- Tìm hiểu, mô tả chuỗi cung sản phẩm Thanh Trà, phân tích hoạt động và mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi cung ứng Thanh trà tại địa bàn nghiên cứu.. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƢỢC Đ
Trang 1NHẬN VIẾT THUÊ BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP, KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP, LUẬN VĂN THẠC SĨ
ZALO : 0973287149
UY TÍN CHẤT LƢỢNG BAO CHỈNH SỬA CHI PHÍ TỐT ĐỘI NGŨ CTV CHUYÊN NGHIỆP
Trang 2Trang
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Phần II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sơ lý luận 4
1.1.1 Các vấn đề liên quan đến chuỗi cung 4
1.1.1.1 Khái niệm về chuỗi cung 4
1.1.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng và các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng 7
1.1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung 10
1.1.1.4 Định hướng và kiểm soát chuỗi 10
1.1.1.5 Chuỗi giá trị và quá trình tạo giá trị trong chuỗi 11
1.1.1.6 Mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị 12
1.1.1.7 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 13
Trang 31.1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây Thanh trà 14
1.1.2.2 Vai trò và giá trị cây Thanh trà đối với đời sống con người 16
1.1.2.3 Kĩ thuật canh tác 17
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ Thanh trà 18
1.1.3.1 Các nhân tố tự nhiên 18
1.1.3.2 Các nhân tố xã hội: 19
1.1.3.3 Nhóm các nhân tố kỹ thuật: 20
1.2 Cơ sở Thực tiễn 21
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở Việt Nam 21
1.2.2 Tình hình sản xuất Thanh Trà ở Tỉnh Thừa Thiên Huế 22
1.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Thanh trà 22
1.2.2.2 Hoạt động xây dựng Thương hiệu Thanh trà Huế 25
Chương II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG THANH TRÀ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THỦY BIỀU, THÀNH PHỐ HUẾ 26
2.1 Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu 26
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
2.1.1.1 Vị trí địa lý của phường Thủy Biều 26
2.1.1.2 Địa hình đất đai 26
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 27
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 28
2.1.2.1 Kinh tế 28
2.1.2.2 Tình hình sử dụng đất của phường 29
2.1.2.3 Tình hình nhân khẩu và lao động 29
2.1.2.4 Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật 30
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên xã hội 31
2.1.4 Hoạt động trồng Thanh trà trên địa bàn phường 32
2.2 Phân tích tình hình sản xuất của các nông hộ trồng thanh trà trên địa bàn phường Thủy Biều 35
2.2.1 Tình hình cơ bản của các nông hộ 35
2.2.1.1 Tình hình sử dụng đất của các hộ sản xuất 35
Trang 42.2.2 Phân tích chi phí đầu tư thâm canh một ha Thanh trà của các hộ ở thời kỳ
KTCB 37
2.2.3 Xác định kết quả và hiệu quả sản xuất của các nông hộ trong năm 2012 39
2.2.4 Đánh giá thực tế sản xuất Thanh trà của các hộ điều tra 40
2.3 Mô tả chuỗi cung sản phẩm thanh trà trên địa bàn phường 42
2.3.1 Chuỗi cung các yếu tố đầu vào 42
2.3.2 Chuỗi cung sản phẩm 42
2.4 Phân tích hoạt động của chuỗi cung sản phẩm Thanh trà 46
2.4.1 Quá trình tạo giá trị trong chuỗi 46
2.4.2 Các mối quan hệ trong chuỗi cung 46
2.4.3 Phương thức thanh toán 47
2.4.4 Thông tin trong chuỗi cung 47
2.4.5 Những nhân tố bất lợi ảnh hưởng đến chuỗi cung Thanh trà trên địa bàn phường 47
2.4.5.1 Quy mô trồng thanh trà nhỏ lẻ, phân tán 47
2.4.5.2 Vấn đề về chất lượng quả Thanh Trà 48
2.4.5.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế 48
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG 49
3.1 Những định hướng phát triển thanh trà thuần chủng ở xã Thủy Biều 49
3.1.1 Những căn cứ để đề ra định hướng phát triển Thanh trà ở xã Thủy Biều 49
3.1.2 Định hướng phát triển cây Thanh trà 50
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng 51
3.2.1 Giải pháp về nguồn lực 51
3.2.2 Giải pháp khắc phục trở ngại về cơ sở hạ tầng 51
3.2.3 Giải pháp về thông tin thị trường 51
3.2.4 Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm 52
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
3.1 KẾT LUẬN 54
3.2 KIẾN NGHỊ 55
3.2.1 Đối với nhà nước 55
Trang 53.2.3 Đối với nông hộ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 7
Trang 7Sơ đồ Tên Sơ Đồ Trang
1.1
Chuỗi cung ứng điển hình 6 1.2 Chuỗi cung ứng giản đơn 7 1.3 Chuỗi giá trị 12 1.4 Chuỗi cung sản phẩm Thanh trà và tỷ lệ khối lượng tiêu thụ qua
các kênh 45
Đồ thị
1.1 Cơ cấu đất đai của Phường Thủy Biều năm 2012 29
Trang 8Bảng Tên bảng Trang
2.1 Tình hình dân số và lao động của Phường Thủy Biều năm 2012 30
2.2 Diện tích và số hộ trồng Thanh trà phân theo khu vực ở Thủy Biều năm 2012 33
2.3 Diện tích kinh doanh, năng suất, sản lượng, giá bán Thanh Trà của Phường Thủy Biều giai đoạn 2010 - 2012 34
2.5 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2012 35
2.6 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra trong năm 2012 36
2.7 Tình hình tư liệu sản xuất của các hộ điều tra 37
2.8 Quy mô, cơ cấu chi phí đầu tư trồng Thanh trà thời kỳ kiến thiết cơ bản của các hộ điều tra 38
2.9 Kết quả, hiệu quả sản xuất Thanh trà của các hộ điều năm 2012 39
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài “ Phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm Thanh trà trên địa bàn Phường Thủy Biều, Thành Phố Huế” được thực hiện với mục đích:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp nói chung và Thanh Trà nói riêng
- Đánh giá chung về thực trạng sản xuất thanh trà trên địa bàn phường Thủy Biều
- Tìm hiểu, mô tả chuỗi cung sản phẩm Thanh Trà, phân tích hoạt động và mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi cung ứng Thanh trà tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện chuỗi cung ứng
DỮ LIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập qua các nguồn tài liệu: Niên giám thống kê, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội, báo cáo về tình hình sản xuất nông nghiệp, báo cáo
về hoạt động trồng Thanh trà của phường Thủy Biều, số liệu từ sách, báo, mạng internet…
- Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp 60 hộ trồng thanh trà trên 4 khu vực chính trồng thành trà của phường là: Lương Quán, Trung Thượng, Đông Phước 1, Đông phước 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích thống kê - kinh tế
- Phương pháp phân tích
Trang 10KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƢỢC
Đề tài đã trình bày thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Thanh trà trên địa bàn phường Thủy Biều trong năm 2012 gồm cấu trúc của chuỗi, những nhân tố tham gia chuỗi, và hoạt động tạo giá trị trong chuỗi
Luận văn đã nêu rõ kết quả và hiệu quả của các hộ điều tra trên địa bàn Phường Thủy Biều trong năm 2012
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm Thanh Trà trong thời gian tới
Trang 11tế hiện đang có xu hướng xuất khẩu như bưởi Năm Roi, Thanh long,…
Được thiên nhiên ưu đãi, Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương có thế mạnh trong việc trồng và phát triển cây ăn quả Trong đó, nổi bật hơn cả là cây Thanh trà, đây là một loại cây được trồng từ lâu đời, tồn tại và phát triển cho đến nay và đã trở thành một đặc sản nổi tiếng của vùng đất Cố Đô Diện tích trồng Thanh trà ở đây tập trung chủ yếu trên đất phù sa dọc theo các con sông như: sông Hương, sông Ô Lâu, sông Truồi… Thanh trà không những là biểu trưng của nền ẩm thực cố đô mà còn đóng góp một phần kinh tế quan trọng cho nhiều hộ nông dân
Nhắc đến Thanh trà ở Huế, không thể nào không nhắc đến Thanh trà Thủy Biều,
là một phường nằm về phía Tây Nam của thành phố, được bao bọc và bồi đắp phù sa hằng năm bởi dòng sông Hương Ở đây, hoạt động trồng Thanh trà cũng được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ, Thanh trà Thủy Biều đã trở thành một biểu tượng cho thương hiệu Thanh trà ở Huế Chính quyền địa phương nhận thấy đặc sản Thanh trà là loại cây kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương Cây Thanh trà đã góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, sử dụng hợp lý và hiệu quả vùng đất phù sa, đem lại thu nhập cao cho người dân, đồng thời tạo đà cho phát triển xã hội Trong những năm trở lại đây, chính quyền thành phố nói chung và địa phương nói riêng đã có nhiều hoạt động nhằm phát triển thương hiệu Thanh trà và tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nhằm nâng cao giá trị thu được từ hoạt động trồng Thanh trà Tuy nhiên, hoạt động trồng Thanh trà vẫn chưa phát triển so với thuận
Trang 12lợi vốn có của địa phương, quy mô còn nhỏ lẻ, chưa thực sự đầu tư hợp lý về kĩ thuật cũng như nhân lực sản phẩm Trong thời gian qua có thể do nhiều nguyên nhân khác
Trang 13nhau mà thương hiệu Thanh trà Thủy Biều tuy đã được xây dựng từ lâu nhưng thương hiệu của nó vẫn chưa phát huy hết tiềm năng vốn có Quá trình tiêu thụ sản phẩm vẫn còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn Thanh trà vẫn chỉ tiêu thụ bó hẹp trong phạm vi thành phố, giá thành sản phẩm chưa cao Các hoạt động maketing cho sản phẩm vẫn còn ít
Xuất phát từ thực tế đó, qua quá trình thực tập tại địa phương, em quyết định
chọn đề tài: “phân tích chuỗi cung ứng Thanh trà trên địa bàn phường Thủy Biều,
thành phố Huế” làm đề tài khóa luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung:
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích chuỗi cung ứng Thanh Trà tại khu vực nghiên cứu,
từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện và thúc đẩy quá trình tiêu thụ hiệu quả hơn
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp nói chung và Thanh Trà nói riêng
- Đánh giá chung về thực trạng sản xuất thanh trà trên địa bàn phường Thủy Biều
- Tìm hiểu, mô tả chuỗi cung sản phẩm Thanh Trà, phân tích hoạt động và mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi cung ứng Thanh trà tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện chuỗi cung trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu thứ cấp: Được thu thập qua các nguồn tài liệu: Niên giám thống kê, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội, báo cáo về tình hình sản xuất nông nghiệp, báo cáo
về hoạt động trồng Thanh trà của phường Thủy Biều, số liệu từ sách, báo, mạng internet…
* Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp 100 hộ trồng thanh trà trên 4 khu vực chính trồng Thanh trà của phường là: Lương Quán, Trung Thượng, Đông Phước 1, Đông
Trang 14Phước 2
Trang 15- Phương pháp thống kê kinh tế: Kết hợp với các phương pháp khác, phương
pháp thống kê được sử dụng để phục vụ cho việc thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, số liệu có liên quan đến vấn đề một cách có hệ thống
- Các phương pháp so sánh: Dùng phương pháp này để so sánh kết quả các trị
số của các chỉ tiêu như: diện tích, sản lượng, giá trị sản lượng…của các đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp sơ đồ: Sử dụng sơ đồ trong đề tài để mô tả các kênh tiêu thụ từ
nông hộ đến người tiêu dùng cuối cùng
- Phương pháp phân tích: Chuỗi cung để phân tích chuỗi quá trình tiêu thụ
Thanh trà người cung ứng các yếu tố đầu vào đến người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng Trong đó đi sâu phân tích 5 vấn đề: quá trình tạo giá trị, chênh lệch giá, dòng thông tin, thanh toán và quan hệ hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu chuỗi cung ứng Thanh trà, các tác nhân trong chuỗi: đối tượng cung ứng đầu vào, hộ trồng Thanh Trà, Hợp tác xã, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người vận chuyển tại địa bàn nghiên cứu
Trang 16Phần II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sơ lý luận
1.1.1 Các vấn đề liên quan đến chuỗi cung
1.1.1.1 Khái niệm về chuỗi cung
Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng vì thực tế là có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho khách hàng Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ
kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư
và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải (ví dụ: truyền thông di động, Internet
và phân phối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó Vậy chuỗi cung ứng là gì?
