Mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí (lấy ví dụ thực tế tại Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí PVEP)
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS Đỗ Đức Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt quá trình hoàn thành bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí, đặc biệt là ông Nguyễn Quốc Việt-trưởng phòng Dự án mới_PVEP đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và đóng góp ý kiến để em hoàn thành bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Lê Thị Vân Anh
Trang 2Danh mục bảng biểu
Bảng 1 Tiềm năng dầu khí khu vực Đông Nam Á 26
Bảng 2 Tiềm năng dầu khí khu vực Trung Đông và Bắc Phi 28
Bảng 3 Tiềm năng dầu khí khu vực Nga và các nước vùng Ca-xpiên 29
Hình 4 Phân chia lô ngoài khơi Ma-lai-xia 34
Hình 9 Trữ lượng và tiềm năng dầu khí Việt Nam 60
Hình 10 Sản lượng dầu khí dự báo giai đoạn 2007-2025 61
Trang 3Danh mục chữ viết tắt
UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
PV-Petrovietnam: Tập đoàn dầu khí Quốc Gia Việt Nam
PVEP: Tổng Công ty Thăm dò Khai Thác Dầu khí
M&A: hoạt động mua lại và sáp nhập
FDI: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
GDP: tổng sản phẩm quốc nội
Trang 4Mục lục
Lời mở đầu 1
Chương 1 Một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 3
1.1 Khái niệm phân loại và động lực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức đầu tư 3
1.1.2.1 Phân loại theo phương thức thực hiện 4
1.1.3 Động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp 5
1.2 Tác động của hoạt động đầu tư ra nước ngoài 7
1.2.1 Đối với nước đi đầu tư 7
1.2.1.1 Tích cực 7
1.2.1.2 Tiêu cực 8
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư 9
1.2.2.1 Tích cực 9
1.2.2.2 Tiêu cực 10
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư ra nước ngoài 12
1.4 Kinh nghiệm quốc tế hoá của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới 13
1.4.1 Petronas 13
1.4.2 Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC) 15
1.4.3 Pertamina 16
1.4.4 PTTEP 16
Chương 2
Trang 52.1 Khái quát tình hình hiện tại của PVEP 19
2.2 Hiện trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài.21 2.2.1 Các phương thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài 21
2.2.1.1 Mua tài sản dầu khí 22
2.2.1.2 Thăm dò diện tích mới 23
2.2.1.3 Trao đổi cổ phần 24
2.2.2 Các khu vực trọng điểm 25
2.2.2.2 Trung Đông và Bắc Phi 26
2.2.2.3 Nga và các nước vùng Ca-xpiên 29
2.2.3 Các dự án hiện tại ở nước ngoài 30
2.2.3.1 Các dự án hiện có 30
2.2.3.2 Các dự án đang đánh giá, đàm phán 39
2.3 Đánh giá chung 40
2.3.1 Thuận lợi 40
2.3.2 Khó khăn 51
2.3.3 Thành công 52
2.3.4 Hạn chế 52
2.3.5 Nguyên nhân 53
Chương 3 Định hướng phát triển trong thời gian tới và giải pháp kiến nghị 55
3.1 Xu hướng phát triển của hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí trên thế giới 55
3.1.1 Những diễn biến lớn liên quan đến hoạt động thăm dò khai thác dầu khí .55 3.1.2 Điều chỉnh chiến lược của các công ty dầu khí 56
3.2 Dự báo nhu cầu năng lượng trong nước thời gian tới 57
3.2.1 Dự báo nhu cầu năng lượng trong nước 57
3.2.2 Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam 59
3.3 Cơ hội và thách thức 62
3.3.1 Cơ hội 62
Trang 63.3.2 Thách thức 62
3.4 Định hướng chiến lược phát triển 63
3.4.1 Quan điểm chiến lược phát triển ngành 63
3.4.2 Định hướng triển khai hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác ở nước ngoài
64 3.5 Giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí 65
3.5.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động đầu tư thăm dò khai thác ra nước ngoài 66
3.5.2 Đa dạng hóa phương thức đầu tư 67
3.5.3 Đổi mới phương pháp tiếp cận và đánh giá dự án 68
3.5.4 Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động theo xu hướng hội nhập và quốc tế hóa 69
3.5.5 Giải pháp về vốn 70
3.5.6 Phát triển mạnh nguồn nhân lực 71
Kết luận 73
Danh mục tài liệu tham khảo 74
Trang 7Lời mở đầu
Ngành dầu khí là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước và được sự quantâm to lớn của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, ngành dầu khí ViệtNam đã có những bước tiến bộ vượt bậc với tổng sản lượng khai thác đạt trên 100triệu tấn (đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á về khai thác dầu thô) và đã triểnkhai hoạt động một cách toàn diện từ khâu thăm dò khai thác đến tàng trữ, xử lý,vận chuyển, phân phối sản phẩm, lọc hoá dầu và dịch vụ Từ chỗ hoạt động bằngvốn ngân sách, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tạo đượcnguồn tích luỹ đầu tư phát triển, có đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước và
là nhân tố quan trọng góp phần đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng trongđầu thập kỷ 90 Tuy nhiên, kết quả thăm dò khai thác dầu khí trong nước nhữngnăm qua cho thấy trữ lượng dầu khí của Việt Nam không nhiều, điều kiện khaithác dầu khí ngày càng khó khăn, do vậy trong tương lai nước ta cần có thêmnguồn cung cấp bổ sung từ nước ngoài
Thực hiện đầu tư vào lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài là triểnkhai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng Petrovietnam thànhmột tập đoàn kinh tế mạnh có hoạt động thăm dò khai thác cả ở trong và ngoàinước, gia tăng trữ lượng dầu khí làm cơ sở cho sự tăng trưởng của ngành, đồngthời góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế quốcdân
Để triển khai chủ trương chiến lược trên, Petrovietnam đã thống nhất chứcnăng nhiệm vụ của từng bộ phận trong Tập đoàn, giao toàn bộ công tác tìm kiếmthăm dò cả trong và ngoài nước cho Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí(PVEP) Đây là một bước đi rất đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnhđạo Tập đoàn muốn triển khai hoạt động của mình một cách chuyên nghiệp Việcphân công rõ ràng chức năng nhiệm vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để từng đơn vị cóthể đưa ra phương hướng triển khai phù hợp với môi trường kinh doanh quốc tếcũng như tiềm lực của mình
Trang 8Trên cơ sở thực tế đã được tìm hiểu trong quá trình thực tập tại Tổng Công ty
Thăm dò Khai thác Dầu khí, em đã lựa chọn đề tài luận văn: “Mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí (lấy ví dụ thực tế tại Tổng Công
ty Thăm dò Khai thác Dầu khí PVEP)” Mục đích của đề tài là trên cơ sở phân
tích tình hình thực tiễn trong và ngoài Tổng Công ty, đề xuất các giải pháp có thểthực hiện để việc đầu tư ra nước ngoài của PVEP được thuận lợi và đạt hiệu quảnhư mong muốn
Luận văn có kết cấu gồm 3 phần:
Chương 1 Một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 2 Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khíChương 3 Định hướng phát triển trong thời gian tới và giải pháp kiến nghị
Trong quá trình nghiên cứu, em đã nhận được rất nhiều những ý kiến đóng gópquý báu của các thành viên làm việc tại Tổng Công ty cũng như các thầy cô giáokhoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế-Đại học Kinh tế Quốc dân, đặc biệt là GS.TS
Đỗ Đức Bình-trưởng khoa Do thời gian nghiên cứu có hạn và những hạn chế vềtrình độ, chuyên đề này không thể tránh khỏi những sai sót, mong tiếp tục nhậnđược sự giúp đỡ góp ý đó để em có thể hoàn thiện và nâng cao tính thực tiễn của
đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 9Chương 1 Một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài
1.1 Khái niệm phân loại và động lực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn quản lý đầu tư hiện nay có khá nhiều quan niệm về đầu tư, mỗiquan niệm lại đứng trên các giác độ khác nhau để định nghĩa Quan tâm đến quátrình quản trị hoạt động đầu tư, có thể đưa ra khái niệm như sau: “Đầu tư là tậphợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương trình đã được hoạchđịnh trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi ích lớn hơn chocác nhà đầu tư, cho xã hội và cho cộng đồng”
Như vậy, việc các cá nhân và doanh nghiệp đưa vốn ra nước ngoài để tự mìnhhoặc cùng với các nhà đầu tư nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trựctiếp quản lý điều hành và thu lợi trong kinh doanh được gọi là đầu tư trực tiếpnước ngoài
So với hoạt động đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những điểmkhác biệt rất lớn như sự phức tạp trong quản lý, điều hành và xử lý tranh chấp do
có sự tham gia của các bên mang quốc tịch khác nhau, thường gắn với hoạt độngchuyển giao công nghệ, gắn với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,…
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức đầu tư
Liên doanh và chi nhánh sở hữu toàn bộ là hai hình thức cơ bản và chủ yếutrong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, tuỳ theo giai đoạn và điều
Trang 10kiện phát triển riêng biệt cuả từng nước mà có thêm những hình thức biến tướngkhác Ở Việt Nam hiện nay có thể khái quát một số hình thức như sau:
Đầu tư theo hình thức liên doanh
Có thể hiểu đầu tư theo hình thức liên doanh là thành lập một doanh nghiệpđược góp vốn bởi các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hình thức này có một số ưuđiểm như chia sẻ rủi ro trong quá trình thành lập và hoạt động của dự án, giảmgánh nặng về vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài, dễ tiếp cận thị trường và các cơquan địa phương sở tại… Tuy nhiên thông qua hình thức này, quyền quản lý và lợinhuận cũng sẽ bị chia sẻ cho các bên tuỳ theo tỷ lệ góp vốn
Đầu tư theo hình thức chi nhánh sở hữu toàn bộ hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là hình thức thành lập doanh nghiệp hoàn toàn do nhà đầu tư nước ngoàigóp vốn và trực tiếp điều hành quản lý Hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tưnước ngoài toàn quyền quyết định về quản lý, không phải chia sẻ lợi nhuận Tuynhiên, sẽ chịu gánh nặng về vốn góp ban đầu, xác suất rủi ro cao, đôi khi gặp bấtlợi trong việc tiếp cận thị trường và các cơ quan chính quyền sở tại
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức này chỉ khác với doanh nghiệp liên doanh ở chỗ không cho ra đờimột pháp nhân mới, bên nước ngoài mượn tư cách pháp nhân của bên sở tại đểtiến hành các hoạt động của mình Đây chính là điểm bất cập mà nhà đầu tư nướcngoài không mong muốn vì cơ hội khuyếch trương uy tín của họ hầu như khôngcó
Đầu tư theo một số hình thức khác
Theo luật pháp Việt Nam còn có một số hình thức đầu tư đặc thù như các hợpđồng BOT (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao) và các hình thức phái sinh của nó
1.1.2.1 Phân loại theo phương thức thực hiện
Trang 11Đầu tư dự án mới
Đó là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư mua sắm thiết bị và thiết lập các cơ sởkinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng số lượng dự án đầu tưvào một ngành, địa phương nhất định
Đầu tư thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A)
Mua lại và sáp nhập là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hai hay nhiều doanhnghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này(có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanhnghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tớităng khối lượng đầu tư vào
1.1.3 Động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp
Đầu tư nhằm tìm kiếm thị trường
Đầu tư nhằm tìm kiếm thị trường là chiến lược hàng đầu của các doanh nghiệpthuộc các nước đang phát triển Kết quả điều tra của UNCTAD năm 2006 cho thấy51% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng FDI ra nước ngoài nhằm tìm kiếm thịtrường là động lực chủ yếu Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có mục đích tận dụngcác hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác,lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàncầu
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn là một biện pháp để tránh xung đột thươngmại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn doNhật Bản có thặng du thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trongquan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào cácthị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảmxuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào cácnước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
Trang 12Thực tế cho thấy các doanh nghiệp có thiên hướng lựa chọn các thị trườngtrong khu vực để đầu tư do những diểm tương đồng về môi trường và điều kiệnđầu tư giữa các nước, coi đây là bước đệm trước khi thâm nhập vào các thị trườngngoài khu vực và có quy mô lớn.
Đầu tư nhằm tìm kiếm hiệu quả
Nhà đầu tư thực hiện phân bổ công đoạn sản xuất ở nước ngoài, tận dụng giáthành đầu vào thấp ở nước tiếp nhận và các ưu đãi về thuế suất nhằm tối ưu hoáquá trình sản xuất Đầu tư nhằm tìm kiếm hiệu quả là ưu tiên đối với nhiều doanhnghiệp, đặc biệt là các doanh nhgiệp thuộc các nước phát triển
Điều tra của UNCTAD cho thấy 22% số doanh nghiệp cho rằng đây là động cơchiến lược Ngày nay, việc chia nhỏ các công đoạn sản xuất, chia nhỏ sản phẩmsản xuất ra nhiểu quốc gia khác nhau là rất phổ biến và đang chứng tỏ được ưu thếvượt trội trong những ngành sử dụng nhiều vốn và kĩ thuật
Đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn lực
Theo kết quả điều tra của UNCTAD thì đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn lực làđộng lực thứ ba xếp sau hai động lực trên, chiếm khoảng 13% số doanh nghiệp trảlời Trong số các nguồn lực tìm kiếm ở nước ngoài, thì nguồn tài nguyên thiênnhiên là một trong các yếu tố quan trọng nhất
Đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng đốivới các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ vàmột số nước châu Á khác vì việc đảm bảo cung cấp ổn định các nguồn lực có ýnghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước này Bởi vậy, khinguồn lực trong nước có chiều hướng cạn kiệt, đặc biệt là các tài nguyên chiếnlược như dầu khí, các doanh nghiệp phải chuyển hướng khai thác các nguồn lực từbên ngoài Ví dụ như các doanh nghiệp dầu khí quốc gia của Trung Quốc, Ấn Độ,Thổ Nhĩ Kì… đã phải thực hiện nhiều dự án liên doanh nhằm khai thác dầu mỏ ởmột số quốc gia khác như Trung Đông, Tây Á, Bắc Phi…
Trang 13Rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất các sản phảm sử dụng nhiều nguyên liệuthô như nội thất, kim loại, sản xuất giấy… cũng phải thực hiện đầu tư nhằm tìmkiếm nguồn lực ở nước ngoài thông qua việc chuyển các cơ sở sản xuất ra cácnước có nguồn nguyên liệu dồi dào, hoặc chia nhỏ quá trình sản xuất, thậm chí làphải nhập khẩu nguyên liệu.
