Đó là cội nguồn cảm xúc của tác giả trong toàn bài thơ, nó gần gũi với tư tưởng yêu nước từng thấy trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu GV có thể gợi cho HS tìm những câu trong Văn tế nghĩ
Trang 19 x A GIAI BAI TAP
(Biên soạn theo chương trình mới của
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Trang 2MỤC LỤC Lời nói đầu .cce2222255sss.ssneesesnekeAesstssoseeesesseeseeghdcbef bì
LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG (Xuất dương lưu biệ
NGHĨA CỦA CÂU
NGHI LUAN VAN HOC
NGHIA CUA CAU (Tiép theo
LUYEN TAP THAO TAC LAP LUAN BAC BO
TRA BAI LAM VAN SỐ 5
VIET BAI LAM VAN SO
DAC DIEM LOAI HINH CUA TIENG VIET
TRA BAI LAM VAN SO 6
LUYEN TAP VIET TIEU SU TOM TAT
Đọc thêm: BÀI THƠ SỐ 28
110
Trang 3MỘT THỜI DAI TRONG THI CA (Trich)
PHONG CACH NGON NGU CHINH LUAN (Tiép theo
ON TAP PHAN VAN HOC
TOM TAT VAN BAN NGHI LUA
ON TAP PHAN TIENG VIET
LUYEN TAP TOM TAT VAN BAN NGHI LUAN
ON TAP PHAN LAM VAN
KIỂM TRA TONG HỢP CUOI NAM
TRA BAI KIEM TRA TONG HOP CUỐI NĂM
*
111
DO Gory
Trang 4Tuần 19
LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
(Xuất dương lưu biệt)
PHAN BỘI CHÂU
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Các em cần nêu hai ý lớn sau:
- Vào những năm cuối thế kỉ XIX, tình hình chính trị trong nước
hết sức đen tối: chủ quyển đất nước đã mất hoàn toàn vào tay giặc,
phong trào Cần vương văn thân thất bại không cơ cứu vãn, chế độ
phong kiến sụp đổ, kéo theo nó là sự sụp đổ cả một hệ tư tưởng
phong kiến già cỗi, bất lực Bao anh hùng, nghĩa sĩ cứu nước đã hỉ
sinh Tình hình đó đặt ra trước các nhà yêu nước một câu hồi lớn,
day đứt: Phải cứu nước bằng con đường nào?
- Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài tràn vào
Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và
trực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây Người ta có thể tìm thấy
ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước mới, những
viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai Vì thế các nhà thơ tiên tiến
của thời đại như Phan Bội Châu đã say sưa dấn bước, bất chấp mọi
nguy hiểm, gian lao
2 Đây là bài thơ theo kết cấu bài thơ Đường luật thất ngôn bát
cú nên các em có thể phân tích hai câu thơ một, để hiểu ý nghĩa và
cảm xúc, hình tượng nghệ thuật mà tác giả muốn gởi gắm
- Hai câu thơ đầu (để) để cập đến chí làm trai nói chung Hai câu
thơ khẳng định một lẽ sống đẹp, phới la có nghĩa là phải biết sống
cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ những việc kinh thiên
động địa, xoay chuyển càn khôn, chứ không thể sống tâm thường, tế
nhạt, buông xuôi theo số phận, chịu để cho con tạo vẫn xoay Với
Phan Bội Châu, đó là sự tiếp nối khát vọng sống mãnh liệt của
chàng trai đẩy nhiệt huyết, nhân vật trữ tình trong bài hát nói
Chơi xuân trước đó: “Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi - Sinh thời
thế phải xoay nên thời thế” Cảm hứng và ý tưởng đó có phần gần
gũi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước (Nguyễn Công
Trứ: “Làm trai đứng ở trong trời đất - Phải có danh gì với.núi
sông”), nhưng nó táo bạo và quyết liệt hơn Con người dám đối mặt
5
DO Cary
Trang 5với cả đất trời (càn khôn), cả vũ trụ để tự khẳng định mình, vượt
hẳn lên trên cái mộng công danh thường gắn liên với hai chữ hiếu,
trung để vươn tới những lí tưởng nhân quần, xã hội rộng lớn và cao
cả hơn nhiều Xưa nay, con fgo vdn xoay vốn là lẽ thường tình,
nhưng với Phan Bội Châu, ông ôm ấp khát vọng có thể xoay chuyển
càn khôn, không để cho nó £/ chuyển uẩn, cũng có nghĩa là không
chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh Lí tưởng sống ấy
đã tạo cho con người một tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàng, dám
ngạo nghễ, thách thức với càn khôn
- Hai câu thơ 3 - 4 (hực) nhằm triển khai cụ thể ý tưởng về chí
làm trai đã mở ra ở trên Chí làm trai đã gắn với ý thức về “cái tôi",
nhưng đây là một “cái tôi” công dân đầy tỉnh thần trách nhiệm
trước cuộc đời Cuộc thế trăm năm này cần phdi cé ta, khong phải
là để hưởng lạc thú mà là để cống hiến cho đời, để đáng mặt nam
nhi, để lưu danh thiên cổ Câu thơ thứ ba khẳng định dứt khoát,
đến câu thứ tư, tác giả chuyển giọng nghỉ vấn, nhưng cũng nhằm để
khẳng định quyết liệt hơn một khát vọng sống hiển hách, phát huy
hết tài năng và chí khí cống hiến cho đời Ý thơ được tăng cấp lên,
đồng thời thêm giọng khuyến khích, giục giã con người Với một lẽ
sống như thế, tất sẽ làm nên sự nghiệp, và tên tuổi không có lẽ lại
không lưu truyền mãi mãi tới cả ngàn năm sao'! Thân nam nhi há
lại chịu “nát với cỏ cây” (ý thơ của Nguyễn Công Trứ) sao ! Há lại
chịu để cho mai một tài năng và chí khí trong cảnh “cá chau chim
lồng” sao !