Theo giáo trình quản trị chuỗi cung ứng: Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, thể hiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng
Theo TS Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington, chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian, tới sản phẩm cuối cùng là giao sản phẩm đó tới khách
Trang 17hàng thông qua hệ thống phân phối
Trang 18Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng (Ran and Terry P.Harrison, 1995)
Trang 19Thu hồi và tái chế
Nhà Cung cấp NVL
Nhà SX linh kiện
Nhà kho và phân phối
Khách hàng
Chi phí sản xuất Nhà SX
linh kiện
Khách hàng
Chi phí NVL
Chi phí tồn kho Chi phí vận
chuyển
Khách hàng
Sơ đồ 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình Dòng sản phẩm và dịch vụ
(Nguồn: Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng)
Nhà SX sản phẩm
Trang 20Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công
ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó Ví dụ, một khách hàng đi vào hệ thống siêu thị Coop Mart để mua bột giặt Chuỗi cung ứng bắt đầu với khách hàng và nhu cầu về bột giặt Giai đoạn kế tiếp của chuỗi cung ứng này là siêu thị Coop Mart, nơi mà khách hàng ghé đến Để phục vụ nhu cầu của khách hàng, Coop Mart đã lưu trữ tồn kho các sản phẩm hoặc được cung cấp từ một nhà phân phối Nhà phân phối nhận hàng từ các công ty sản xuất, chẳng hạn như P&G Nhà máy sản xuất của P&G nhận nguyên vật liệu từ rất nhiều nhà cung cấp khác nhau mà chính những nhà cung cấp này lại nhận hàng từ các nhà cung cấp khác nữa Ví dụ, nguyên liệu đóng gói bao
bì đến từ công ty bao bì Thanh Tâm trong khi chính công ty này nhận nguyên vật liệu
để sản xuất bao bì từ các nhà cung cấp khác
Chuỗi cung ứng luôn hàm chứa tính năng động và nó liên quan đến dòng thông tin nhất định về sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau Trong ví dụ ở trên, Coop Mart cung cấp sản phẩm, cũng như giá cả và sự sẵn sàng về thông tin cho khách hàng Khách hàng sẽ trả tiền cho Coop Mart Coop Mart sẽ truyền tải dữ liệu bán hàng cũng như đơn đặt hàng đến nhà kho hoặc nhà phân phối, và họ sẽ chuyển hàng đến cửa hàng Đổi lại Coop Mart sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng Nhà phân phối cũng cung cấp thông tin về giá cả và gửi lịch trình giao hàng cho Coop Mart
Từ ví dụ trên ta có thể thấy được chuỗi cung ứng là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Từ đó nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm và phân phối chúng một cách nhanh và hiệu quả nhất đến khách hàng
1.1.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng và các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng
Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm công ty, các nhà cung cấp và khách hàng của công ty đó Đây là tập hợp những đối tượng tham gia cơ bản để tạo ra một chuỗi cung ứng cơ bản
Sơ đồ 1.2 Chuỗi cung ứng giản đơn
(Nguồn: Micheal Hugos, 2003)
Trang 21Những chuỗi cung ứng mở rộng có ba loại đối tượng tham gia truyền thống: Loại thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cung cấp cuối cùng
ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng
Loại thứ hai là khách hàng của các khách hàng hay khách hàng cuối cùng ở vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng
Loại thứ ba là tổng thể các công ty cung cấp dịch vụ cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng Đây là các công ty cung cấp dịch vụ về hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin
Trong chuỗi cung ứng cũng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức năng khác nhau Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt những dịch vụ cần thiết
- Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ… và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thuỷ hải sản Các nhà sản xuất thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác
- Nhà phân phối là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất
và phân phối sản phẩm đến khách hàng Nhà phân phối cũng được xem là nhà bán sỉ Nhà phân phối bán sản phẩm cho những nhà kinh doanh khác với số lượng lớn hơn so với khách hàng mua lẻ Do sự biến động nhu cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa, thực hiện bán hàng và phục vụ khách hàng
Một nhà phân phối điển hình là một tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn kho mua
từ nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dùng Ngoài khuyến mãi sản phẩm và bán hàng, có những chức năng khác mà nhà phân phối phải thực hiện là quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng
Nhà phân phối cũng là một tổ chức chỉ đại diện bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở hữu sản phẩm đó Loại nhà phân phối này thực hiện chức năng chính yếu là khuyến mãi và bán sản phẩm
Trang 22Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối là đại lý nắm bắt liên tục nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng mua sản phẩm từ các công ty sản xuất
- Nhà bán lẻ: Tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cũng nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng rất chi tiết Do nỗ lực chính là thu hút khách hàng đối với những sản phẩm mình bán, nhà bán
lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số kỹ thuật kết hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm
- Khách hàng hay người tiêu dung: Là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm Khách hàng là tổ chức có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sử dụng sản phẩm sau mua sản phẩm về tiêu dùng
- Nhà cung cấp dịch vụ: Là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn
và kỹnăng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng Chính vì thế, họ
có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn và với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng làm điều này
Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch
vụ vận tải và dịch vụ nhà kho Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần
Nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp các dịch vụ như cho vay, phân tích tín dụng và thu các khoản nợ đáo hạn Đó chính là ngân hàng, công ty định giá tín dụng
Trang 231.1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung
Trước hết, chuỗi cung ứng cân nhắc đến tất cả các thành phần, đối tượng của chuỗi cung, những tác động của nó đến chi phí và vai trò trong việc sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng, từ nhà cung ứng tới các cơ sở sản xuất thông qua các trung tâm phân phối tới các nhà bán lẻ, các cửa hàng Thực ra trong phân tích chuỗi cung ứng sự cần thiết là phải xét đến người cung cấp của các nhà cung ứng, khách hàng của khách hàng, bởi vì họ tác động tới kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng Thứ hai, mục tiêu của chuỗi cung ứng là kết quả và hiệu quả trên toàn chuỗi cung ứng Tổng chi phí từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất, thành phẩm, cần phải tối thiểu hóa chi phí tới mức thấp nhất Nói cách khác, mục tiêu của chuỗi cung ứng là tối thiểu hóa giá trị tạo ra cho hệ thống, giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực của chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng
Cuối cùng, quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một cách hiệu quả nhà cung cấp, nhà sản xuất, các nhà kho và các cửa hàng, nó bao gồm những hoạt động của công ty ở các cấp độ, từ cấp độ chiến lược tới tác nghiệp
1.1.1.4 Định hướng và kiểm soát chuỗi
Các chuỗi được điều hành bởi một hay hai người đứng đầu chuỗi (được gọi là hoa tiêu hay trường chuỗi), người này xác định nhu cầu của thị trường và điều phối các nguồn của chuỗi để đáp ứng nhu cầu đó Những người lãnh đạo chuỗi đặt ra những tiêu chuẩn kiểm soát các quy trình và dòng thông tin trong chuỗi Họ được hưởng lợi
từ các chức năng đó
Các chuỗi hay các bộ phận trong chuỗi có thể là hợp tác hay cơ hội trong hoạt động, với định hướng được quy định bởi các sức mạnh kinh tế cơ bản điều khiển ngành hoạt động
Các chuỗi hợp tác có khuynh hướng ổn định, có những người tiêu dùng trung thành và cam kết dài hạn giữa các thành viên trong chuỗi cùng làm việc để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng này Những chuỗi như vậy thực sự tuân theo thị trường và
có định hướng chuỗi cung trong đó các thành viên trong chuỗi xem các tổ chức trên hay dưới họ như những người đồng minh và xem những chuỗi cung khác cùng như nhau như những đối thủ cạnh tranh
Trang 24Các thành viên trong chuỗi cơ hội thì ngược lại có khuynh hướng xem các thành viên của chuỗi trên hay dưới mình là những đối thủ cạnh tranh vì thế không đảm bảo được mức độ liên kết cao trong chuỗi Những chuỗi như vậy thì phản ứng rất mạnh với thị trường và nếu thị trường mà chúng hoạt động không ổn định thì bản thân các chuỗi sẽ không ổn định Các thành viên trong chuỗi sẽ hợp nhất lại tạo thành một khối tận dụng các cơ hội xuất hiện trên thị trường và nếu cơ hội này mất đi thì họ lại phân tán ra
1.1.1.5 Chuỗi giá trị và quá trình tạo giá trị trong chuỗi
Chuỗi giá trị, cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm
từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm
1985 trong cuốn sách best-seller của ông có tựa đề: Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance (Tạm dịch: Lợi thế Cạnh tranh: Tạo và duy trì có hiệu suất ở mức cao) Theo ông, chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động để đưa sản phẩm từ một khái niệm cho đến khi đưa vào sử dụng và cả dịch vụ sau bán hàng Như vậy, chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng Những hoạt động này
có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc được chia sẻ giữa các doanh nghiệp khác nhau
Theo mô hình của Micheal Porter: Về cơ bản, trong một chuỗi giá trị có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi
Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động
- Hậu cần đến: Gồm việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào vào sản phẩm như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp
- Sản xuất: Chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm hoàn thành Ví dụ như: gia công
cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất
- Hậu cần ra ngoài: Là những hoạt động kết hợp với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua
- Marketing và bán hàng: Là những hoạt động liên quan đến quảng cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa các thành viên trong kênh và định giá
Trang 25- Dịch vụ khách hàng: Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm
Trong các hoạt động trên thì hậu cần đến và hậu cần ra ngoài là các thành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, là yếu tố chính tạo ra “giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính cho công ty
Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm
- Thu mua: Đó là việc thu mua nguyên vật liệu đầu vào được sử dụng trong chuỗi giá trị của Công ty
- Phát triển công nghệ: Đó là các bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm
-Quản trị nguồn nhân lực: Tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thể nhân viên
- Cơ sở hạ tầng Công ty
Sơ đồ 2.3 Chuỗi giá trị
(Nguồn: Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng) 1.1.1.6 Mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Mọi người sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức Khi con người nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất, họ xem chúng như là các quy trình sản xuất, khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing họ gọi chúng là kênh phân phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi là chuỗi nhu cầu nhưng khi tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu thì ta gọi là chuỗi cung cấp hay chuỗi cung ứng
Trang 26Nhưng một câu hỏi thường đặt ra nhưng chưa có câu trả lời rõ ràng – liên quan đến việc phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung cấp Do đó,
ta cần phân biệt chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng như sau:
Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị rộng hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồm tất cả các hoạt động dưới hình thức của các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Mặt khác, chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động thu mua nguyên vật liệu, vận chuyển, chuyển hóa các đầu vào sản phẩm, phân phối các sản phẩm tới khách hàng đều tồn tại trong chuỗi giá trị Hay chuỗi cung ứng chính là đại diện cho các hoạt động chính của chuỗi giá trị nên chuỗi cung ứng như là tập con của chuỗi giá trị
1.1.1.7 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả
- Tổng giá trị sản xuất (GO):
Tổng giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị sản xuất vật chất và dịch vụ do các cơ sở sản xuất thuộc tất cả các ngành kinh tế quốc dân đạt được trong một thời kỳ nhất định thường là một năm
GO = ∑Qi *Pi
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm i sản xuất ra (kg)
Pi là giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm (ngàn đồng/kg)
- Chi phí trung gian (IC):
Chi phí trung gian là một bộ phận cấu thành của tổng giá trị sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao TSCĐ) và chi phí dịch
vụ (sản phẩm vật chất và phi vật chất) được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm vật chất
và dịch vụ khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định thường là một năm
- Giá trị gia tăng (VA):
Giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa GO và IC, là phần giá trị tăng thêm hay
là phần còn lại của giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian (không kể khấu hao TSCĐ và chi phí lao động gia đình)
VA = GO – IC
Trang 27 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
- Giá trị sản xuất tính cho 1 đồng chi phí (GO/IC): Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí trung gian tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
- Gía trị gia tăng tính cho 1 đồng chi phí (VA/IC): Chỉ tiêu này cho biết cứ đầu tư một đồng chi phí trung gian thì mang lại bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm
- VA/GO: Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị sản xuất thu được thì có bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
1.1.2 Giới thiệu chung về cây Thanh trà
1.1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây Thanh trà
- Rễ: Cây Thanh trà trồng bằng hạt có một rễ cái và nhiều rễ nhánh, rễ có thể mọc sâu 4m trong điều kiện đất tơi xốp và sự thoát hơi nước tốt Nếu trồng Thanh trà bằng cách chiết hoặc dâm cành thì chỉ có rễ chùm, không có rễ cọc, sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất, có nghĩa là khi rễ hoạt động mạnh thì thân cành hoạt động yếu
- Thân cành: Cây Thanh trà thuộc loại thân gỗ cao to trong một năm có thể cho 3-4 đợt cành
+ Cành cho trái: Cành mang trái thường ra trong mùa xuân, cành dài và mau tròn, cành cho trái thường mọc từ cành mẹ
+ Cành mẹ: Là cành tạo ra những cành cho trái thường phát triển trong mùa hè và mùa thu
+ Cành dinh dưỡng chỉ chung tất cả các cành trong giai đoạn chưa cho trái thường mọc ở các mùa trong năm
+ Cành vượt: Là cành dinh dưỡng mọc thẳng lên trong tán cây từ những cành chính trong thân cây này, nên cắt bỏ những cành này vì lâu cho quả
Trang 28- Đường kính tán cây: Nhóm 4 - 5 tuổi đường kính tán cây trung bình 2.29cm Nhóm tuổi từ 6 - 10cm có đường kính tán là 4.35cm Với nhóm tuổi từ 11 - 15cm đường kính là 5.65cm và nhóm tuổi từ 16 - 20, trên 20 đường kính tán lần lượt là 6.25cm và 6.73 cm
- Hoa: Màu trắng, có mùi thơm hấp dẫn, là loại hoa lưỡng tính, hoa mọc đồng thời với cành vào mùa xuân hoặc những cành mẹ vào năm trước Hoa mọc thành từng chùm hoặc mọc đơn có 5 cánh Hoa nở vào tháng 1 và tháng 2 Trong năm có một số hoa trái vụ, có đậu quả nhưng tỷ lệ rất thấp
- Quả Thanh trà: Quả có dạng hình quả lê, trọng lượng từ 500 - 1000 g, kích thước từ 12 - 17cm, vỏ nhẵn, khi chín có màu vàng sáng, số quả trung bình trên cây là 80-200 quả, có cây đạt từ 400- 500 quả, mỗi quả có 13 - 14 múi, tép mọng nước nhưng khô nên bóc không dính tay, quả chín có vị ngọt và chua nhẹ
Tỷ lệ thành phần ăn được từ 50 - 60% Quả chín thu hoạch vào tháng 8 đến cuối tháng 9, thu hoạch trái vụ so với bưởi khác ở miền bắc và miền nam, đây là một lợi thế cạnh tranh của cây bưởi Thanh trà
- Hạt: Đơn phôi có màu trắng, kích thước hạt 1,5 x 0,8 cm Số hạt trên quả thường là 20 –100 hạt Công tác tuyển chọn, quả ít hạt là tiêu chuẩn để chọn dòng
Có thể khẳng định rằng Thanh trà là một loại đặc sản đặc hữu của Thừa Thiên Huế, có khả năng thích nghi tốt, phát triển lâu bền và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Do đó, việc đầu tư phát triển kinh tế là rất cần thiết
b, Yêu cầu ngoại cảnh
- Nhiệt độ: Cây Thanh trà có thể trồng và phát triển trong nhiệt độ từ 13-30 nhiệt
độ thích hợp nhất là từ 23-29
- Ánh sáng: Thanh trà là cây ưa sáng
- Lượng mưa: Cây Thanh trà cần lượng mưa hàng năm là 3000mm/năm, nếu trong điều kiện ngập úng kéo dài (5-7 ngày) thì rể cây sẽ bị thối, vàng lá và cây sẽ chết
- Đất đai: Đất đai phù hợp cho cây Thanh trà sinh trưởng phát triển tốt là đất phù
sa được bồi tụ, thành phần cơ giới thịt nhẹ, thoát hơi nước tốt thoáng khí, tầng đất canh tác trên 1m, độ PH thích hợp nhất là 6 - 6,5
Trang 291.1.2.2 Vai trò và giá trị cây Thanh trà đối với đời sống con người
* Giá trị dinh dưỡng: Cây Thanh trà là loại cây đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao
Quả Thanh trà rất giàu vitamin C (40.25 mg/100g- 52.70 mg/100g), ngoài ra trong quả còn chứa hàm lượng đường từ 5.0- 5.7%, axit hữu cơ 0.5- 0.6%, nước và các vitamin
A, B, B2, cùng một số ion khoáng như Ca, P, Fe, là những chất rất cần thiết với sức khoẻ con người
* Giá trị về mặt y học: Ngoài giá trị dinh dưỡng cao cây Thanh trà và các sản
phẩm từ Thanh trà còn có ý nghĩa về mặt y học Đông y cho rằng mỗi bộ phận của quả Thanh trà đều có tác dụng riêng:
- Vỏ ngoài chứa tinh dầu, vị cay, đắng, ngọt, tính ấm, có tác dụng hoá đàm, trị
ho, lí khí, giảm đau và có thể chữa được bệnh đau dạ dày và một số bệnh khác Chất pectin trong vỏ quả còn có tác dụng chống nhiễm xạ Ngoài ra chúng có tác dụng hỗ trợ tiêu hoá và trị cảm cúm, có tác dụng bảo vệ thành mao mạch, giảm tính thấm, giúp cho mao mạch đàn hồi và bền vững hơn Từ đó giúp ngăn ngừa các tai biến do vỡ các mao mạch, gián tiếp giúp hạ huyết áp Một số người còn dùng vỏ ngoài quả Thanh trà
để xoa lên đầu kích thích lỗ chân lông, phòng trị bệnh hói đầu hay rụng tóc
- Hạt Thanh trà: Hạt có vị đắng, tính ấm, chứa chất béo, có tác dụng trị đau thoải bẹn, sa dì
- Lá Thanh trà: Lá có vị đắng, the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tán khí, thông lạc, giải cảm, trừ đờm, tiêu thực, hoại huyết, tiêu sưng, tiêu viêm
* Giá trị công nghiệp: Ngoài sử dụng tươi như các bưởi khác, bưởi Thanh trà còn
là nguyên liệu của công nghiệp chế biến nước hoa, dầu gội đầu và các loại mĩ phẩm khác Công nghiệp chế biến đã góp phần nâng cao giá trị cây Thanh trà
* Giá trị kinh tế- xã hội- môi trường: Cây Thanh trà mang lại giá trị dinh dưỡng
cao Trồng bưởi Thanh trà cho thu hoạch và lợi nhuận thu được cao hơn nhiều so với một số loại cây trồng khác Ở nước ta một ha trồng Thanh trà cho thu nhập gấp 8 đến 10 lần so với trồng lúa và trồng lạc.Vì thế, có thể nói rằng ở những vùng trồng Thanh trà phát triển thì cuộc sống người dân nơi đó không những ổn định hơn những vùng độc canh cây lương thực, mang lại thu nhập cao mà còn góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn, mang lại nguồn thu ngân sách ổn định lâu dài cho địa phương
Trang 30Bên cạnh có ý nghĩa kinh tế thiết thực trồng Thanh trà còn có tác dụng bảo vệ môi trường rất lớn, góp phần làm không khí trong lành, giảm tiếng ồn Ngoài ra còn giúp tận dụng được quỹ đất, tăng mật độ cây xanh, tạo môi trường cảnh quan sinh thái, tạo thuận lợi cho du lịch nhà vườn phát triển lâu bền cho người dân địa phương
1.1.2.3 Kĩ thuật canh tác
- Nhân giống: Có hai phương pháp nhân giống chính là:
+ Nhân giống hữu tính: Bằng hạt (chỉ sử dụng làm gốc ghép hoặc công tác lai tạo) + Nhân giống vô tính: Đối với thanh trà chiết ghép có hai phương pháp được sử dụng rộng rãi bởi vì có nhiều ưu điểm
- Trồng và chăm sóc:
+ Thời vụ: Tốt nhất là trồng sau Đông chí (22 tháng 12 Âm lịch)
+ Khoảng cách và mật độ: Khoảng 6x7(m) hoặc 7x7(m); mật độ 204-238 cây/ha + Chuẩn bị đất trồng:
Đào hố trước khi trồng 4 đến 5 tháng - kích cỡ 60x60x60(cm); bón 50-100kg phân chuồng và 1 - 1,5kg phân lân nung chảy/ hố, trộn đều với đất cho đầy hố
Khi đào hố nên để tầng đất mặt sang một bên, khi lấn hố cho tầng đất mặt xuống trước Hố đào càng sớm càng tốt, nên đào trước mùa mưa
Trên chân đất thường xuyên bị ngập úng đắp mô cao từ 30-60cm so với mặt đất, đường kính khoảng 1m để thoát nước tốt, tránh cho cây khỏi bị úng trong mùa mưa Khi cây càng lớn thì đắp mô càng rộng theo tán cây
+ Cách trồng: Đào hố nhỏ vừa đặt bầu cây, xé bầu đặt cây xuống, cắm cọc, giữ chặt cây con, lắp đất chặt bầu, sau khi trồng nên tưới cho ướt đẫm, dùng rơm rạ hoặc