Đầu tư nhằm tạo tài sản
Nhìn chung không nhiều doanh nghiệp cho rằng đây là động cơ quan trọng.Chỉ có 13% doanh nghiệp trả lời, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc các nướcđang phát triển Kết quả điều tra cũng cho thấy hầu như không có doanh nghiệpnào chỉ đầu tư nhằm tạo tài sản mà thường kết hợp với các động cơ quan trọngkhác
1.2 Tác động của hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Thực tế cho thấy không chỉ có dòng đầu tư từ nước phát triển sang nước đangphát triển mà có đến ¾ lượng vốn của các nước phát triển là đầu tư sang các nướcphát triển khác, thậm chí các nước đang phát triển kêu gọi vốn đầu tư vẫn tiếnhành đầu tư ra nước ngoài Đó là do tác động đồng thời của đầu tư ra nước ngoài:
1.2.1 Đối với nước đi đầu tư
1.2.1.1 Tích cực
Chính phủ những nước này muốn mở rộng đầu tư ra nước ngoài, có thể dướihình thức không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp nhằm mục đích chính trị,
Trang 14ép buộc nước tiếp nhận phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho nước đầu tư.Một số trường hợp đầu tư nhằm mục đích nhân đạo, củng cố hình ảnh và niềm tincủa nước mình với thế giới.
Các cơ sở sản xuất kinh doanh dù là tư nhân hay của Nhà nước khi đã đi đầu tưđều nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi ích kinh tế, lợi nhuận Đầu tư ra nước ngoài, cácđơn vị này hướng đến tận dụng lợi thế chi phí sản xuất thấp để giảm giá thành,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm đi vào thời
kỳ suy thoái, từ đó mà tăng lợi nhuận của tổ chức
Đầu tư ra nước ngoài còn giúp cho các nhà kinh doanh của nước chủ nhà tạodựng được thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào dồi dào ổn định giá rẻ thường
có ở các nước đang phát triển Đây là một lợi thế thường được các nước đang pháttriển tận dụng để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài
Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư còn có một mục đích cao hơn, đó là bànhtrướng sức mạnh kinh tế, tăng sức ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế.Thường thì các nước kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài có chính sách rất thôngthoáng, khuyến khích xuất khẩu và chuyển giao công nghê, vì vậy khi xuất khẩumáy móc sang để sản xuất tai đây và sau đó xuất khẩu các sản phẩm này sang cácnước khác, chủ đầu tư nước ngoài đã né tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch, mởrộng được thị trường tiêu thụ một cách dễ dàng
Thực tế cho thấy các nước phát triển đôi khi có những khó khăn không thể tựgiải quyết Sự hợp tác đầu tư làm cho những vấn đề đó trở nên dễ dàn hơn, đồngvốn được sử dụng với hiệu quả kinh tế-xã hội-chính trị cao nhất Điển hình ở cácnước phát triển có một xu hướng, ngay cả khi trong nước tình trạng thất nghiệpđang gia tăng nhưng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng tìm kiếm lao động ở nướcngoài và đem vốn đi đầu tư, đồng thời cũng đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư
1.2.1.2 Tiêu cực
Trang 15Việc một lượng vốn được chuyển ra nước ngoài làm giảm cán cân thanh toánquốc gia, đồng thời khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nước cũng bị hạnchế Điều này phải được khắc phục bằng cách thu hút vốn từ nước khác vào, tạolập sự cân bằng cho cán cân thanh toán.
Bên cạnh đó, vốn và tài sản từ các hoạt động kinh tế ngầm được chuyển ranước ngoài mà Chính phủ không quản lý được, hoặc có thu hồi được thì chi phícũng rất tốn kém
Đầu tư ra nước ngoài còn có một tác động làm chủ đầu tư e ngại, đó là nguy cơchảy máu chất xám, mất vị thế độc quyền về công nghệ Thường thấy rằng cácnước phát triển đầu tư sang nước đang phát triển đa phần là công nghệ lạc hậu, sửdụng ít chất xám
Việc đầu tư ra nước ngoài dẫn đến các sản phẩm được sản xuất ra với giá thành
rẻ hơn, thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng do chính sách khuyến khích xuấtkhẩu của nước tiếp nhận sẽ là một kênh tiêu thụ cạnh tranh với sản xuất kinhdoanh nội địa của nước chủ đầu tư
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2.1 Tích cực
Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ làm tăng lượng tiền, tài sản trong nền kinh
tế sẽ tạo sự tăng trưởng khả quan và giúp khai thác các nguồn lực một cách hiệuquả
Cơ cấu kinh tế sẽ được điều chỉnh theo hướng tích cực, những ngành có lợi thế
so sánh, có lợi nhuận cao, khả năng cạnh tranh mạnh sẽ được tập trung phát triển.Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài đồng thời với việc các Liên doanh hay doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất… sẽ được thành lập.Những khu này sẽ thu hút được một lượng lớn lao động, đặc biệt là lao động tạichỗ, giúp giải quyết việc làm cho một lượng người dân đang thất nghiệp hay bán
Trang 16thất nghiệp Đồng thời khoản thuế, lệ phí mà các đơn vị này nộp cho Nhà nướccũng giúp tăng thu ngân sách bù đắp thiếu hụt.