Bước vào mấy năm đầu thế kỉ XX, sau những thất bại liên tiếp
của các phong trào vũ trang chống Pháp, một nỗi thất vọng, bi quan
đè nặng tâm hôn những người Việt Nam yêu nước Tâm lí buông
xuôi, an phận, cam chịu cảnh “cá chậu chim lồng” có nguy cơ phát
triển Phan Bội Châu gọi đó là cái uợ chết lòng Hồi chuông thức
tỉnh này quả có ý nghĩa rất lớn
Cảm hứng lãng mạn bay bổng lại được gắn với những hình tượng
nghệ thuật kì vĩ, trường tổn: đất trời cao rộng (còn khôn), cuộc
nhân sinh một đời người (rong khoảng trăm năm) và cả tương lai
nối dài phía sau (sơu này muôn thuở), càng làm tăng đến vô cùng
sức mạnh của khát vọng và niém tin
DO Gory
Trang 6+ Hai câu thơ 5 - 6 (ludn) tiếp tục triển khai để, gắn chí làm trai
vào hoàn cảnh thực tế của nước nhà Lẽ nhục - vinh được đặt ra,
gắn với sự tôn vong của đất nước, của dân tộc “Non sông đã chết,
sống thêm nhục” Ở những tác phẩm khác, Phan Bội Châu từng viết:
“Bôi mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ”, “ Sao
bằng ngẩng đầu lên làm một người lỗi lạc của Tổ quốc” Đó là cội
nguồn cảm xúc của tác giả trong toàn bài thơ, nó gần gũi với tư
tưởng yêu nước từng thấy trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu (GV có
thể gợi cho HS tìm những câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cân Giuộc thể
hiện tư tưởng này) Nhưng đến câu 6 thì ý tưởng của Phan Bội Châu
đã vượt hẳn lên, mang những sắc thái mới của tư tưởng thời đại
Nếu như cảm hứng yêu nước trong thơ văn Đồ Chiểu ít nhiều còn
vương vấn hai chữ hiếu, trung (Quân thần một gánh nặng hai uai)
thì Phan Bội Châu đã khác Ông đã dám đối mặt với cả nền học
vấn cũ để nhận thức một chân lí: Sách vở thánh hiển chẳng giúp
ích được gì trong buổi nước mất nhà tan, nếu cứ khư khư ôm giữ chỉ
là ngu mà thôi Tất nhiên, ông chưa đến mức phủ nhận cả nền học
vấn Nho giáo đó, nhưng có được một ý tưởng như thế quả là đã hết
sức táo bạo đối với một người từng gắn bó với cửa Khổng sân Trình
Có được dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết phải kể đến
tấm lòng yêu nước nồng cháy mà ông đã thể hiện ở câu trên, đến
khát vọng tìm con đường đi mới có thể đưa nước nhà thoát khỏi
cảnh khổ đau Bên cạnh đó, không thể không nói đến ảnh hưởng
của luồng tư tưởng mới đã len lỏi vào đất nước ngay từ mấy năm
cuối thế kỉ XIX mà Phan Bội Châu đón nhận qua những cuốn Tớn
thư lưu truyền bí mật Nhân vật trữ tình ở đây đã thể hiện khí
phách ngang tàng, táo bạo, quyết liệt của một nhà cách mạng đi
tiên phong cho thời đại mới
- Bài thơ kết lại trong tư thế và khát vọng buổi lên đường của
nhân vật trữ tình Các hình ảnh ở hai câu thơ 7 - 8 đều hết sức lớn
lao: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc Tất cả đều như hoà
nhập với con người trong tư thế “bay lên” Hình ảnh kết thúc này
thật lãng mạn, hào hùng, con người dường như được chắp đôi cánh
thiên thần, bay bổng ở bên trên thực tại tối tăm, khắc nghiệt, vươn
ngang tầm vũ trụ bao la Trong thực tế, đây là một cuộc ra đi bí mật,
tiễn đưa chỉ có vài ba đồng chí thân cận nhất, phía trước mới chỉ le
lói những tia sáng của khát vọng, ước mơ Vậy mà con người ra đi
7
DO Cory
Trang 7tìm đường cứu nước vẫn hăm hở, tu tin va day quyết tâm như thế
Hình tượng thật đẹp và giàu chất sử thi Thanh niên trong thời đại
ngày nay có một lẽ sống đẹp, sống có lí tưởng, có hoài bão, ước mơ
và dám đương đầu với mọi thử thách để thực hiện hoài bão, ước mơ
đó
8 Hai câu thơ dịch 6 và 8 chưa lột tả hết “cái thần” của nguyên
tác Phan Bội Châu là một trong những nhà nho tiên tiến của thời
đại đã sớm tiếp cận với những tư tưởng dân chủ tư sản qua Tân (hư
Ông hiểu rất rõ sự mục ruỗng của triểu đình phong kiến Việt Nam
lúc đó: “Suốt một lũ trong vòng cung thất - Của ăn chơi cao huyết
muôn người”, sự bất lực của ông vua đang tồn tại trên ngai vàng:
“Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu” (Hỏi ngoại huyết thư) Mặc dù
là một nhà nho nhưng Phan Bội Châu không thể không nhận thấy
sự lỗi thời, lạc hậu của những tín điều xưa cũ từng một thời là
“khuôn vàng thước ngọc”, chỉ đạo mọi cung cách hành xử của cả một
lớp người như ông Trong hoàn cảnh thời đại mới, kinh điển của
thánh hiển đã không còn có thể trợ giúp cho con người giải quyết
những vấn để trọng đại của quốc gia, dân tộc đang làm nhức nhối
những con tim cháy bồng nhiệt tình cứu nước Sự thất bại của
phong trào Cần vương văn thân cuối thế kỉ XIX là một minh chứng
Ông phủ nhận một cách quyết liệt “có đọc sách cũng ngu thôi” Bản
dịch thơ là “học cũng hoài” mới chỉ nêu được ý phủ nhận mà chưa
thể hiện được cái khí phách ngang tàng, táo bạo, dứt khoát của tác
giả Ở câu thơ cuối bài cũng vậy Hình ảnh “Muôn trùng sóng bạc
tiễn ra khơi” êm ả như,một cuộc tiễn đưa bình thường, khi con tàu
vượt trùng dương Trong nguyên tác, hai câu 7 - 8 tạo thành một tứ
thơ đẹp Con người “đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông”, cả vũ
tru bao la “Ngan đợt sóng bạc cùng bay lên” (Thiên trùng bạch lãng
nhất tễ phủ Tất cả tạo thành một bức tranh hoành tráng mà hài
hoà, ở đó, con người là trung tâm, được chắp cánh bởi khát vọng lớn
lao, đã vút bay cao cùng ngọn gió, lông lộng giữa trời biển mênh
mông Và bên dưới đôi cánh đại bàng đó là muôn ngàn con sóng
cùng lúc dâng cao, tung bọt trắng xoá, dường như muốn tiếp sức cho
con người, bay thẳng tới chân trời mơ ước: Hình ảnh đậm chất sử
thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho một thời đại mới, một
thế kỉ mới
DO Cary,
Trang 84 Đối với câu hỏi này mang hàm ý tổng kết toàn bài Các em có
thể hướng theo cách trả lời sau:
- Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt
- Tư thế con người kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ
- Lòng yêu nước cháy bỏng và ý thức về lẽ nhục - vinh gắn liền
sự tồn vong của Tổ quốc
- Tư tưởng đổi mới táo bạo, đi tiên phong cho thời đại
- Khí phách ngang tàng, dám đương đầu với mọi thử thách
- Giọng thơ tâm huyết sâu lắng mà sục sôi, hào hùng
Luyện tập
Để viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của các em về
hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài, các em cần lưu ý những
nghệ thuật sau:
+ Vẻ đẹp hào hùng của nhân vật trữ tình thể hiện qua từng ý
trong bài nhưng tập trung nhất là ở hai câu thơ này
+ Hoàn cảnh đất nước ta mấy năm đầu thế kỉ XX và cuộc ra đi
tìm đường cứu nước của Phan Bội Châu
+ Mong muốn của tác giả thể hiện trong hai câu 7 - 8 là đuổi
theo cơn gió lớn qua biển Đông, cũng có nghĩa là tìm ra con đường
đi mới cho lịch sử đất nước, tìm ra trường hoạt động mới để thân
nam nhỉ được thỏa chí bình sinh
+ 8o sánh câu thơ cuối cùng cúa bản dịch với nguyên tác để thấy
bản dịch không hoàn toàn bám sát ý nguyên tác, đã chuyển một
khát vọng, một dự cảm, một liên tưởng bất chợt, một hình ảnh giàu
tính biểu tượng thành sự tường thuật miêu tả thực tế, do vậy, chưa
truyền đạt được phong độ hào hùng, niềm ham hở dấn thân cùng trí
tưởng tượng bay bổng của nhà thơ
+ Tâm thế cùng tư thế của nhân vật trữ tình lúc này là muốn lao
ngay vào một trường hoạt động mới mẻ, sôi động; bay lên làm quẫy
sóng đại dương hay bay cùng những đợt sóng trào sôi vừa thoáng
hiện trong tâm hôn tư tưởng
+ Hai câu thơ cuối gợi ta nhớ đến hai câu thơ của ai?