cỏ khô tủ xung quanh gốc
+ Tưới tiêu, làm cỏ: Nên tưới nước đủ cho Thanh trà vào mùa nắng và tiêu nước vào mùa mưa, làm cỏ xung quanh tán cây kết hợp với bón phân
+ Bón phân: Tuỳ tình trạng sinh trưởng và phát triển của cây, độ phì của đất để bón phân
+ Phòng trừ sâu bệnh: Trên cây Thanh trà có rất nhiều loại sâu bệnh hại cây gây ảnh hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất quả sau này Tuỳ từng loại sâu bệnh mà có các cách phòng trừ riêng, hạn chế sử dụng các biện pháp hoá học
Trang 31- Thu hoạch:
Sau khi trồng 2 - 4 năm cây bắt đầu cho thu hoạch những quả Thanh trà đầu tiên, khi vỏ ngoài của quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng xanh,vỏ trái láng bóng thì thu hoạch Thời gian hái tốt nhất là từ 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều, nên hái vào những ngày khô ráo, không nên làm xây xát quả, dùng kéo để cắt cuống và tốt nhất là xử lý vết cắt bằng thuốc bảo vệ thực vật hoặc vôi
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ Thanh trà
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất, cần phải thấy rõ tác động của các yếu tố bên ngoài đến kết quả đạt được Từ đó thấy được những điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát huy, đồng thời phát hiện được những khó khăn, hạn chế để
có kế hoạch điều chỉnh kịp thời và hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi đến quá trình sản xuất đó Sự phát triển của quá trình sản xuất Thanh trà thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
1.1.3.1 Các nhân tố tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng của Thanh trà Thời tiết khí hậu thuận lợi sẽ đẩy nhanh quá trình sinh trưởng và phát triển cây Thanh trà, ngược lại nếu thời tiết không thuận lợi thì cây không thể phát triển tốt,
sự ra hoa và kết trái không thuận lợi làm giảm năng suất và sản lượng Thanh trà sau này Thanh trà là cây ưa sáng và thích hợp với nhiệt độ từ 23-29oC Do đó nếu nhiệt độ xuống thấp và thiếu ánh sáng thì cây sẽ ra hoa muộn, ít, dễ rụng, khó đậu quả, khi đó hiệu quả thu được không cao Cây Thanh trà là cây lâu năm nên rủi ro rất lớn do bão, lụt có thể gây đổ cây hoặc ngập úng trên diện rộng, dễ gây thối rễ ảnh hưởng đến kết
Trang 32quả của quá trình sản xuất Vì vậy cần có những biện pháp nhằm giảm bớt ảnh hưởng của mưa bão như có chế độ thoát nước về mùa mưa hay nâng đất, chống sào cho cây
Về đất đai, Yếu tố đất đai đã làm nên sự khác biệt của bưởi Thanh trà với các loại bưởi khác, làm thành đặc sản bưởi Thanh trà Huế Nếu lấy giống bưởi Thanh trà chính gốc về trồng ở một địa phương khác thì chất lượng quả không được bằng Thanh trà gốc Bưởi Thanh trà cho chất lượng tốt và năng suất cao nếu được trồng trên loại đất phù sa phù hợp nhất, việc lựa chọn đất trồng cho phù hợp sẽ quyết định năng suất và sản lượng Thanh trà Nếu trồng trên đất không phù hợp thì cây Thanh trà sẽ còi cọc, sau này sẽ cho sản lượng và chất lượng quả thấp
1.1.3.2 Các nhân tố xã hội:
- Lao động:
Như ta đã biết, lao động là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất của cây trồng Đặc biệt đối với Thanh trà đòi hỏi có sự chăm sóc cẩn thận và tỉ mỉ, vì vậy lực lượng lao động phải được đào tạo những kỹ thuật cơ bản về cách trồng, cách chăm sóc và thu hoạch Thanh trà mới có thể tạo ra trái Thanh trà chất lượng cao, đồng đều Trong sản xuất Thanh trà lực lượng lao động tập trung chủ yếu vào thời gian cây sắp ra hoa, kết quả và thu hoạch quả Vì trong thời gian này cây rất cần nước, tỉa cành cắt bớt hoa, trái và hái trái nên đây là thời gian tốn nhiều công lao động
- Vốn và tư liệu sản xuất:
Đây là hai yếu tố quan trọng hàng đầu trong mọi hoạt động sản xuất Vốn là điều kiện cơ bản đầu tiên cần có để tiến hành hoạt động sản xuất, nếu không có vốn thì quá trình sản xuất sẽ bị ngưng trệ, khó tiến hành được Phát triển cây Thanh trà yêu cầu vốn đầu tư tương đối cao về vật tư nông nghiệp vì thời kỳ kiến thiết cơ bản tương đối dài nên hầu hết các hộ trồng Thanh trà đều không chủ động được vốn và thường phải vay mượn nhiều nơi Các tư liệu sản xuất khác như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật quyết định đến năng suất và chất lượng quả Thanh trà
- Thị trường, giá cả:
Thị trường và giá cả là hai yếu tố tác động trực tiếp đến ý thức sản xuất của người dân Những biến động về giá của Thanh trà trên thị trường sẽ ảnh hưởng đến tâm lí của các hộ sản xuất Nếu giá cao sẽ kích thích việc đầu tư mở rộng sản xuất, ngược lại giá thấp sẽ kìm hãm việc đầu tư cho sản xuất
Trang 33Thanh trà nếu được bảo quản theo cách truyền thống thì sẽ giữ được một tháng, còn bảo quản bằng phương pháp màng chống thấm BQE-1 thì kéo dài thời gian bảo quản tươi mà vẫn đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng của quả Vì vậy người trồng Thanh trà phải chủ động trong khâu tiêu thụ để giữ được hương vị đặc trưng của Thanh trà Hiện nay, thị trường tiêu thụ Thanh trà ngày càng được mở rộng không chỉ trong tỉnh nhà mà còn trong nước như Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị và cả thị trường nước khác như Lào, Thái Lan
kỹ thuật thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phẩm chất, chất lượng của sản phẩm cây trồng, đồng thời kết quả thu được sẽ không cao Do đó cần có các chương trình hỗ trợ về giống cây trồng, tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân, thực hiện các chương trình như giới thiệu các mô hình nông dân sản xuất giỏi, đúng kỹ thuật, chuyển giao khoa học công nghệ, thông tin về giá cả thị trường Để có chương trình hỗ trợ sản xuất cần có sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của các ban ngành có liên quan
+ Chính sách tín dụng: Đây là yếu tố hết sức quan trọng đối với việc mở rộng vùng sản xuất Thanh trà Chính sách này phù hợp sẽ có tác dụng hỗ trợ vốn cho người sản xuất nhằm đầu tư phát triển Thanh trà ổn định, làm tăng thu nhập cho người dân và tạo công ăn việc làm cho người lao động
1.1.3.3 Nhóm các nhân tố kỹ thuật:
+ Giống: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất và phẩm chất quả Thanh trà Giống tốt thì sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt và ngược lại
Trang 34+ Phân bón: Là yếu tố cung cấp chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển tốt Tuy nhiên, lượng phân bón cung cấp phải được phối hợp một cách cân đối, hợp lý giữa các loại phân và đúng thời điểm thì mới cho kết quả tốt Ngược lại, nếu bón phân không hợp lý và đúng thời điểm dẩn đến sự sinh trưởng và phát triển mất cân đối cho cây Thanh trà, sâu bệnh có điều kiện phát triển và gây hại
+ Bảo vệ thực vật: Công tác phòng trừ sâu bệnh là một trong những khâu vô cùng quan trọng trong ngành trồng trọt Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới sẽ tạo điều kiện sẽ tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh phát triển Chính vì vậy mà việc áp dụng các phương pháp BVTV để phòng chống sâu bệnh là yếu tố cần thiết Tuy nhiên việc bảo vệ cây phải đi đôi với bảo vệ môi trường