Những nhà đầu tư nước ngoài mang vốn cùng với công nghệ cao, kỹ thuậtquản lý hiện đại, thương hiệu nổi tiếng, mạng lưới quan hệ rộng… Đây là cơ hộitốt để các nước tiếp nhận nắm bắt nhằm tăng năng lực sản xuất, tăng kim ngạchxuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài, tạo lợi thế kinh tế theo quy mô
Ngược lại với nước đi đầu tư, hoạt động đầu tư nước ngoài làm tăng tiền, tàisản trong nền kinh tế của nước tiếp nhận, qua đó cải thiện cán cân thanh toán, giatăng đầu tư cho nền kinh tế, góp phần tăng GDP
Qua công việc hoặc các khoá huấn luyện, chương trình đào tạo ngắn và dàihạn, đặc biệt là trong điều kiện làm việc cạnh tranh gay gắt thường có ở nhữngdoanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, đội ngũ cán bộ và người lao động sẽ được đàotạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng điều hành, quản lý… Điều này là một tác độngtích cực to lớn và mang tính lâu dài, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, yếu tố thenchốt cho phát triển kinh tế của một quốc gia
Các công ty xuyên quốc gia là những chủ thể chính trong hoạt động đầu tưquốc tế với hệ thống mạng lưới hoạt động rộng lớn sẽ mang lại cho nước tiếp nhận
cơ hội mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, vănhoá…
Các doanh nghiệp trong nước sẽ có xu hướng di chuyển lao động, sao chép họchỏi, liên kết sản xuất và cạnh tranh… để nâng cao tiềm lực, đây là một tín hiệu tốt,như một chuỗi dây chuyền, cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, hấp dẫnhơn với nhà đầu tư nước ngoài Như vậy, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh chóng
1.2.2.2 Tiêu cực
Thường các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm kiếm lợi ích từ nguồn tài nguyênphong phú và chưa có điều kiện khai thác ở các nước đang phát triển Bên cạnh
Trang 17thu hút được nhiều vốn từ nước ngoài bất chấp mọi điều kiện làm cho nguồn tàinguyên này bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến cạn kiệt, phá huỷ môitrường, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng: lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường,phá vỡ cân bằng sinh thái…
Chính phủ do muốn phát triển cân đối nền kinh tế nên sẽ ưu tiên hỗ trợ pháttriển những vùng khó khăn, nghèo nàn lạc hậu Nhưng do mục tiêu lợi nhuận, cácngành các vùng có điều kiện thuận lợi hơn sẽ thu hút nhiều vốn Hai xu hướng tráingược này sẽ cản trở sử dụng hiệu quả những hỗ trợ từ Chính phủ
Như đã nói ở trên, các công nghệ được chuyển giao thường không phải côngnghệ nguồn mà nhiều khi là công nghệ lạc hậu đã qua sử dụng Thực tế nhiềunước đang phát triển đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ Những côngnghệ được chuyển giao không những không làm tăng chất lượng, tăng tính cạnhtranh của sản phẩm mà còn gây ô nhiễm môi trường Cái giá phải trả cho sự thuhút vốn đầu tư nước ngoài không có chọn lọc, thu hút bằng bất cứ giá nào là quáđắt
Trong nội bộ những doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và giữa doanh nghiệp
có yếu tố nước ngoài với doanh nghiệp trong nước cũng dễ xảy ra những xung đột
về mặt xã hội Như mâu thuẫn giữa hai dòng vốn khi thu nhập được tái phân phối,thu nhập của nguồn vốn từ nước ngoài tăng đồng nghĩa với việc thu nhập củanguồn vốn trong nước bị giảm đi, xản xuất trong nước bị cạnh tranh dẫn đến phásản,như xung đột về lợi ích giữa lao động trong nước và nước ngoài, những khácbiệt về văn hoá, mâu thuẫn giữa giới chủ và công nhân… Thời gian qua ở ViệtNam cũng có nhiều vụ bãi công, đình công mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từnhững mâu thuẫn này
Nhiều khi những nguồn vốn từ nước ngoài hay kèm theo các điều kiện gây sức
ép với nhà nước sở tại phải thay đổi cơ chế chính sách luật lệ theo hướng có lợicho các nhà đầu tư Điều này làm giảm tính tự chủ của Chính phủ trong xây dựng
cơ chế chính sách
Trang 181.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài là một hoạt động mang tính quốc tế, không còn bó hẹptrong phạm vi một quốc gia, vì vậy nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố Nhữngyếu tố này tác động có thể trong ngắn hạn hay dài hạn, cục bộ hay tổng thể tuỳ vàotừng thời kỳ
Một là, quy luật cung cầu về vốn của các quốc gia Mỗi quốc gia trong một
thời kỳ phát triển nhất định sẽ chú trọng hơn trong thu hút hay đầu tư ra nướcngoài Thường thì các nước đang phát triển, nhu cầu vốn lớn, mô hình chính sách
sẽ thiên về những biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào dự ánphát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất xuất khẩu… Các nước phát triển với tiềm lựcvốn lớn thường thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực công nghệ cao và đầu
tư ra nước ngoài trong các ngành cần nhiều lao động Một cân bằng cung-cầu vềvốn sẽ được thiết lập giữa các nước này
Hai là, chính sách thu hút vốn đầu tư của các nước Hiện nay có một cuộc cạnh
tranh ngầm giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.Thay đổi chính sách theo hướng thông thoáng, có lợi hơn cho các nhà đầu tư cũngchính là một biện pháp được các nước này sử dụng Tuy nhiên, xem xét yếu tốnày, người ta thường gắn liền với môi trường kinh tế-chính trị của nước đó Nhàđầu tư tìm hiểu những yếu tố này và sẽ quyết định bỏ vốn nếu thấy có cơ hội pháttriển và ít rủi ro
Ba là, chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư Thường thì các công ty đa quốc
gia luôn muốn bành trướng thế lực của mình bằng cách mở rộng thị trường quốc
tế Đây cũng là chủ thể quan trọng nhất của dòng vốn đầu tư nước ngoài Vớilượng vốn lớn, chiến lược của những công ty này ảnh hưởng rất nhiều đến sự tăngtrưởng hay giảm sút của dòng vốn đầu tư nước ngoài Có thể do mục đích chiếmlĩnh mảng thị trường, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, lao động hay cạnh tranh
Trang 19trong hoạt động kinh doanh mà các công ty này tập trung đầu tư vào một nước haymột khu vực nhất định mà không hẳn do những ưu đãi trong chính sách.
Bốn là, quá trình tự do hoá đầu tư theo những nguyên tắc quốc tế Các tổ chức/
diễn đàn kinh tế quốc tế và khu vực đang ngày càng phát huy vai trò của mình.Việc các nước thành viên tuân thủ quá trình tự do hoá đầu tư, giảm bớt những ràocản trước đây sẽ khiến cho hoạt động đầu tư quốc tế trở nên sôi động hơn
1.4 Kinh nghiệm quốc tế hoá của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới
1.4.1 Petronas
Petronas được thành lập vào năm 1974 (cùng thời gian với Tổng Công ty dầukhí Việt Nam-Petrovietnam), thuộc sở hữu toàn phần của chính phủ Ma-lai-xia đểkiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí của Ma-lai-xia Petronas tham gia tất cả cáchoạt động dầu khí ở Ma-lai-xia bao gồm thăm dò khai thác, lọc dầu, buôn bán dầuthô và phân phối các sản phẩm dầu, vận chuyển và phân phối khí thiên nhiên, khíhoá lỏng và tiếp thị các sản phẩm khí, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm hoá dầu,đóng tàu…
Từ cuối thập kỷ 80 khi các phát hiện dầu khí không theo kịp với nhịp độ khaithác ngày càng tăng ở Ma-lai-xia, Petronas triển khai chiến lược đầu tư vào thăm
dò khai thác dầu khí ở nước ngoài nhằm tìm kiếm trữ lượng bổ sung, bắt đầu bằngviệc thành lập Petronas Carigali Overseas chuyên trách việc triển khai hoạt động ởnước ngoài với mục tiêu đề ra là đến năm 2005, 30% lợi nhuận của công ty sẽ từhoạt động khai thác ở nước ngoài
Dự án đầu tiên ra nước ngoài của Petronas là thu nhượng 15% cổ phần lô B ởMian-ma vào năm 1990 Việt Nam là nước láng giềng thứ hai Petronas có dự án(lô 01&02, năm 1991) và là dự án nước ngoài đầu tiên Petronas nắm quyền điềuhành ở nước ngoài Đến năm 2001, Petronas đã có 23 dự án thăm dò khai thác ở
Trang 2015 nước trên thế giới, sở hữu 3,3 tỷ thùng dầu quy đổi (trữ lượng thu hồi) và khaithác gần 120.000 thùng dầu quy đổi/ngày.