Đoạn thơ sẽ hay hơn nếu người viết thể hiện được những cảm xúc
riêng trước sức lay động sâu xa và mãnh liệt của hai câu thơ này
DO Copy
Trang 9NGHĨA CỦA CÂU
Gợi ý trả lời câu hỏi
(1 Hai thành phân nghĩa của câu
1 Các em cần đọc uà phân tích ngữ liệu trong SGĂ: so sánh từng
cặp câu Hai câu trong mỗi cặp câu đều để cập đến cùng một sự việc,
nhưng thái độ đánh giá sự việc của người nói là khác nhau
+ Ở cặp câu ø;) / a¿) cả hai câu đều nói đến sự việc Chí Phèo
từng có thời øo ước có một gia đình nho nhỏ Nhưng câu a; kèm
theo sự đánh giá chưa chắc chắn về sự việc (nhờ từ hình như), còn câu ø; đề cập đến sự việc như nó đã xảy ra
+ Ở cặp câu b;) / b;), cả hai câu đều để cập đến sự việc người fz cũng bằng lòng (Nếu tôi nói, nhưng câu b; thể hiện sự đánh giá chủ quan của người nói về kết quả sự việc (sự việc có nhiều khả năng xảy ra), còn câu ö; chỉ đơn thuần để cập đến sự việc
Phân tích ví dụ sau:
Dạ bẩm, thế ra y uăn uõ đều có tai cd Cha cha!
Những từ ngữ được in đậm thể hiện nghĩa tình thái
2 Nghia su uiệc
Nhận xét chung: Sự việc trong thực tế khách quan rất đa dạng Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và ở nước ta vẫn chưa thống nhất ý kiến là có bao nhiêu loại sự việc và mỗi loại sự việc
(còn gọi là sự tình, sự thể) có những đặc trưng nào
Các em cần lưu ý: Sự việc không phải chỉ là những sự kiện, hiện tượng, những hoạt động có tính động, có diễn biến trong thời gian
và không gian, mà có thể gồm cả các trạng thái tĩnh, hay những
quan hệ giữa các sự vật
- Một số loại sự uiệc phổ biến (tạo nên nghĩa sự việc của câu)
+ Các em phân tích ví dụ về các sự việc, hành động, trạng thái,
quá trình, tư thế, sự tồn tại, quan hệ Chú ý ở loại sự việc tổn tại có thể câu chỉ có hai bộ phận: động từ tổn tại (có, còn, mất, hết, ) và
sự vật tôn tại (khách, tiền, gạo, đệ tử, ông, tôi, ), cũng có thể có thêm bộ phận thứ ba: nơi chốn hay thời gian tổn tại (Trong nhà có khách.) Ở vị tí động từ tôn tại có thể là động từ hay tính từ miêu 10
Trang 10tả cách thức tổn tại (Ngoài song thỏ thẻ oanh uòng) nhưng đều có
nghĩa cơ bản như động từ có
+ Ở sự việc quan hệ thì có nhiều loại quan hé: déng nhat (1a),
sở hữu (cửø), so sánh để thấy sự giống nhau hay khác nhau (như,
giống, hệt, tựa, khác, ), nguyên nhân (vi, tai, do, bởi,.), mục đích
(dé, cho, )
+ Trong câu, những từ ngữ tham gia biểu hiện nghĩa sự việc
thường đóng các vai trò chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, hoặc
các thành phần phụ khác
Luyện tập
1 Các em cần doc bai Cau cá mùa thu của Nguyễn Khuyến
- Phân tích nghĩa sự việc ở từng câu thơ (dòng thơ):
Câu 1 diễn tả hai sự việc (Áo thu lạnh lẽo nước trong ueo) đều là
các trạng thái
Câu 2: một sự việc - đặc điểm (/huyên - bé)
Câu 3: một sự việc — quá trình (sóng - gợn)
Câu 4: một sự việc - quá trình (đ - đưa uèo)
Câu 5 : hai sự việc —> trạng thái (tầng mây - lơ lửng)
đặc điểm (trời - xanh ngắt) Câu 6 : hai sự a đặc điểm (ngõ trúc - quanh co)
trạng thái (khách - uắng eo) Câu 7: hai sự việc - tư thế (ựa gối, buông cần)
Câu 8: một sự việc - hành động (ở động vật đó là hoạt động cớ -đớp)
2 a) Nghia tinh thái thể hiện ở các từ kể, thực, đáng Các từ ngữ
còn lại biểu hiện nghĩa sự việc Nghĩa tình thái: công nhận sự danh
giá là có thực nhưng chỉ thực ở một phương diện nào đó (từ kể) còn
phương diện khác thì là điều đáng sợ
b) Từ tình thái có /ẽ thể hiện một phỏng đoán chỉ mới là khả năng,
chưa hoàn toàn: chắc chắn về sự việc (cả hai chọn nhằm nghề)
e) Câu có hai sự việc và hai nghĩa tình thái
- Sự việc thứ nhất: họ cũng phân uân như mình Sự việc này
cũng chỉ được phỏng đoán chưa chắc chắn (từ đễ = có lẽ, hình như, )
11
ZO) IO
Trang 11- Su việc thứ hai: mành cũng không biết rõ con gái mình có hư
hay là không Người nói nhấn mạnh bằng ba từ tình thái đến chính
ngay (mình)
3 Cần chọn từ tình thái để điển vào chỗ trống Chú ý đến sự phù
hợp với phần nghĩa sự việc: nói đến một người có nhiều phẩm chất
tốt (biết bính mến khí phách, biết tiếc, biết trọng người có tài) thì
không phải là người xấu Ở đây chỉ có thể là tình thái khẳng định
mạnh mẽ, cho nên cần chọn từ hẳn
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 5: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Gợi ý tìm hiểu các để
Để 1
- Phải tìm hiểu lí do vì sao người xưa cho rằng đàn bà không nên
kể Thuý Van, Thuy Kiéu trước khi có ý kiến (bác bỏ hay tán thành)
Vì văn chương Truyện Kiểu không đặc sắc ? Chắc không phải, vì
đây là một tác phẩm có giá trị bậc nhất về phương diện văn chương
Vậy là vì nội dung
Theo các nhà nho phong kiến, Thuý Kiểu có những hành động,
ứng xử không phù hợp với lễ giáo (băng lối uườn khuya đi tìm gặp
người yêu, tự ý thể ước với Kim Trọng, )
- Phê phán quan niệm sai lầm của người xưa: Thuý Kiểu thật
đáng thương, đáng quý trọng Kiểu có quyền chủ động đi tìm hạnh
phúc Trong giao tiếp và thể ước nàng luôn luôn giữ thái độ đoan
trang đúng mực Vì chữ hiếu, Kiểu phải hi sinh hạnh phúc riêng
(bán mình chuộc cha) Lâm vào tình thế tuyệt vọng, Kiểu đã mấy
lần tự tử nhưng không thành, Tóm lại Kiểu là một nhân vật đáng
thương, đáng quý trọng
- Khẳng định giá trị của Truyện Kiều và thái độ đúng đắn đối với
Truyện Kiều:
+ Đọc Truyện Kiểu, ta thấy sự tàn ác vô nhân của chế độ phong
kiến đối với con người, nhất là đối với phụ nữ, kể cả những bậc tài
sắc tuyệt vời
+ Truyện Kiều còn có giá trị nghệ thuật văn chương cao
12
DO Cary,
Trang 12+ Cần yêu mến và rút ra những bài học bổ ích khi thưởng thức
tác phẩm bất hủ Truyện Kiều
Đề 2
- Phân tích quá trình tha hoá của Chí Phèo từ một cố nông hiển
lành, chất phác thành người tha hoá cả tâm hồn lẫn ngoại hình
Tuy vậy, Chí Phèo chưa mất hết nhân tính
- Tìm và phân tích nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của nhân
vật Chí Phèo
- Phân tích nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phào:
+ Giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc
+ Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật điển hình
+ Vị trí của tác phẩm Chí Phèo trong sáng tác của Nam Cao
Đề 3
- Sự thay đổi thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục:
+ Lúc đầu khinh bạc, miệt thị trước sự biệt đãi của viên quản ngục