+ Thuỷ lợi: Nước là yếu tố vô cùng quan trọng đối với cây Thanh trà Không có nước thì cây Thanh trà không thể phát triển được dẫn đến năng suất và phẩm chất quả Thanh trà kém Do đó cần phải cung cấp đủ nước cho cây vào mùa nắng và tiêu nước cho cây vào mùa mưa
Như vậy người nông dân cần chú trọng công tác chọn giống tốt đồng thời cần bón phân đầy đủ, đúng kỹ thuật và kịp thời phát hiện, xử lí các loại sâu bệnh gây hại cho cây Hiện nay mặc dù phần lớn các hộ nông dân đều đã được đi tập huấn về kỹ thuật chăm sóc cây Thanh trà những người nông dân chủ yếu vẫn còn sản xuất tự phát, dựa vào kinh nghiệm bản thân là chính Do đó cần phải nâng cao ý thức người nông dân thông qua các buổi nói chuyện, trao đổi kinh nghiệm với những người làm vườn giỏi hoặc các chuyên gia để nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất của cây Thanh trà
mà vẫn giữ được những thuộc tính truyền thống đặc trưng của nó
1.2 Cơ sở Thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở Việt Nam
Cả nước hiện có khoảng 765.000 ha cây ăn trái, sản lượng hơn 6,5 triệu tấn với những loại trái cây chủ yếu như: dứa, chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, thanh long, vải thiều, nhãn, chôm chôm, sầu riêng Kim ngạch xuất khẩu trái cây trong những năm gần đây dao động ở khoảng 150 - 180 triệu USD/năm Tuy nhiên, các loại cây ăn trái đang trồng hầu hết đều cho năng suất không cao, chất lượng kém (không đẹp, kích cỡ không đều, vị không đặc trưng), giá thành cao, nên khả năng cạnh tranh thấp Điều này dẫn tới cây ăn trái nước
ta đang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Trang 35Nói đến cây ăn quả, thì bưởi là một loại cây được trồng nhiều ở nước ta Việt Nam có nhiều giống bưởi ngon, được người tiêu dùng đánh giá cao như bưởi Năm roi,
Da xanh, Phúc Trạch, Thanh Trà, Diễn, Đoan Hùng…Tuy nhiên, chỉ có bưởi Năm Roi
là có sản lượng mang ý nghĩa hàng hoá lớn Tổng diện tích bưởi Năm Roi là 9,2 ngàn
ha, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long (diện tích 4,5 ngàn ha cho sản lượng 31,3 ngàn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng bưởi Năm Roi cả nước); trong
đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 ngàn ha đạt sản lượng gần 30 ngàn tấn Tiếp theo
là tỉnh Hậu Giang với 1,3 ngàn ha
Theo các tác giả Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca (Trần Thế Tục, 1995) nước ta có ba vùng trồng các loại cam, quýt, bưởi chủ yếu là:
+ Vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Ở đây có một tập đoàn cam quýt rất phong phú như: cam chanh, cam sành, cam giấy, bưởi, quýt, quất Các giống được ưa chuộng
và trồng hiện nay là cam sành, cam mật, quýt Đường, quýt Tiều, đặc biệt có bưởi Năm roi, bưởi Long Tuyền
+ Vùng Bắc Trung Bộ: Ở đây có loại cam quýt phong phú, đặc biệt vùng có đặc sản bưởi Thanh Trà của Huế và bưởi Phúc Trạch của Hà Tĩnh, với nhu cầu và giá trị kinh tế đem lại cao, diện tích bưởi ngày được mở rộng
+ Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Cam quýt ở vùng này được trồng ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gấm, sông Thuỷ, sông Chảy… Riêng cây bưởi vùng này có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây có múi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng (Nguyễn Thanh Phong, 2008)
Nhìn chung cây bưởi rất đa dạng và phong phú, hiện nay nước ta có khoảng 100 giống bưởi được trồng rải rác khắp nơi Bưởi không được trồng tập trung mà chỉ được trồng trong các vườn gia đình Diện tích trồng bưởi cũng ít hơn các loài cam, quýt khác Bưởi chưa trở thành hàng hoá thương mại trên thế giới, chủ yếu tiêu thụ nội địa
và chỉ có ở những vùng hạn hẹp nhất định
1.2.2 Tình hình sản xuất Thanh Trà ở Tỉnh Thừa Thiên Huế
1.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Thanh trà
Trồng Thanh trà đã xuất hiện từ lâu ở Thừa Thiên Huế, tuy trước đây chưa mấy ai quan tâm đến việc sản xuất Thanh Trà, chỉ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu
Trang 36dùng của gia đình, họ hàng xung quanh Những năm gần đây nhận thấy giá trị kinh
tế mà cây bưởi Thanh Trà mang lại nên nghề trồng Thanh Trà đã chú ý được khôi phục và phát triển Đặc biệt khi Thanh Trà ở Huế đã đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với Cục sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học Công nghệ) về trái Thanh trà với tên gọi “Thanh Trà Huế” thì cây bưởi Thanh Trà ngày càng được mở rộng về diện tích
và phạm vi tiêu thụ
Theo thống kê của Trung tâm thực nghiệm và giống cây ăn quả Thừa Thiên-Huế, chỉ tính từ năm 2000 đến nay, diện tích cây Thanh trà được trồng mới trên địa bàn toàn tỉnh đã đạt trên 250 ha, nâng tổng diện tích Thanh trà trên toàn tỉnh lên hơn 1200 ha tập trung ở thành phố Huế và các huyện Hương Trà, Phong Điền, Phú Vang cụ thể: huyện Hương Trà: 481 ha; Phong Điền: 258 ha; Quảng Điền: 50 ha; Phú Lộc: 60 ha; thị xã Hương Thủy: 105 ha và ở thành phố huế: 157 ha
Kết quả điều tra về thực trạng kỹ thuật canh tác bưởi Thanh Trà tại Thừa Thiên Huế của Viện Nghiên cứu Rau quả cho thấy, có khoảng 90 % số hộ dân sử dụng phân bón cho Thanh trà và loại phân được sử dụng phổ biến nhất là phân bón tổng hợp NPK Các loại phân đơn như urê, supe lân và các loại phân kali rất ít được người dân trồng bưởi Thanh Trà quan tâm sử dụng; một số ít hộ có sử dụng phân chuồng Hầu hết người nông dân trồng bưởi đã nắm được phương pháp bón phân Về tưới nước cho bưởi Thanh Trà, có khoảng 50% số hộ nông dân trồng bưởi có áp dụng biện pháp kỹ thuật tưới nước ở các mức độ thường xuyên khác nhau; khoảng 10% số hộ cung cấp nước tưới đầy đủ theo quy trình kỹ thuật canh tác được khuyến cáo; một nửa số hộ còn lại không tưới cho cây bưởi Thanh Trà trong suốt chu kỳ canh tác
Về kỹ thuật cắt tỉa, hầu hết các hộ dân trồng bưởi không thực hiện việc cắt tỉa hoặc cắt tỉa không đảm bảo quy trình; cây bưởi hoàn toàn được để sinh trưởng phát triển và ra hoa đậu quả tự nhiên Về sâu bệnh gây hại, có rất nhiều loại sâu bệnh hại gây hại trên cây bưởi Thanh Trà như sâu nhớt, câu cấu, nhện đỏ, sâu vẽ bùa, bệnh loét, bệnh chảy gôm,… Đối tượng bệnh hại nguy hiểm nhất đối với cây bưởi Thanh Trà hiện tại là bệnh chảy gôm Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây bưởi Thanh Trà đang còn rất hạn chế.Thực trạng về
Trang 37việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác trên cây bưởi Thanh Trà tại Thừa Thiên Huế đã dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của nhiều vườn bưởi Thanh Trà, đặc biệt là những vườn cây nhiều tuổi Về biện pháp kỹ thuật thu hái, gần như tất cả các hộ nông dân đều thu hái bằng tay hoặc bằng những dụng cụ thô sơ như liềm, sào; ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật thu hái đến chất lượng, khả năng bảo quản quả sau thu hái chưa được người nông dân quan tâm Hầu như chưa có các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản, chế biến bưởi Thanh Trà được đưa vào áp dụng tại Thừa Thiên Huế; khoảng trên 90% số
hộ nông dân thu hái bưởi Thanh Trà về để tự nhiên hoặc đưa vào bảo quản bằng các phương pháp thủ công