Các bước triển khai của Petronas trong 10 năm qua được tóm lược như sau:
Thăm dò
Bắt đầu đầu tư ra nước ngoài bằng các dự án thăm dò, tập trung vào dự án dầu
Khai thác
Tập trung đầu tư váo các liên doanh khai thác từ giữa thập kỷ 90 để giảm thiểu rủi
ro và thu hồi vốn nhanh (lô Ahnet tại Algieria; mở Helig và Unity ở Xu-đăng; mỏSirri và South Pars ở I-ran; dự án phát triển Cheleken-1 tại Turkmenistan…) Đánglưu ý là các dự án khai thác của Petronas có sự đóng góp rất lớn của Chính phủMa-lai-xia (dự án GNP ở Xu-đăng) khi các nước tiếp nhận có những vấn đề nhạycảm về chính trị
Mua công ty
Công ty sở hữu 80% cổ phần của Engen, 57,5% cổ phần một công ty thăm dò củaNam Phi, và 25% cổ phần của Premier của Anh
Dầu /khí
Ban đầu tập trung vào dự án dầu, sau đó chú trọng cả dự án dầu và khí
Đầu tư theo khu vực ưu tiên
Tập trung đầu tư vào các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và BắcPhi, Tây Phi, Trung Á Gần đây bắt đầu quan tâm đến Nam Mỹ
Petronas được coi là một công ty dầu khí quốc gia thành công trong việc quốc tếhoá hoạt động thăm dò khai thác Tiềm lực tài chính to lớn, tổ chức hợp lý, sự hậuthuẫn rất hiệu quả của Chính phủ Ma-lai-xia và mối quan hệ hợp tác với các công
ty dầu khí nước ngoài là những điều kiện quan trọng dẫn đến sự thành công củaPetronas
Trang 21Tuy nhiên mô hình Petronas có một số hạn chế nhất định, đặc biệt là thời giancho doanh thu từ nước ngoài (sau 8 năm) do không phân định hợp lý sự ưu tiên đốivới các loại dự án (ban đầu tập trung vào các dự án thăm dò và giới hạn ở các dự
án dầu) Vì vậy, sau 5 năm kể từ khi triển khai đầu tư ra nước ngoài, Petronas đãchuyển sự tập trung vào các dự án phát triển mỏ, đồng thời triển khai mua tàisản/công ty sở hữu tài sản và quyết định này tỏ ra hợp lý, nhờ đó Petronas có sảnlượng đáng kể trong một thời gian tương đối ngắn sau khi điều chỉnh chiến lược vàxác lập vị thế công ty trên thị trường thế giới
1.4.2 Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC)
CNOOC được thành lập năm 1982 như một công ty dầu quốc gia của TrungQuốc để tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí tại các lô ngoài khơiTrung Quốc Hiện tại, CNOOC đang điều hành phát triển 6 mỏ ngoài khơi, vàtham gia 3 dự án phát triển mỏ khác (bên nước ngoài điều hành) ở Trung Quốc.Sản lượng khai thác trong nước đạt 400.000 thùng/ngày (dự kiến tăng gấp đôitrong 5 năm tới)
CNOOC niêm yết cổ phiếu ở thị trường chứng khoán Hồng Kông và NewYork Giá trị thị trường của CNOOC là 7,9 tỷ USD CNOOC đang tiếp tục tiếnhành tích cực việc cổ phần hoá công ty, đặc biệt là các công ty con để thu hút vốn.Tuy nhiên, cổ phần hoá công ty mẹ (CNOOC) chỉ ở quy mô nhỏ và Chính phủ sẽchiếm giữ phần lớn cổ phần (dự kiến 72,5%) Các bên mua cổ phần chủ yếu làExxonMobil, Royal Dutch/Shell và BP
Từ 1998 khi Chính phủ Trung Quốc cơ cấu lại công ty dầu khí quốc gia,CNOOC đã triển khai mạnh mẽ đầu tư vào thăm dò khai thác ở nước ngoài Nhờliên minh với các công ty đang hoạt động ở Trung Quốc, CNOOC có cổ phần đầutiên ở nước ngoài (với Ker McGee trong 7 lô ở vịnh Mê-hi-cô và với Arco trong 1
lô ở eo biển Malaca In-đô-nê-xia) Ngoài ra, CNOOC liên minh với CNPC ở thịtrường châu Á và Mỹ La tinh CNOOC quan tâm đến đầu tư vào rất nhiều nướcgiàu tiềm năng dầu khí ở tất cả các khu vực trên thế giới Đáng lưu ý nhất trong
Trang 22quá trình quốc tế hoá của CNOOC là việc đầu tư 585 triệu USD mua phần lớn tàisản của Repsol-YPF ở In-đô-nê-xia để có sản lượng khai thác từ nước ngoài đầutiên khoảng 120.000 thùng/ngày.