+ Sau đó cdm idm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục
mà viết tặng chữ và nói những lời tâm huyết
- Phân tích sự hợp lí của quá trình biến đổi thái độ của Huấn Cao
đối với viên quần ngục và rút ra ý nghĩa của sự thay đổi thái độ đó
Tuần 20
HẦU TRỜI
TẢN ĐÀ
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Qua bài thơ ta nhận ra tài hư cấu nghệ thuật độc đáo và có
duyên của Tản Đà Chuyện kể về một giấc mơ, mơ thì tất nhiên là
không có thực Chính tác giả lúc tỉnh mộng cũng hãy còn bàng
hoàng “chẳng biết có hay không” Đó là cảm xúc thực nhưng tứ thơ
lãng mạn lại là ở chỗ tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái
“hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực Bởi
thế mới có 3 câu sau hoàn toàn là khẳng định, dường như lật ngược
lại vấn để: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng.”, “Thật hồn ?
Thật phách ! Thật thân thể !”, “Thật được lên tiên ”
18
DO Cory
Trang 13Khổ thơ mở đầu đã gây được một mối nghỉ vấn, gợi trí tò mò của người đọc Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả sẽ kể trở
nên có sức hấp dẫn đặc biệt, không ai có thể bổ qua Cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên
9 Tản Đà được mời lên thiên đình là để đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe
- Thi sĩ rất cao hứng và có phần tự đắc: “Đương cơn đắc ý đọc đã thích” - “Văn dài hơi tốt ran cũng mây !” - “Trời nghe, Trời cũng
lấy làm hay.” - “Chửa biết con in ra mấy mươi ?” - “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”
- Chư tiên nghe thơ rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ: “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi” - “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày” - “Song Thanh, Tiểu Ngọc lắng tai đứng” - “Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.”
- Trời khen rất nhiệt thành: vdn thật tuyệt, chắc có ít, đẹp như
sao băng,
- Tác giả tự xưng tên tuổi và thân thế
Qua những lời kể đó ta có thể thấy được điểu gì về cá tính và
tâm hồn thi sĩ Tản Đà rất ý thức về tài năng thơ của mình, và
cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” - “cái tôi”
rất cá thể của một Tản Đà Nguyễn Khắc Hiệu - con người của một
vùng sông núi nước Nam Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận Trời
để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc hoàng Thượng đế và chư tiên Ngông vốn là một sản phẩm của xã hội, đặc biệt là xã hội
phong kiến Á Đông, “cái xã hội bị Khổng giáo úp chụp lên như cái vung, om cho ngạt thở” (Xuân Diệu) Ở cái xã hội lễ nghỉ chặt chẽ,
khuôn phép ấy, cá tính độc đáo thường bị coi là ngông, là khác đời
Trong văn chương, ngông thường biểu hiện thái độ phản ứng của
người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn, không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, đơn điệu, nên thường “phá cách”, tự để cao,
phóng đại cá tính của minh (Kia tho tri ki dan anh nhdt -No khdch
phong lưu bậc thứ nhì - Tú Xương) Đó là niềm khao khát chân
thành trong tâm hồn thi sĩ Giữa chốn hạ giới văn chương rẻ như
bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được
tri kỉ tri âm, phải lên tận cõi Tiên mới có thể thoả nguyện Vào đầu
những năm 20, khi thơ phú nhà nho đã tàn cuộc mà thơ mới chưa
ra đời, Tản Đà là nhà thơ đầu tiên trong văn học Việt Nam đã dám
14
Trang 14mạnh dạn hiện diện bản ngã đó: “Chủ nghĩa lãng mạn, với cá thể
(ndividu) đã bật nứt ra trong văn học Việt Nam trong những năm
đầu thế kỉ XX bằng Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu” (Xuân Diệu)
- Nhận xét về giọng kể của tác giả: Giọng kể của tác giả rất đa
dạng, hóm hỉnh và có phần ngông nghênh, tự đắc (các em nên tìm
dẫn chứng trong bài và phân tích thêm chỉ tiết này để làm nổi bậc ý
của tác giả) Thái độ ngông nghênh, tự đắc ở đây dường như đã được
phóng đại một cách có ý thức, gây ấn tượng mạnh cho người đọc
8 Các tìm đoạn thơ hiện thực trong bài và giải đáp câu hỏi theo
các gợi ý sau:
- Tan Đà nói đến nhiệm vụ truyển bá “thiên lương” mà Trời giao
cho là có ý gì ? Điều đó chứng tổ Tản Đà lãng mạn, nhưng không
hoàn toàn thoát li cuộc đời, ông vẫn ý thức về trách nhiệm với đời
và khát khao được gánh vác việc đời Đó cũng là một cách tự khẳng
định mình
- Nhưng cuộc đời - cụ thể là xã hội thực dân nửa phong kiến - đã
đối xử với ông, người nghệ sĩ tài hoa, như thế nào ? Cuộc đời người
nghệ sĩ trong xã hội lúc đó hết sức cơ cực, tủi hổ (không tấc đất cắm
dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiều chiều, )
Tản Đà đã vẽ một bức tranh rất chân thực và cảm động về chính
cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn khác Tản Đà nổi tiếng tài
hoa một thời mà suốt đời sống nghèo khổ, cùng quẫn (“Hôm qua
chứa có tiển nhà - Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào - Đi ra rồi
lại đi vào - Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ”) Về cuối đời, ông
từng phải mở cửa hàng xem tướng số để kiếm ăn nhưng không có
khách, mở lớp dạy Hán văn và Quốc văn nhưng không có học trò
Cuối cùng, ông chết trong cảnh nghèo đói, nhà cửa, đồ đạc bị chủ nợ
tịch biên, chỉ còn một cái giường mọt, cái ghế ba chân, chồng sách
nát và một be rượu) Bức tranh hiện thực đó giúp chúng ta hiểu
thêm vì sao Tản Đà thấy đời đáng chán ("Trần thế em nay chán
nửa rồi”), vì sao ông phải tìm cõi tri âm tận trời cao (“Tri kỉ trông
lên đứng tận thời"), phải tìm đến chị Hằng Nga, Ngọc hoàng
Thượng đế, chư tiên, để thoả niểm khao khát Hai nguồn cảm
hứng lãng mạn và hiện thực thường đan cài khăng khít trong không
như thế
15
DO Gory
Trang 154 Câu hỏi có tính chất tổng kết về mặt nghệ thuật Nên các em
tìm dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại:
- Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc
bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái,
tự nhiên, phóng túng
- Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời,
không cách điệu, ước lệ
- Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc
- Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện,
đồng thời là nhân vật chính Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do,
không hề gò ép
Có thể thấy, Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định
