẻ về đặc điểm của các nhân vật: tên gọi, đặc điểm, thích nhân vật nào, ghét nhân vật nào qua các cuộc trò chuyện, trẻ sẽ học thêm được nhiều từ mới và hiểu biết thêm về câu chuyện Đối với những câu chuyện dài, giáo viên nên chuyển từ đơn giản thành những từ đơn giản hoặc cố gắng tóm tắt sao cho ngắn gọn, dễ hiểu để trẻ đọc hoặc kể

Biện pháp 6: Tăng cường giao tiếp với trẻ trong cuộc sống hàng ngày

“Tình huống hàng ngày” là các hoạt động diễn ra tại nhà (lớp học) như một phần của thói quen hàng ngày, ví dụ như ăn, uống, chơi, học… Trò chuyện với trẻ về thói quen hàng ngày của trẻ là một biện pháp hiệu quả để mở rộng vốn từ hoặc phát triển vốn từ của trẻ ngôn ngữ và giao tiếp của họ Giáo viên cần: i) sử dụng tình huống mà giáo viên đang tham gia cùng trẻ, thu hút sự chú ý của trẻ bằng cách gọi tên và chạm vào trẻ khi nói chuyện với trẻ, ii) nói về những gì trẻ đang làm bằng cách sử dụng các cụm từ đơn giản; iii) Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, nhắc lại những từ ngữ quan trọng trong nội dung cụ thể, từ ngữ gắn với biểu cảm khuôn mặt để tạo hứng thú, khen ngợi trẻ khi trẻ nỗ lực; iv) Trò chuyện với trẻ về cuộc sống hàng ngày: chơi, ngủ, học: học ngôn ngữ và mở rộng vốn từ bằng cách lắng nghe những người xung quanh nói chuyện hoặc giao tiếp về các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày rất tốt cho trẻ Đối với trẻ tự kỷ, mặc dù còn hạn chế về khả năng hiểu từ nhưng trẻ vẫn có thể phát triển ngôn ngữ thông qua việc nghe các giao tiếp Trước khi tiến hành giao tiếp với trẻ, giáo viên nên xem hoạt động nào khiến trẻ hứng thú nhất để chọn đó là chủ đề thú vị để giao tiếp với trẻ Trong quá trình trò chuyện giáo viên có thể đặt câu hỏi giúp trẻ mở rộng vốn từ cũng như giúp trẻ học nói nhanh hơn mặc dù còn hạn chế về khả năng hiểu từ nhưng trẻ vẫn

Trang 8

có thể phát triển ngôn ngữ thông qua nghe giao tiếp Trước khi tiến hành giao tiếp với trẻ, giáo viên nên xem hoạt động nào khiến trẻ hứng thú nhất để chọn đó là chủ

đề thú vị để giao tiếp với trẻ Trong quá trình trò chuyện giáo viên có thể đặt câu hỏi giúp trẻ mở rộng vốn từ cũng như giúp trẻ học nói nhanh hơn mặc dù còn hạn chế về khả năng hiểu từ nhưng trẻ vẫn có thể phát triển ngôn ngữ của mình thông qua việc nghe giao tiếp Trước khi tiến hành giao tiếp với trẻ, giáo viên nên xem hoạt động nào khiến trẻ hứng thú nhất để chọn đó là chủ đề thú vị để giao tiếp với trẻ Trong quá trình trò chuyện giáo viên có thể đặt câu hỏi giúp trẻ mở rộng vốn từ cũng như giúp trẻ học nói nhanh hơn

Biện pháp 7: Khuyến khích trẻ tự kỷ giao tiếp, nói chuyện với thầy cô, bạn bè

Một trong những khó khăn của trẻ tự kỷ là khiếm khuyết về giao tiếp gây cản trở việc tiếp nhận từ mới từ những người xung quanh Vì vậy, khuyến khích trẻ tự kỷ giao tiếp với thầy cô, đặc biệt là các bạn cùng lớp không chỉ khiến trẻ trở nên tự tin hơn mà còn giúp trẻ sử dụng các từ đã học một cách chủ động Vì trẻ tự kỷ khá nhút nhát và thụ động trong giao tiếp nên giáo viên phải quan tâm đến trẻ nhiều hơn thì trẻ mới cảm thấy an toàn và sẵn sàng tham gia các hoạt động cũng như giao tiếp với bạn bè Khi động viên trẻ tự kỷ, giáo viên cần kiên nhẫn Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên khuyến khích trẻ giao tiếp trong mọi hoạt động trên lớp để trẻ

có thể sử dụng lời nói Sử dụng những hoạt động được trẻ yêu thích để khuyến khích trẻ tham gia Trước khi lớp học bắt đầu, giáo viên nên đón trẻ với tâm trạng vui vẻ để trẻ cảm thấy vui vẻ, hào hứng… Sau đó đưa trẻ vào tình huống có vấn đề