Về giá trị và hiệu quả kinh tế, thu nhập từ bưởi Thanh Trà đã có đóng góp lớn trong tổng nguồn thu của hộ gia đình trong năm với các vùng trồng bưởi Thanh Trà tập trung như Thủy Biều, Hương Vân … Về phương thức tiêu thụ, hầu hết sản phấm của các hộ nông dân được bán tại nhà cho thương lái (83%), số còn lại được người nông dân đưa đi bán lẻ tại các chợ của địa phương Tương tự như việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, việc bao gói, vận chuyển sản phẩm của người nông dân, của thương lái từ vườn trồng tới nơi tiêu thụ chủ yếu bằng các phương tiện vận chuyển như xe máy, xe đạp hoặc quang gánh
Bưởi Thanh Trà là cây ăn quả đặc sản của Thừa Thiên Huế, rất phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh và được tỉnh áp dụng nhiều chính sách ưu tiên cho phát triển Cùng với các lợi thế về sự phù hợp với điều kiện sinh thái, sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, người nông dân các vùng trồng bưởi tập trung của Thừa Thiên Huế rất cần cù, có nhiều kinh nghiệm sản xuất cây bưởi Thanh trà cùng với thị trường tiêu thụ đang còn rất rộng mở, cây bưởi Thanh trà đang có nhiều điều kiện để phát triển tại Thừa Thiên Huế Và để duy trì, phát triển cây bưởi Thanh Trà - một đặc sản của Thừa Thiên Huế một cách ổn định, cần tăng cường đưa các tiến bộ kỹ thuật từ khâu trồng, chăm sóc đến thu hái, bảo quản sản phẩm quả vào áp dụng rộng rãi trong sản xuất; tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển sản xuất và đặc biệt là nâng cao trình độ canh tác cho người nông dân, từng bước áp dụng sản xuất bưởi Thanh Trà theo hướng GAP
Trang 381.2.2.2 Hoạt động xây dựng Thương hiệu Thanh trà Huế
Tháng 8/2005 HTX NN Thủy Biều, đơn vị đại diện đứng ra đăng ký nhãn hiệu tập thể cho “Thanh trà Huế” hoàn chỉnh hồ sơ và đăng ký nộp đơn đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu “Thanh trà Huế” với cục sở hữu trí tuệ
Đến tháng 8/2007 cục sở hữu trí tuệ có quyết định cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Thanh trà Huế” và được xác lập quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu hàng hóa và được pháp luật bảo hộ
Trong những năm vừa qua, để đưa thương hiệu Thanh trà huế phát triển trên thị trường, hằng năm đã có nhiều hoạt động quảng bá thương hiệu như thực hiện các đoạn phóng sự ngắn, đăng ký trên báo để giới thiệu sản phẩm, đưa sản phẩm tham gia các hội chợ…
Để mở rộng phạm vi hoạt động thương hiệu “Thanh trà Huế”, trong năm 2011 HTX NN Thủy Biểu từ dự án quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Thanh trà Huế, đã triển khai thêm năm vùng dự án mở rộng:
- Xã Phong Thu Huyện Phong Điền
- Xã Hương Vân và Hương Hồ Huyện Hương Trà
- Xã Quảng Phú Huyện Quảng Điền
- Xã Thủy Bằng Huyện Hương Thủy
Qua năm vùng dự án mở rộng tổng số thành viên đăng ký đủ điều kiện sử dụng nhãn hiệu tập thể Thanh trà Huế hiện nay là 136 thành viên Đây là những vùng có quy
mô diện tích lớn và thị trường tiêu thụ sản phẩm, mỗi vùng có một đặc thù riêng Khi
có điều kiện sẽ liên kết và cùng phối hợp làm cầu nối sản lượng lớn cung ứng cho thị trường trong nước và quốc tế
Trang 39Chương II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG THANH TRÀ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THỦY BIỀU, THÀNH PHỐ HUẾ
2.1 Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý của phường Thủy Biều
Thuỷ Biều là phường vùng ven của Thành phố huế, cách trung tâm Thành phốkhoảng 4 km về phía Tây Nam, nằm trên lưu vực sông Hương đối diện với chùa Thiên Mụ, di tích Văn Thánh, địa hình tương đối bằng phẳng Xã Thủy Biều được hình thành trước năm 1945 gồm 2 làng cổ là Nguyệt Biều (hình thành vào thế kỷ XVI)
và Lương Quán (hình thành vào thế kỷ XVII) thuộc Tổng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên Đến ngày 25 tháng 3 năm 2010 xã Thủy Biều được Chính phủ
ra Nghị quyết công nhận thành lập phường Thủy Biều, có địa giới hành chính giáp với các phường:
- Phía Đông giáp với phường Thuỷ Xuân, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Tây giáp phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Nam giáp với xã Thuỷ Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Bắc giáp phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1.2 Địa hình đất đai
Nhìn tổng thể phường Thuỷ Biều như một bán đảo nhỏ, đẹp, địa hình thoải dần
từ Đông sang Tây, diện tích đất tự nhiên là 657,3ha, có vùng đồi thấp chiếm khoảng 20% diện tích toàn phường và nằm dồn về phía Đông của phường, còn lại chủ yếu là vùng đồng bằng
- Đất phù sa được bồi: Khoảng 325ha
Thành phần cơ giới: Phần lớn là đất thịt nhẹ Riêng phần bãi bồi sát sông Hương
ở Lương Quán khoảng 25ha có thành phần cơ giới cát pha Độ dài tầng đất lớn hơn
100 cm Phân bố dọc theo sông Hương thuộc các thôn: Lương Quán, Trung Thượng, Đông Phước Đây là loại đất màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển, đặc biệt là cây đặc sản Thanh trà
Trang 40- Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét: Có khoảng 150ha
Thành phần cơ giới: Đất thịt nhẹ, độ dày tầng đất nhỏ hơn 30cm, phân bố chủ yếu ở hai thôn Trường Đá và Long Thọ
- Đất biến đổi do trồng lúa: Diện tích khoảng 97ha, nằm giữa 2 vùng đất trên Thành phần cơ giới là đất thịt nhẹ Độ dày tầng đất trên 100cm
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
- Nhiệt độ và giờ nắng: Nhiệt độ trung bình/năm là 24 -25, số ngày nhiệt độ dưới
15 không nhiều Tổng nhiệt độ/ năm là 8700-9000, nhiệt độ thấp nhất: 9, cao nhất là
41 Số giờ nắng >1900 giờ /năm
- Lượng mưa: Lượng mưa hằng năm biến động từ 2.600 – 2.800 mm, số ngày mưa trung bình từ 140 – 150 ngày/ năm Tuy nhiên, do chế độ mưa theo mùa, lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm nên cũng gây ra bất lợi cho vây ăn quả trong đó có cây Thanh trà Ở Thủy biều, mùa mưa chia thành 2 thời kì: + Mùa ít mưa: Từ tháng 1 đến tháng 8, tỷ trọng chiếm từ 25 – 25% tổng lượng mưa hằng năm Do chịu ảnh hưởng của gió tây nam khô nóng và tình trạng khô hanh dẫn đến tình trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp
+ Mùa mưa nhiều: Tập trung trong 4 tháng từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, chiếm khoảng 74 -75% so với tổng lượng mưa hằng năm
- Độ ẩm và không khí: Cũng như Thành phố Huế, độ ẩm trên địa bàn Phường Thủy Biều chia làm hai kì: Từ tháng 4 đến tháng 8 và từ tháng 8 kéo dài đến tháng 3 năm sau Cụ thể, thời kì độ ẩm không khí thấp kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, tương ứng với thời gian có gió tây nam khô nóng, ẩm độ trung bình từ 63% – 73 %, có khi độ
ẩm xuống dưới 50% Độ ẩm tăng nhanh khi bắt đầu vào mùa mưa và kéo dài cho đến tháng 3 năm sau
- Lũ lụt: Do được bao bọc bởi sông Hương nên phường Thủy biều chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trận lũ lụt, các trận lũ thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng
11 trong năm Sau mỗi trận lũ các vườn cây đều được bồi đắp phù sa, tuy nhiên, lũ lụt cũng gây nên những thiệt hại không nhỏ đối với hoạt động nông nghiệp trên địa bàn phường