mình giữa lúc thơ phú nhà nho đang đi dân tới đấu chấm hết Nhìn
chung thơ Tản Đà chưa mới (ở thể loại, ở ngôn từ, ở hệ thống hình ảnh
nghệ thuật, ), nhưng những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại đã
khá đậm nét Có thể nói, ông đã bắc một nhịp câu nối hai thời đại thi
ca Việt Nam Bởi thế, tác giả Thi nhân Việt Nam đã mời anh hôn Tản
Đà ra để chứng giám Hội Tao đàn của thế kỉ XX
1 Các em có thể lựa chọn bất kì tứ thơ hoặc câu thơ nào trong
bài mà mình thích thú nhất rồi viết đoạn văn trình bày những cảm
nhận sâu sắc hoàn toàn theo ý cá nhân
Ví dụ:
- Tứ thơ rất ngông và rất lãng mạn của Tản Đà: mơ lên hầu Trời
và đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe
- Bốn câu thơ vào bài mà thi sĩ Xuân Diệu nói là: “.tôi phục
nhất ” (tham khảo lời giới thiệu trong Thơ Tản Đà, NXB Văn học,
Hà Nội, 1982)
- Những lời ban khen của Trời và chư tiên; thái độ “đắc ý” của
thi sĩ trước những lời ban khen đó
- Ước nguyện cuối bài: “Một năm ba trăm sáu mươi đêm, - Sao
được mỗi lên hầu Trời”
9 Bài tập này dành cho các em khá giỏi, có năng khiếu Các em
cần biết tích hợp những kiến thức đã học, từ Nguyễn Công Trứ đến
16
DO Cary,
Trang 16Tú Xương, Tản Đà, để hiểu ngông trong văn chương là phản ứng
của những người nghệ sĩ tài hoa, có cá tính, không chịu trói mình
trong một khuôn khổ chật hẹp, cũng thể hiện phản ứng của những
người trí thức có nhân cách trước một xã hội mà họ không thể chấp
nhận, cũng không muốn nhập cuộc Có thể phân tích Bài ca ngất
ngưởng của Nguyễn Công Trứ, Muốn làm thằng cuội của Tản Đà
Tìm những biểu hiện “ngông” của Tản Đà trong bài thơ này Giải
thích lí do
NGHĨA CỦA CÂU
(Tiếp theo)
Gợi ý trả lời câu hỏi
- Phân tích biểu hiện của nghĩa tình thái ở hai phương diện phổ
biến:
+ Phương diện thứ nhất: sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của
người nói đối với sự việc được để cập đến
Cách phân tích: chú ý đến từ ngữ tình thái (in đậm) Nếu bỏ từ
ngữ tình thái đi thì nghĩa tình thái thay đổi, hoặc so sánh các từ
ngữ tình thái như chếc / có lẽ, chỉ (mua) / (mua) những, là cũng Jlè
ít (ít nhất), không thể! có thể sẽ thấy các nghĩa tình thái khác nhau
+ Phương diện thứ hai: tình cảm, thái độ của người nói với
người nghe
Luyện tập
1 a) - Nghĩa sự việc: hiện tượng thời tiết (nắng) ở hai miền
(Bắc/Nam) có sắc thái khác nhau
- Nghia tình thái: phỏng đoán với độ tin cậy cao (chốc)
b) - Nghĩa sự việc: ảnh là của mợ Du và thằng Dũng
- Nghĩa tình thái: khẳng định sự việc ở mức độ cao (rõ rùng là)
©) - Nghĩa sự việc: cái gông (to nặng) tương xứng với tội án tử tù
- Nghĩa tình thái: khẳng định một cách mỉa mai (/hật¿ 1à)
d) - Nghĩa sự việc của câu thứ nhất nói về nghề cướp giật của
hến Tình thái nhấn mạnh bằng từ chỉ
17
DO Cory
Trang 1718
- Ở câu thứ ba: Đỡ đành là từ tình thái hàm ý miễn cưỡng
công nhận một sự thực rằng hắn mạnh ›ì liều (nghĩa sự việc),
nhưng cái mợnh uì liều ấy cũng không thể giúp hắn sống khi
không còn sức cướp giật, doạ nạt
9 Các từ ngữ thể hiện nghĩa tình thái trong câu:
a) nói của đáng tội (thừa nhận việc khen này là không nên làm
a) Câu ø: hình như (thể hiện sự phỏng đoán chưa chắc chắn)
b) Cau b: dé (thể hiện sự phỏng đoán chưa chắc chắn = có lẽ)
e) Câu c: độn (đánh giá khoảng cách là xa)
4 Ta có thể đặt câu với từ ngữ tình thái như sau:
- Nó không đến cũng chưa biết chừng (cảnh báo dè dặt về sự việc)
- Bây giờ chỉ 8 giờ là cùng (phỏng đoán mức độ tối đa)
- Nghe nói hàng hoá sẽ giảm giá nay mai (nói lại lời người khác
mà không tỏ thái độ riêng)
- Chả lẽ nó làm uiệc này (chưa tin vào sự việc đã có một phần
biểu hiện)
- Cậu là con rể cơ mà (nhắc gợi để nhớ tới một sự thật)
*
DO Gory
Trang 18Tuần 21
VỘI VÀNG
XUÂN DIỆU
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào, nhưng
vẫn theo mạch luận lí, có bố cục chặt chẽ: Bài thơ có thể chia làm
ba đoạn:
- Đoạn một (13 câu thơ đầu): bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế
- Đoạn hai (từ câu 14 đến câu 29): thể hiện nỗi băn khoăn về sự
ngắn ngủi của kiếp người, trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian
- Đoạn ba (từ câu 30 đến hết): lời giục giã cuống quít, vội vàng để
tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của
cuộc đời, của vũ trụ
Ba đoạn thơ này vận động vừa rất tự nhiên về cảm xúc, vừa rất
chặt chẽ về luận lí
2 Thời gian tự nhiên, thời gian khách quan thì muôn đời vẫn thế
Nhưng quan niệm về thời gian, sự cảm nhận về thời gian thì mỗi
thời đại, mỗi cá nhân mỗi khác
- Từ xa xưa, nhiều thi nhân đã từng than thở về sự ngắn ngủi của
kiếp người Người ta gọi là đáng phù uân, là bóng câu qua cửa sổ,
Nhưng do xuất phát từ cái nhìn tĩnh có phần siêu hình, lấy sinh
mệnh vũ trụ để làm thước đo thời gian nên nhiều nhà thơ trung đại
quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu Thời ấy, cá nhân còn
chưa tách khỏi cộng đồng, con người còn gắn làm một với vũ trụ,
cho nên người ta vẫn đỉnh ninh người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn
có thể cùng với cộng đồng và trời đất tuân hoàn
Ở thế hệ các nhà thơ mới, do được thức tỉnh về ý thức cá nhân,
quan niệm về thời gian như vậy đã hoàn toàn đổ vỡ Sự cảm nhận
thời gian của Xuân Diệu khác với quan niệm thời gian tuần hoàn
của người xưa Với Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, một đi không
trở lại Vũ trụ không ngừng vận động, thời gian luôn luôn chảy trôi,
mỗi giây phút trôi qua là mất đi vĩnh viễn Quan niệm này xuất
phát từ cái nhìn động, rất biện chứng về vũ trụ và thời gian:
19
DO Gory
Trang 19Xuân đương tới, nghĩa lò xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Rất nhạy cảm trước sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian, nhà
thơ "mới nhất trong các nhà thơ mới” đã lấy cái quỹ thời gian hữu
hạn của đời người, thậm chí lấy khoảng thời gian quý giá nhất của
mỗi cá nhân là £uổi trẻ để làm thước đo thời gian Xuân Diệu say
sưa tranh luận với quan niệm cũ về thời gian Dẫu vũ trụ có thể
vĩnh viễn, thời gian có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần
thắm lại”:
Mù xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chỉ rằng xuân uẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hơi lần thắm lại !