để kích thích trẻ nói Trong giờ học hàng ngày, giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét góp ý của bạn bè để trẻ tự tin hơn trong quá trình giao tiếp Giáo viên cũng có thể tổ chức từ 1 đến 2 hoạt động nhóm để trẻ hợp tác với nhau giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét góp ý của bạn bè để trẻ tự tin hơn trong quá trình giao tiếp Giáo viên cũng có thể tổ chức

từ 1 đến 2 hoạt động nhóm để trẻ hợp tác với nhau giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét góp ý của bạn bè để trẻ tự tin hơn trong quá trình giao tiếp Giáo viên cũng có thể tổ chức từ 1 đến 2 hoạt động nhóm để trẻ hợp tác với nhau

2.3.1 Tổng quan về Thí nghiệm

một Mục đích thực nghiệm : Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp

đề xuất nhằm phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ

Trang 9

b Đối tượng thực nghiệm: đối tượng thực nghiệm mà chúng tôi lựa chọn là trẻ 3 –

4 tuổi bị rối loạn tự kỷ đang học tại trường mẫu giáo hòa nhập

Phạm Nhật N là cậu bé 3,5 tuổi sinh ra tại Hà Nội Bé được chẩn đoán mắc chứng

tự kỷ tại bệnh viện nhi trung ương khi bé 2,5 tuổi với mức độ nhẹ và hạn chế về ngôn ngữ N có sự phát triển không đồng đều ở mọi kỹ năng Bé có thể cầm bát, cầm bút chì màu nhưng không khéo lắm Bé gặp khó khăn khi làm việc với các đồ vật nhỏ, như xâu chuỗi hạt… Bé có thể di chuyển tốt và không có hành vi bất thường nhưng cử động còn vụng về, phối hợp toàn thân chưa tốt Nhận thức, N có thể nhận biết và gọi tên các con số Khả năng nhận biết các sự vật, hiện tượng xung quanh của trẻ còn hạn chế; về ngôn ngữ: vốn từ của em còn ít hơn, chủ yếu là về những điều quen thuộc xung quanh em Cháu phát âm còn nhỏ, chưa rõ, nói ngọng

“l”, “n” hay gọi “mịa, mịa” thay vì “mẹ” Anh ta không có tiếng vang Sự tương tác xã hội: anh ấy có thể sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ niềm vui của mình Đôi khi anh ấy vẫn không kiểm soát được mức độ của các biểu hiện như: Ôm hoặc nắm tay người khác quá chặt Anh ấy chưa kịp nói lời cảm ơn, xin lỗi Giao tiếp: cháu chủ động trong giao tiếp bằng lời nói, chủ yếu là giao tiếp bằng cử chỉ, ví dụ khi ai đó nhờ N mượn bút, xách hộ đồ cho cháu thì cháu có thể hiểu và làm được nhưng không nói gì Hành vi: khả năng duy trì chú ý tốt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không bị tăng động Anh ấy thích chơi với ô tô; khả năng tuân theo các quy tắc của lớp không tốt và thường đi xung quanh lớp mà không xin phép Đôi khi anh ấy vẫn không kiểm soát được mức độ của các biểu hiện như: Ôm hoặc nắm tay người khác quá chặt Anh ấy chưa kịp nói lời cảm ơn, xin lỗi Giao tiếp: cháu chủ động trong giao tiếp bằng lời nói, chủ yếu là giao tiếp bằng cử chỉ, ví dụ khi ai đó nhờ N mượn bút, xách hộ đồ cho cháu thì cháu có thể hiểu và làm được nhưng không nói