Đây là mô hình triển khai đầu tư của một công ty lớn, khả năng tài chính mạnh,triển khai thăm dò khai thác với quy mô toàn thế giới Với tư cách là thành viênthường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Trung Quốc đã dùng quan hệchính trị làm đòn bẩy để giành các dự án phát triển mỏ cho các công ty dầu quốcgia Trung Quốc, đặc biệt ở các nước có vấn đề chính trị nhạy cảm (Xu-đăng, Li-bi,I-rắc) Rút kinh nghiệm của CNPC đã đầu tư rất lớn cho thăm dò nên có doanh thuchậm, CNOOC đã đầu tư một số tiền lớn để mua tài sản của Repsol_YPF và nhờ
đó có sản lượng ở nước ngoài đầu tiên chỉ sau một vài năm quốc tế hoá Một kinhnghiệm nữa có thể tham khảo là việc huy động vốn qua phát hành IPO: số vốn huyđộng được lên tới hơn 10 tỷ USD trong khi nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát/cổphần khống chế
1.4.3 Pertamina
Là công ty dầu khí quốc gia của In-đô-nê-xia có quá trình dài hoạt động dầukhí ở In-đô-nê-xia Từ khi lên nắm quyền, ban lãnh đạo mới của Pertamina chủtrương xây dựng Pertamina thành một công ty dầu có tầm cỡ thế giới và bắt đầuquan tâm đầu tư ra nước ngoài
Chọn khu vực Đông Nam Á là nơi đột phá, thông qua thoả thuận hợp tác babên với Petrovietnam và Petronas, Pertamina đã có dự án thăm dò khai thác đầutiên ở Việt Nam vào đầu 2002 Hợp tác ba bên cũng mang lại một dự án nữa ởMa-lai-xia
Ngoài Đông Nam Á, Pertamina xác định Trung Đông và Châu Phi là khu vực
ưu tiên đầu tư, trong đó I-rắc và Li-bi là hai nước có chi phí thấp thuộc ưu tiênhàng đầu của Pertamina
1.4.4 PTTEP
Trang 23PTT Exploration Production (PTTEP) là chi nhánh hoạt động thăm dò khaithác của Công ty dầu khí quốc gia Thái Lan Petroleum Authority of Thailand(PTT) PTT có cổ phần sở hữu 61% cổ phần của PTTEP, nhưng trong tương lai,
có thể PTTEP sẽ được tư nhân hoá hoàn toàn
Với sản lượng trong nước khoảng 95.000 thùng dầu quy đổi/ngày và vị trí tàichính thuận lợi, PTTEP bắt đầu triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài.Đông Nam Á là khu vực ưu tiên đầu tư hiện nay của PTTEP, trong đó Mian-ma,In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia và Việt Nam là các nước trọng điểm
Với việc trao đổi cổ phần với Unocal, PTTEP đã có cổ phần ở Việt Nam Đột pháquan trọng của PTTEP là đầu tư 225 triệu USD mua 34% cổ phần của MedcoEnergi cuỉa In-đô-nê-xia và nhờ đó có sản lượng ở nước ngoài đầu tiên khoảng30.000 thùng/ngày
Như vậy, nhìn chung các bước triển khai đầu tư ra nước ngoài của các công tydầu khí quốc gia đều bao gồm những bước đi cơ bản sau:
Xác định mục tiêu cho đầu tư ra nước ngoài
Xác định khu vực ưu tiên đầu tư là các nước/khu vực lân cận và/hoặc giàutiềm năng dầu khí và tập trung nỗ lực để thâm nhập, mở rộng
Mua tài sản là hình thức được áp dụng để sớm có chỗ đứng trên thị trường(và sản lượng, doanh thu)
Tranh thủ các mối quan hệ hợp tác liên minh (cấp chính phủ, cấp công ty)
để có dự án
Một yếu tố quan trọng đưa đến thành công của các công ty này là đều có thểđiều hành hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự chủ động kinh doanh cũng nhưhuy động được các nguồn vốn bên ngoài, và thêm vào đó là kinh nghiệm hoạtđộng điều hành tương đối dài ở trong nước Với nhiều nét tương đồng, PVEP cóthể học hỏi kinh nghiệm từ thành công và hạn chế của những mô hình công ty này
để hoạch định một chiến lược hợp lý trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Trang 24Chương 2
Trang 25Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh
vực dầu khí
2.1 Khái quát tình hình hiện tại của PVEP
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Petrovietnam (nay là Tập đoàn Dầu khí Quốcgia Việt Nam) được thành lập vào năm 1975 Là công ty dầu khí quốc gia,Petrovietnam được giao nhiệm vụ quản lý khai thác, phát triển và gia tăng giá trịnguồn tài nguyên dầu khí của đất nước Theo Luật Dầu khí, Petrovietnam thựchiện các hoạt động dầu khí trong nước bao gồm thăm dò, khai thác, nhập khẩu vàxuất khẩu dầu thô, nguyên liệu thiết bị dầu khí, cung cấp dịch vụ, vận chuyển, tàngtrữ, chế biến và phân phối các sản phẩm dầu khí
Hoạt động thăm dò dầu khí tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1960 tại bồn trũng HàNội Giếng khoan thăm dò đầu tiên được khoan vào năm 1969 và đến năm 1975
đã phát hiện ra mỏ khí thiên nhiên Tiền Hải C có trữ lượng 1,2 tỷ m3 ở tỉnh TháiBình Từ 1981, mỏ khí Tiền Hải được khai thác phục vụ cho công nghiệp địaphương
Ở ngoài khơi Trung và Nam Bộ, các công ty dầu khí nước ngoài đã tiến hànhkhảo sát địa vật lý vào cuối những năm 60 Mobil đã khoan thăm dò Bể Cửu Longvào năm 1974 và Bể Nam Côn Sơn vào năm 1975 và đã phát hiện dầu ở hai giếngkhoan mỏ Bạch Hổ và Đại Hùng Sau khi thống nhất đất nước, các công ty dầunước ngoài Agip, Deminex đã khoan và phát hiện dầu và khí tại một số giếngnhưng các phát hiện này được đánh giá lúc đó là không đủ lớn để thẩm lượng tiếp
Từ 1980-1988 là thời kì phát triển quan trọng của ngành dầu khí Việt Nam vớiviệc xí nghiệp liên doanh Vietsopetro được thành lập và khai thác dầu từ mỏ Bạch
Hổ Vietsopetro cũng đã tiến hành khảo sát địa chấn và khoan thăm dò ngoài khơitrong thời gian này và đã phát hiện hai mỏ dầu Đại Hùng và Rồng Các hoạt độngnày đặt nền tảng cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí sau này
Trang 26Năm 1987, thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và Chính phủ nhằm thu hútcác Công ty dầu khí quốc tế đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí tại Việt Nam,Petrovietnam đã ra quyết định thành lập Công ty PV-II, là tiền thân của Công tyThăm dò - Khai thác Dầu khí (PVEP) với nhiệm vụ giám sát các hợp đồng thăm
dò, tìm kiếm dầu khí triển khai tại thềm lục địa phía Nam
Ngày 17/11/1988 Tổng cục Dầu khí đã ra Quyết định số 1195/TC-DK thành
lập Công ty Petrovietnam I (PV-I), là tiền thân của Công ty Giám sát các hợp đồngchia sản phẩm (PVSC) với nhiệm vụ giám sát các hợp đồng thăm dò, tìm kiếm dầukhí triển khai tại thềm lục địa phía Bắc
Từ cuối năm 1987, khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành, hàng loạt cáccông ty dầu quốc tế đã đầu tư vào thăm dò khai thác ở Việt Nam, chủ yếu từ châu
Âu và châu Á Sau khi Mỹ xoá bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với ViệtNam, nhiều công ty dầu nổi tiếng của Mỹ quay lại Việt Nam đầu tư đặc biệt làMobil, Occidental, Unocal và Conoco Trong giai đoạn 1990 - 1992, số lượng cáchợp đồng chia sản phẩm (PSC) được ký kết tăng cao (thời điểm cao nhất lên tớigần 40 hợp đồng), quy mô và phạm vi hợp đồng có nhiều thay đổi Để nâng caohiệu quả công tác quản lý, giám sát các hợp đồng PSC cũng như công tác thăm dò