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Do ý thức sâu sắc về sự trôi chảy quá nhanh chóng, một đi không
trở lại của thời gian, cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm
nhận đầy tính mất mát Qua cái nhìn độc đáo của Xuân Diệu, mỗi
khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia lìa: “Mùi tháng năm
đều rớm vị chia phôi - Khắp sông núi vẫn than thảm tiễn biệt” Mỗi
sự vật trong vũ trụ đang từng giây, từng phút ngậm ngùi chia li,
tiễn biệt một phần đời của mình: :
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn uì nỗi phải bay đi ? Chim rộn ràng bỗng đút thông reo thì, Phải chăng sợ độ thai tàn sắp sửa ? Cách cảm nhận về thời gian như vậy, xét đến cùng là do sự thức
tỉnh sâu sắc vẻ “cái tôi” cá nhân, về sự tổn tại có ý nghĩa của mỗi
cá nhân trên đời, nâng nỉu trân trọng từng giây, từng phút của cuộc
đời, nhất là những năm tháng tuổi trẻ
- Thời gian trôi chảy nhanh chóng, một đi không trở lại
Không thể níu giữ thời gian Vậy chỉ còn một cách thôi: Hãy mau
lên, “vội vàng” lên để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của
mình, tận hưởng những gì mà cuộc đời ban tặng cho mình “Cho
20
DO Cary,
Trang 20chếnh choáng mùi thơm, cho đã đẩy ánh sáng - Cho no nê thanh
sắc của thời tươi” Đó chính là niễm khát khao sống sôi nổi, mãnh
liệt của thanh niên, của tuổi tré
8 Xuân Diệu đã phát hiện ra có một thiên đường ngay trên mặt
đất này, không xa lạ mà rất đỗi quen thuộc, ở ngay trong tâm tay
của mỗi chúng ta Hình ảnh thiên nhiên và sự sống quen thuộc hiện
ra qua cái nhìn và sự cảm nhận độc đáo của nhà thơ
+ Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu gợi lên vừa
gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, đẩy tình tứ Nhà thơ đã phát
hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu
rạo rực, đắm say, ngây ngất:
Của ong bướm này đây tuân tháng mật;
Này đây hoa của đông nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình sử;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thân Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gân
+ Hình ảnh thiên nhiên và sự sống, qua cảm nhận của Xuân
Diệu, như đã nói ở trên, còn nhuốm màu chia li, mất mát: "Mùi
tháng năm đều rớm vị chia phôi [ ] - Phải chăng sợ độ phai tàn
sắp sửa” Đây chính là hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống được cảm
nhận qua lăng kính thời gian, một thời gian trôi qua nhanh chóng,
một đi không bao giờ trở lại
Có thể thấy, Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên qua lăng kính của
tình yêu, qua cặp mắt của tuổi trẻ Nhờ vậy mà thiên nhiên, cảnh
vật đều nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình Đó là cái nhìn lấy
con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về
vẻ đẹp của giai nhân: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, “Tháng
giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào
ngươi !”- Đây là một cách nhìn rất Xuân Diệu
- Qua đó, nhà thơ đã thể hiện một quan niệm mới về cuộc sống,
về tuổi trẻ và hạnh phúc Đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất,
mê hôn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu Thời gian
quý giá nhất của mỗi đời người là tudi ¿rẻ, mà hạnh phúc lớn nhất
21
DO Cpry
Trang 21của tuổi trẻ chính là ứình yêu Biết hưởng thụ chính đáng những gì
mà cuộc sống dành cho mình, hãy sống mãnh liệt, sống hết mình,
nhất là những tháng năm tuổi trẻ, đó là một quan niệm mới, tích
cực, thấm đượm tỉnh thần nhân văn
4 Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ thứ ba:
+ Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba gần gũi, quen thuộc mà tươi
mới, giàu sức sống, đầy quyến rũ và tình tứ Đó là những hình ảnh
rất táo bạo, đầy cảm giác
+ Ngôn từ của bài thơ gần với lời nói thường, nhưng đã được
nâng lên thành nghệ thuật Cách dùng từ của Xuân Diệu rất táo
bạo Cảm xúc dào dạt, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn
từ vừa đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến
Tác giả dùng dồn dập những động từ mạnh, tăng tiến chỉ sự đắm
say; nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân tươi trẻ; nhiều tính từ chỉ
xuân sắc; nhiều điệp từ, điệp cú
+ Nhịp điệu của đoạn thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt
- Các em nên tự nêu hình ảnh mà mình yêu thích và nói rõ lí do
yêu thích của mình
Luyện tập
Nhận định của Vũ Ngọc Phan chủ yếu nói về lòng yêu đời, yêu
cuộc sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu Đó là “giọng yêu đời
thấm thía” Lòng yêu đời ấy, theo Vũ Ngọc Phan, xuất phát từ hai
nguồn cảm hứng mới, và đó cũng là hai để tài xuyên suốt trong thơ
trước Cách mạng của Xuân Diệu, có quan hệ mật thiết với nhau:
tình yêu và tuổi trẻ (“yêu đương và tuổi xuân”) Dù ở tâm trạng nào
(“lúc vui hay lúc buồn”), thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời ấy
Các em phân tích bài thơ Vội uờng (và có thể một số bài thơ đã
đọc) để làm rõ nhận xét trên của Vũ Ngọc Phan
22
DO Cary,
Trang 22THAO TAC LAP LUAN BAC BO
Gợi ý trả lời câu hỏi
a) Ông Đinh Gia Trinh (đoạn trích ø) bác bỏ cách lập luận thiếu
tính khoa học, suy diễn chủ quan của ông Nguyễn Bách Khoa Tác giả
chỉ ra sự suy diễn vô căn cứ của ông Nguyễn Bách Khoa khi giảng giải,
phân tích lời nói và những câu thơ của Nguyễn Du Nét đặc sắc trong
nghệ thuật bác bồ ở đoạn này biểu hiện ở cách diễn đạt (phối hợp câu
tường thuật, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, ), ở cách so sánh với những
thi sĩ nước ngoài từng có trí tưởng tượng kì dị, tương tự trí tưởng tượng