gì Hành vi: khả năng duy trì chú ý tốt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không bị tăng động Anh ấy thích chơi với ô tô; khả năng tuân theo các quy tắc của lớp không tốt và thường đi xung quanh lớp mà không xin phép Đôi khi anh ấy vẫn không kiểm soát được mức độ của các biểu hiện như: Ôm hoặc nắm tay người khác quá chặt Anh ấy chưa kịp nói lời cảm ơn, xin lỗi Giao tiếp: cháu chủ động trong giao tiếp bằng lời nói, chủ yếu là giao tiếp bằng cử chỉ, ví dụ khi ai đó nhờ N mượn bút, xách hộ đồ cho cháu thì cháu có thể hiểu và làm được nhưng không nói

gì Hành vi: khả năng duy trì chú ý tốt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không bị tăng động Anh ấy thích chơi với ô tô; khả năng tuân theo các quy tắc của lớp không tốt và thường đi xung quanh lớp mà không xin phép chẳng hạn khi ai đó nhờ N mượn bút, xách hộ đồ cho mình, N có thể hiểu và làm theo nhưng không nói

gì Hành vi: khả năng duy trì chú ý tốt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không bị tăng động Anh ấy thích chơi với ô tô; khả năng tuân theo các quy tắc của lớp

Trang 10

không tốt và thường đi xung quanh lớp mà không xin phép chẳng hạn khi ai đó nhờ N mượn bút hay xách hộ đồ cho mình, N có thể hiểu và làm theo nhưng không nói gì Hành vi: khả năng duy trì chú ý tốt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không

bị tăng động Anh ấy thích chơi với ô tô; khả năng tuân theo các quy tắc của lớp không tốt và thường đi xung quanh lớp mà không xin phép

c Điều kiện TN : TNSP được tiến hành trong điều kiện tự nhiên, trong điều kiện

sinh hoạt bình thường của trường mầm non Cầu Diễn Các hoạt động của lớp vẫn diễn ra bình thường nhưng có sự thay đổi về cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên Tiện ích được chuẩn bị đầy đủ theo giáo trình thực nghiệm

đ Nội dung thực nghiệm : thực nghiệm được tiến hành trên 01 trẻ tự kỷ với một số

biện pháp sau: (1) Tăng cường sử dụng trò chơi nhằm tạo hứng thú học tập cho trẻ; (2) Cung cấp từ mới cho trẻ trong các tình huống có ý nghĩa; (3) Đàm thoại đặt câu hỏi kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan để tăng cơ hội cho trẻ học từ mới; (4) Tạo tình huống có vấn đề khi chơi/học nhằm kích thích trẻ giao tiếp; (5) Khuyến khích trẻ tự kỷ giao tiếp, nói chuyện với thầy cô, bạn bè

đ Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành thực nghiệm theo kế hoạch do nhóm

chúng tôi lập và trao đổi với giáo viên Các chủ đề của thí nghiệm được tiến hành

là về “gia đình” , “động vật” và “giao thông” Các hoạt động đã được thực hiện

trong các lớp học và trong cuộc sống hàng ngày

f Tiêu chí và đánh giá :

* Về tiêu chí đánh giá : Chúng tôi tiến hành điều tra mức độ sử dụng từ của trẻ

theo các tiêu chí sau:

Tiêu chí 1 : Khả năng hiểu nghĩa của từ: là khả năng trẻ có thể tư duy về âm thanh

của từ với biểu tượng của sự vật hoặc hiện tượng phản ánh nghĩa của từ đó hoặc phản ứng lại nghĩa của từ đó bằng lời nói, cử chỉ

Tiêu chí 2 : Khả năng vận dụng từ đúng vào tình huống Trẻ chỉ được điểm khi vận

dụng đúng những từ đã học trước đó vào các tình huống Ví dụ: trong hoạt động khám phá về một số con vật nuôi ở nhà, trẻ có cơ hội tìm hiểu về các từ: “gà”,

“cánh”… và có thể sử dụng các từ đó đặt trong câu nói về con gà

Tiêu chí 3 : Số từ mà trẻ có thể hiểu và nói được.

* Về phương pháp đánh giá : Để đánh giá về kết quả TN, chúng tôi cho điểm trẻ

làm TN:

Ngày đăng: 02/01/2023, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w