và khai thác dầu khí, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam quyết định đổi tên Công tyPV-I thành Công ty Giám sát các hợp đồng chia sản phẩm (PVSC) chuyên giámsát các hợp đồng PSC, công ty PV-II thành Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí(PVEP) có trách nhiệm thăm dò và khai thác dầu khí khu vực mỏ Đại Hùng Nhờcác phát hiện mới, con số trữ lượng dầu khí Việt Nam tăng lên đáng kể
Với mục tiêu đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác ra nước ngoài, ngày
14/12/2000 Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã có Quyết định số
2171/QĐ-HĐQT thành lập Công ty Đầu tư - Phát triển Dầu khí (PIDC) trên cơ sở tổ chức lạiCông ty PVSC với chức năng đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí khu vựcphía Bắc Việt Nam và ở nước ngoài Chức năng giám sát các hợp đồng PSC khuvực phía Nam được giao lại cho công ty PVEP
Trang 27Ngày 04/05/2007, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã ra quyết định số
1311/QĐ-DKVN thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầukhí trên cơ sở tổ chức lại hai công ty PVEP và PIDC Tổng công ty Thăm dò Khaithác Dầu khí hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó Công ty
mẹ - Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí là Công ty Trách nhiệm hữu hạnNhà nước một thành viên do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nắm giữ 100%vốn điều lệ Việc thành lập Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí nhằm thốngnhất hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí ởViệt Nam và ở nước ngoài
Hiện nay PVEP đang giám sát, quản lý, tham gia góp vốn 42 đề án thuộc phạm
vi các hợp đồng PSC, JOC, BC; đề án khai thác dầu khí tự lực cũng như các nhiệm
vụ tìm kiếm thăm dò khác theo phân công của Tập đoàn
PVEP đang tham gia và là nhà điều hành trong 10 đề án khai thác với 8 đề áncùng với các nhà thầu dầu khí nước ngoài hay công ty liên doanh điều hành chungvới phần tham gia góp vốn của PVEP từ 12,5 – 50% Hai đề án còn lại là Đại hùng
và Tiền hải với phần vốn góp của PVEP là 100%
Tổng công ty PVEP cũng đang hết sức tích cực trong việc tìm kiếm các cơ hộithăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài Hiện nay có 10 đề án đang hoạt động ởnước ngoài cũng như hàng loạt các dự án khác đang trong quá trình triển khai tíchcực
2.2 Hiện trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
2.2.1 Các phương thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
Hiện nay, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang sử dụng các hìnhthức sau để có dự án ở nước ngoài:
Trang 282.2.1.1 Mua tài sản dầu khí
Mua tài sản dầu khí là mua mỏ dầu khí đang/chuẩn bị khai thác (trữ lượng dầukhí được xác minh) Mua tài sản dầu khí có thể gồm mua cổ phần hợp đồng hoặcmua công ty sở hữu tài sản Sự điều chỉnh chiến lược đầu tư của các công ty trongtừng giai đoạn phát triển cần vốn đầu tư bổ sung hoặc các khó khăn về tài chính,
kỹ thuật… đã dẫn đến việc bán các mỏ dầu khí đang hoặc sắp đi vào khai thác.Phương thức đầu tư này có một số lợi ích nổi bật:
Giúp Tổng Công ty nhanh chóng thâm nhập một thị trường mới, hình thànhkhu vực hoạt động tập trung và làm cơ sở thuận lợi để mở rộng hoạt độngtrong phạm vi nước và khu vực đã mua được tài sản
Trong khi các dự án hiện có hoặc đang trong giai đoạn đánh giá khó có sảnlượng khai thác trước năm 2005, mua tài sản là phương thức duy nhất đểTổng Công ty thực hiện được mục tiêu có sản lượng khai thác ở nước ngoàisớm nhất
Rủi ro kĩ thuật được giảm thiểu nhờ đã có phát hiện thương mại/khai thácdầu khí
Tổng Công ty có thể có ngay thu nhập từ dự án nếu mua mỏ đang khai thác,
từ đó có thể khai thác lợi ích về thương mại
Tạo điều kiện tiếp cận thông tin tài liệu (địa chất, khai thác…) cơ bản vàđáng tin cậy của một nước, là cơ sở tốt cho các bước triển khai tiếp theo.Nếu lựa chọn mua công ty sở hữu tài sản, việc sử dụng ngay các nhân viên
có kinh nghiệm là một lợi ích đáng kể trong tình trạng thiếu nhân lực cókinh nghiệm hoạt động ở nước ngoài của PVEP
Thuận lợi trong vay vốn để đầu tư vì thông thường các ngân hàng và tổchức tài chính thường sẵn sàng cung cấp các khoản vay cho các công ty dầukhi mua tài sản
Trang 29 Việc mua tài sản thường được nước chủ nhà nhìn nhận như một sự cam kết,quan tâm của Việt Nam vào nước đó, nhờ vậy PVEP nói riêng và Tập đoànDầu khí nói chung sẽ có cơ hội để mở rộng hoạt động sau này ở đó.
Tuy nhiên, phương thức này có một số điểm bất lợi cho Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay vì chi phí mua tài sản dầu khí thường rất cao, đồng thời có sự cạnhtranh rất lớn từ các công ty lớn có tiềm lực tài chính mạnh Một yếu tố nữa mà bênphía Việt Nam hay e ngại, đó là những vấn đề về pháp lý, tài chính thường phátsinh trong quá trình mua lại tài sản hay cổ phần công ty nắm giữ tài sản
Hiện nay, PVEP đang tích cực tìm kiếm, đánh giá cơ hội mua tài sản dầu khí ởIn-đô-nê-xia, Xu-đăng…
2.2.1.2 Thăm dò diện tích mới
Các cơ hội đầu tư mới bao gồm đầu tư vào các diện tích mới (chưa có hoặc córất ít hoạt động thăm dò), các diện tích được hoàn trả (đã có hoạt động thăm dò,khai thác) và các mỏ đã có phát hiện dầu khí nhưng vì một lý do nào đó chưa đượcthẩm lượng, phát triển
Hình thức đầu tư này có một số ưu điểm:
Đây là hướng đi cơ bản, lâu dài phù hợp với chiến lược phát triển Tập đoànDầu khí thành một tập đoàn lớn mạnh, mở rộng hoạt động cả ở trong nước
và quốc tế Đầu tư vào thăm dò-khai thác diện tích dầu khí mới là cơ sở cho
sự tăng trưởng và phát triển của ngành dầu khí nhờ tìm kiếm nguồn trữlượng bổ sung mới
Phương thức đầu tư này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu quá lớnnhưng hứa hẹn mang lại lãi đầu tư lớn nếu có phát hiện dầu khí thương mại
Sự cạnh tranh để giành các diện tích mới nhìn chung ở mức trung bình-caotuỳ thuộc tiềm năng dầu khí khu vực đó, trừ một số nước do điều kiện chínhtrị hoặc hoàn cảnh khách quan chi phối (I-rắc, Li-bi, Xu-đăng) Đồng thời,trong các khu vực được lựa chọn là địa bàn đầu tư trọng điểm, PVEP có thể
Trang 30tranh thủ quan hệ chính trị của Việt Nam với chính phủ nước đó để giảmthiểu sự cạnh tranh từ các đối thủ khác.