của Nguyễn Du Nhờ đó, ông Đinh Gia Trinh đã bác bỏ thành công,
đây sức thuyết phục ý kiến của ông Nguyễn Bách Khoa cho rằng
“Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh”
b) Tác giả Nguyễn An Ninh (đoạn trích b) bắc bỏ luận cứ lệch lạc
là: “Nhiêu đông bào chúng ta, để biện minh uiệc từ bỏ tiếng mẹ đẻ,
đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn.” Thái độ từ bỏ
tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) bắt nguồn từ nhiều căn cứ Trong đó, việc
than phién tiếng nước mình nghèo chỉ là một căn cứ Tác giả vừa
trực tiếp phê phán rằng “Lời trách cứ này không có cơ sở nào cd.”,
vừa phân tích bằng lí lẽ và dẫn chứng, rồi truy tìm nguyên nhân
của luận cứ sai lệch là “Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ
hay sự bất tài của con người?”, để bác bỏ
e) Ông Nguyễn Khắc Viện (đoạn trích c) nêu luận điểm không
đúng đắn của người khác: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi !” rồi bác bỏ
luận điểm đó bằng cách nêu lên những dẫn chứng cụ thể và phân
tích rõ tác hại ghê gớm của việc hút thuốc lá
Luyện tập
1 a) Nguyễn Du bác bỏ một ý nghĩ sai lệch (Cứng quá thì gãy, từ
đó mà đổi cứng ra mêm), Nguyễn Đình Thi bác bổ một quan điểm
sai lâm (hơ là những lời đẹp)
b) Cách bác bỏ và giọng văn
- Nguyễn Du dùng lí lẽ và dẫn chứng để trực tiếp bác bỏ với
giọng văn dứt khoát, chắc nịch
23
DO Cary
Trang 23- Nguyễn Đình Thi dùng dẫn chứng để bác bỏ luận điểm với
giọng văn nhẹ nhàng, tế nhị
e) Rút ra bài học: khi bác bỏ, cần lựa chọn mức độ bác bỏ và
giọng văn sát hợp
2 Đây là một quan niệm sai lệch về kết bạn trong học sinh
- Có thể dùng cách truy tìm nguyên nhân, phân tích tác hại của
quan niệm sai, để bác bổ, sau đó nêu suy nghĩ và hành động
đúng,
- Nên đùng giọng văn nhẹ nhàng, tế nhị, để thuyết phục bạn có
quan niệm sai lâm
Tuần 22
TRANG GIANG
HUY CAN
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Đề từ tuy nằm ngoài văn bản của tác phẩm, nhưng tập trung
thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả Câu thơ
đề từ của bài Tràng giang: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” là
một ví dụ tiêu biểu Tuy chỉ bằng một câu thơ bảy chữ, nhưng đề từ
này đã thể hiện được một phần quan trọng hôn cốt của toàn bộ tác
phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi buồn (bàng khuâng tức là có
những cảm xúc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau)
trước cảnh vũ trụ bao la, bát ngát (rời rộng, sông dài)
Có thể nói, Tròng giang đã triển khai một cách tập trung cảm
hứng nêu ở câu thơ để từ ‘
2 Toàn bài thơ mang âm điệu trầm buồn vừa dư vang vừa sâu
lắng Đó là nỗi buồn sầu ngấm sâu trong lòng tạo vật và trong tâm
hôn nhà thơ Âm điệu đó còn được tạo nên bởi nhịp điệu và thanh
điệu của thể thơ thất ngôn Nhịp thơ chủ yếu là 2/2/3, đôi chỗ là 4/3
hoặc 2/5,
Đọc chậm và diễn cảm sẽ thấy nhịp thơ đó chất chứa nỗi buồn
sầu mênh mang Thanh điệu chủ yếu theo kiểu thất ngôn cổ điển
Với sự luân phiên BB / TT / TBB - TT / BB / BTT, nhưng lại có
biến thái qua việc sử dụng nhiều từ láy, sự lặp lại đều đặn tạo âm
24
DO Cary,
Trang 24hưởng trôi chảy triển miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và
hồn người
3 Bài thơ tạo đựng một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ
với tầm vóc mênh mang, vô biên, đậm chất Đường thi Đó là một hệ
thống hình ảnh ước lệ thường được dùng trong thơ cổ: fròng giang;
thuyền uễ, nước lợi; nắng xuống, trời lên; sông dài, trời rộng, mây
cao đùn núi bạc; bóng chiếu, uời con nước; khói hoàng hôn,
Tuy nhiên, bức tranh thiên nhiên ấy lại có nét quen thuộc, gần
gũi, phảng phất cảnh vật sông nước trên khắp đất nước Việt Nam:
một dòng sông mênh mang, một con thuyền xuôi dòng; một cành củi
khô và những cánh bèo trôi dạt lênh đênh; những bờ cây xanh;
những bãi cát vàng; một cánh chim nhỏ in trên trời mây,
Sự hoà quyện của hai hệ thống hình ảnh đó tạo nên cho bài thơ
một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tỉnh tế, cổ điển mà thân quen
4 Tình yêu thiên nhiên thấm được lòng yêu nước thầm kín:
Đây là thời các nghệ sĩ bày tổ lòng yêu nước một cách xa xôi,
bóng gió (Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thể non nước của
Tần Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, ) Huy Cận từng viết
về nỗi buôn sông núi - nỗi buồn của người dân thuộc địa trước giang
sơn bị mất chủ quyển Ở bài thơ này, nỗi buồn sâu ấy đã hoà vào
nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vắng và niềm thiết tha
với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương
đất nước
5 Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính với cách ngắt nhịp
quen thuộc (4/3) tạo nên sự cân đối, hài hoà Thủ pháp tương phản
được sử dụng triệt để: hữu hạn/vô hạn; nhỏ bé/lớn lao; không/có,
Cac tit lay: diu hiu, chót uót, lơ thơ, , điệp điệp, song song, lớp
lớp, dợn đợn, Các biện pháp tu từ: nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,
Dựa vào phần hướng dẫn ở trên để khai thác giá trị của các biện
pháp nghệ thuật đó
Luyện tập
1 Tròng giang khắc hoạ một không gian rộng lớn Đó là không
gian của dòng sông sóng nước mênh mang như đang chảy về vô tận,
rồi từ chiều dọc không gian mở ra theo chiều ngang, lan toả đôi bờ
25
DO Cpry
Trang 25Chiều thứ ba của không gian vũ trụ mở ra với bầu trời sâu chót vót
Cả ba chiều của không gian đều không có giới hạn, tất cả thấm sâu
nỗi sâu nhân thế, nỗi buồn cô đơn của nhà thơ
Tràng giang của đất trời, tràng giang của tâm tưởng nhà thơ