Tuy vậy, yêu cầu đầu tư lớn và tiềm lực tài chính bị dàn trải cho các dự ántrong nước, phương thức này sẽ gây khó khăn cho PVEP khi thời gian hoàn vốn
và sinh lãi của dự án là khá dài và không đáp ứng được nhanh chóng mục tiêu cósản lượng khai thác ở nước ngoài Bên cạnh đó, các công ty dầu khí vẫn e ngại rủi
ro về địa chất, nếu không có phát hiện thương mại, nhà đầu tư sẽ mất toàn bộ chiphí tìm kiếm thăm dò
Hiện nay, PVEP đang tích cực đánh giá cơ hội đầu tư vào các lô ở I-rắc, nê-xi-a, Ma-lai-xia, Xu-đăng, Li-bi, An-giê-ri… Về dự án phát triển mỏ, được tácđộng của quan hệ chính trị song phương, PVEP đã giành được dự án phát triển mỏAmara ở I-rắc
In-đô-2.2.1.3 Trao đổi cổ phần
Đây là phương thức đơn giản nhất để PVEP có dự án ở nước ngoài trong thờigian ngắn nhất với chi phí ban đầu thấp nhất Đây cũng là một biện pháp để chia
sẻ rủi ro/thành công với các công ty bạn và đa dạng hoá cơ cấu dự án
Thực chất của việc trao đổi cổ phần là sự đa dạng hoá hình thức hợp tác, là sựđánh đổi cơ hội đầu tư và thu nhập tiềm tàng ở trong nước lấy cơ hội đầu tư và thunhập ở nước ngoài, không có ý nghĩa về gia tăng giá trị hoặc mở rộng đầu tư Hơnnữa, các lô ở Việt Nam có thể dùng để trao đổi không còn nhiều, do vậy phươngthức này chỉ có thể coi là biện pháp trước mắt, mở đầu cho quá trình quốc tế hoátriển khai đầu tư ra nước ngoài của Tổng Công ty
Chủ trương trao đổi cổ phần hợp đồng ở trong nước lấy cổ phần hợp đồng ởnước ngoài đã được PVEP thực hiện trong mấy năm gần đây Hầu hết tất cả các dự
án ở nước ngoài hiện có của PVEP đều nhờ trao đổi cổ phần
2.2.2 Các khu vực trọng điểm
Trang 31Bài học từ các công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới là có chiếnlược cụ thể về mức độ ưu tiên, chiến lược kinh doanh cho từng khu vực phù hợpvới thực lực của công ty Các tiêu chí thường được lựa chọn để đánh giá mức độ
ưu tiên bao gồm:
Tiềm năng dầu khí của khu vực đó
Số lượng diện tích mở cho đầu tư nước ngoài và khả năng tiếp cận của côngty
Sự gần gũi về địa lý, tương đồng về văn hoá với Việt Nam
Quan hệ chính trị tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước trong khu vực
Những ưu đãi và quan hệ hợp tác thiết lập thông qua các tổ chức/diễn đànkhu vực như ASEAN, APEC
Quan hệ hợp tác đã được thiết lập giữa PVEP và một số công ty dầu khíquốc gia danh tiếng như Petronas, Pertamina, PTT, ONGC
Trang 32Nhìn tổng quan, cơ hội đầu tư của PVEP vào khu vực này bao gồm cả mua tàisản dầu khí, thăm dò các lô mới ở các nước có tiềm năng dầu khí cao (In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia, Thái Lan).
Bảng 1 Tiềm năng dầu khí khu vực Đông Nam Á
Nước
Dầu (tỷ thùng) Khí (nghìn tỷ bộ khối)Trữ lượng xác
minh
Trữ lượngtiềm năng
Trữ lượng xácminh
Trữ lượngtiềm năng
2.2.2.2 Trung Đông và Bắc Phi
Đây là khu vực có tiềm năng dầu khí khổng lồ với trữ lượng xác minh gần 720
tỷ thùng dầu và 2000 nghìn tỷ bộ khối khí Đây là khu vực được giới chuyên mônđánh giá là có chi phí thấp Chi phí phát hiện khoảng 0,5-1,0 USD/thùng dầu, chiphí phát triển mỏ và khai thác khoảng 2USD/thùng dầu (theo GEI)
Hiện nay, một số nước có tiềm năng dầu khí lớn ở khu vực này đã mở cửa chođầu tư nước ngoài, ngành dầu khí được tư nhân hoá Theo đó, hàng loạt cơ hộiđược mở ra cho PVEP gồm cả thăm dò diện tích mới và phát triển các mỏ đã đượcphát hiện Ngoài ra, khu vực này rất gần với thị trường các nước phát triển ở Tây
Âu là nơi tiêu thụ dầu và khí lớn của thế giới, thuận lợi cho thương mại hoá tiềmnăng dầu khí của các nước trong khu vực
Trang 33Đầu tư vào khu vực này, điều cần lưu ý nhất là rủi ro chính trị liên quan đếnlệnh cấm vận, nguy cơ nội chiến hay chủ nghĩa khủng bố ở Xu-đăng, I-rắc, An-giê-ri Tuy nhiên, đây cũng là một lý do làm giảm mức độ cạnh tranh trong khuvực này và đồng thời mở ra cho PVEP cơ hội có được nhữung dự án có giá trịthông qua đấu thầu hay con đường quan hệ chính trị.
Bảng 2 Tiềm năng dầu khí khu vực Trung Đông và Bắc Phi
Nước
Dầu (tỷ thùng) Khí (nghìn tỷ bộ khối)Trữ lượng xác
minh
Trữ lượngtiềm năng
Trữ lượng xácminh
Trữ lượngtiềm năng
Trang 342.2.2.3 Nga và các nước vùng Ca-xpiên
Nga và các nước vùng Ca-xpiên có tiềm năng dầu khí rất lớn, đặc biệt về khítrong đó Nga có trữ lượng khí lớn nhất thế giới (thể hiện ở bảng 3)
Bảng 3 Tiềm năng dầu khí khu vực Nga và các nước vùng Ca-xpiên
Nước
Dầu (tỷ thùng) Khí (nghìn tỷ bộ khối)Trữ lượng xác
minh
Trữ lượngtiềm năng
Trữ lượng xácminh
Trữ lượngtiềm năng
Trang 35và quan hệ kinh tế vẫn được thúc đẩy phát triển.
Hạn chế lớn nhất của thị trường này là hạ tầng cho việc phát triển thương mạihoá tiềm năng dầu khí thiếu hoặc quá cũ, hệ thống pháp luật nói riêng và môitrường kinh doanh nói chung còn nhiều bất cập Hơn nữa, thị trường này có sựcạnh tranh khá cao, rất nhiều công ty lớn trên thế giới đang tích cực triển khai đầu
tư và khẳng định sự quan tâm lâu dài đối với thị trường này
2.2.3 Các dự án hiện tại ở nước ngoài
Trang 362.2.3.1 Các dự án hiện có
Dự án phát triển mỏ dầu Amara, I-rắc
Hình 1 Mỏ dầu Amara-Irắc
Lô SK305, Ma-lai-xia, 30%
PM304 (Mỏ Cendor), Ma-lai-xia, 15%
Mỏ Dầu Amara Irắc 100%
Lô 433a&416b, An-giê-ri, 40%
Lô Majunga, Madagascar, 10%
Lô
Bomana,Ca-mơ-run, 25%
Lô E1, E2 Tuy-ni-di, đàm phán