không những trôi xuôi theo dòng nước mà còn trôi theo dòng thời
gian từ hiện tại về quá khứ xa xôi Rồi từ dòng sông thời tiên sử,
nhà thơ lại trở về hiện tại để tìm điểm tựa tỉnh thần ở quê hương
đất nước
Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật ở Tràng giang đã
góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm của tác giả
2* Câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi nhớ hai
câu thơ của Thôi Hiệu trong bài thơ Lêu Hoàng Hạc Cùng viết về
khói sóng buổi hoàng hôn, cùng gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương
nhưng lại có sự khác biệt tiêu biểu cho thơ cũ, thơ cổ điển và thơ
mới, thơ hiện đại Thơ cũ tả cảnh ngụ tình, cảnh vật khơi gợi tâm
trạng Thơ mới, thơ của cái tôi nội cảm, không cần mượn tới ngoại
cảnh mà vẫn tự biểu hiện được những cung bậc cảm xúc thiết tha
LUYEN TAP THAO TAC LAP LUAN BAC BO
Ggi ý trả lời câu hỏi
1 a) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của Ghéc-xen:
- Nội dung: bác bỏ một quan niệm sống sai lắm - sống bó hẹp
trong ngưỡng cửa nhà mình
- Cách bác bỏ: dùng lí lẽ bác bỏ trực tiếp, kết hợp so sánh bằng
hình ảnh sinh động (mảnh vườn rào kín, đại dương mênh mông bị
bdo tap làm nổi sóng) để vừa bác bỗ vừa nêu ý đúng, động viên
người đọc làm theo
- Diễn đạt: từ ngữ giản dị, có mức độ, phối hợp câu tường thuật
và câu miêu tả khi đối chiếu, so sánh khiến đoạn văn sinh động,
thân mật, có sức thuyết phục cao
b) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của Ngô Thì Nhậm:
- Nội dung: Vua Quang Trung (ấm) bác bỏ thái độ e ngại, né
tránh của những hiển tài (người học rộng íài cao) không chịu ra
giúp nước trong buổi đầu nhà vua dựng nghiệp
26
DO Cary,
Trang 26- Cách bác bỏ: không phê phán trực tiếp mà phân tích những khó
khăn trong sự nghiệp chung, nỗi lo lắng và lòng mong đợi người tài
của nhà vua, đông thời khẳng định trên đổi đất uăn hiến của nước
ta không hiếm người tài để bác bỏ thái độ sai lầm nói trên, động
viên người hiển tài ra giúp nước
- Diễn đạt: từ ngữ trang trọng mà giản dị; giọng điệu chân thành,
khiêm tốn; sử dụng câu tường thuật, kết hợp câu hỏi tu từ; dùng lí
lẽ kết hợp hình ảnh so sánh (Một cái cột không thể đỡ nổi một căn
nhà lớn), Đoạn văn có tác dụng vừa bác bỏ, vừa động viên, khích
lệ, thuyết phục đối tượng (người tài danh) ra giúp nước
2 Khi tiế hành thao tác lập luận bác bỏ cần chú ý:
- Không nên “phủ đình sạch trơn” Đọc nhiều sách, học thuộc
nhiều thơ văn cũng như rèn luyện để có một tư duy, cách nói, cách
viết tốt đếu là những yếu tố quan trọng có thể học giỏi môn Ngữ
văn Đó đều là các điều hiện cân
- Tuy nhiên, vẫn có cơ sở để có thể bác bỏ cả hai cách hiểu trên
Bởi các cách hiểu ấy tuy không phải hòan toàn sai, nhưng cũng
không hoàn toàn đúng
Mỗi cách hiểu đều có những điều kiện cần, nhưng lại chưa phải
là điều kiện đủ
- Bởi học môn Ngữ văn là công việc không đơn giản Ngữ văn là
khoa học về tiếng nói, trước hết là tiếng nói của dân tộc (ngữ), và là
khoa học về con người trong đời sống (văn) Muốn học giỏi môn NÑgữ
văn, người học trước hết phải biết tiếng mẹ đẻ, biết yêu con người
và đời sống, khao khát tìm hiểu đời sống, con người và chính bản
thân mình để có thể sống tốt đẹp hơn và giãi bày tư tưởng, cảm xúc
của mình một cách chân thực hơn Từ đó, người đọc mới có động cơ
đúng đắn và nghị lực để đọc sách, học thuộc nhiều thơ văn để rèn
luyện cách suy nghĩ đúng đắn, chặt chẽ, cách nói, cách viết chính
xác, hấp dẫn
3 Bài tập 3 là sự vận dụng sáng tạo, sau đây là phương pháp
làm loại bài này:
- Khi các em chuẩn bị nói, hoặc viết đoạn văn bác bỏ, các em nên
bố cục đoạn nói, viết sao cho luận cứ sáng sủa, rành mạch, sắp xếp
hợp lí, dẫn chứng khoa học và chặt chẽ Chẳng hạn mỗi đoạn văn
hoặc bài văn bác bổ nên nêu ý kiến cần bác bỏ; phân tích nguyên
27
ZO) IO
Trang 27nhân (cả hai quan niệm trên đều bắt nguồn từ những suy nghĩ
phiến diện, từ thái độ học tập, ý thức, động cơ, rèn luyện, phấn
đấu hạn chế, ) Sau đó chỉ ra những tác hại của sai lệch (ảnh
hưởng xấu tới kết quả học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức của
người thanh niên học sinh, ) Cuối cùng, có thể đưa ra một vài
phương hướng suy nghĩ và hành động đúng đắn về vấn đề bàn luận
- Ngoài những văn liệu được dẫn trong SGK, các em có thể dẫn
thêm thơ văn đã học như đoạn Vương Tử Trực bác bỏ ý kiến cha con
Võ Thể Loan (trong Truyện Lục Vân Tiên); Ngô Tử Văn bác bỏ ý
kiến Diêm Vương (trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên); Tào
Tháo bác bổ ý kiến Lưu Bị (trong đoạn trích Tào Tháo uống rượu
luận anh hùng)
Sau đó các em tiến hành làm các bài tập 3
TRẢ BÀI LÀM VĂN SỐ 5
Bài làm văn số 5 là bài viết mở đầu cho phần Làm vdn 6 hoc ki
IL Trước đó, các em đã được viết bài nghị luận văn học, đã được học
các thao tác lập luận phân tích, so sánh và cách vận dụng kết hợp
hai thao tác này
Gợi ý dàn bài sơ lược cho bài làm van đề số 3:
Mở bài
Truyện Chữ người tử tù có nét đặc sắc gì về nghệ thuật khắc hoạ
tính cách nhân vật ? Điều đó thể hiện rõ nhất ở nhân vật nào §
Thân bài
Sự thay đổi thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục:
a) Giai đoạn đầu:
- Viên quần ngục tổ ý biệt đãi Huấn Cao và Huấn Cao nói lời
miệt thị (trích dẫn chứng để phân tích)
- Câu trả lời của Huấn Cao ngắn gọn, đanh thép, đây miệt thị
- Thái độ của Huấn Cao có phù hợp với nhân cách và hoàn cảnh
của nhân vật không ?
28
DO Cary,
Trang 28b) Giai đoạn sau:
- Huấn Cao cảm động vì tấm lòng biệt nhỡn liên tài, viết tặng
viên quản ngục những chữ rất đẹp và khuyên bảo viên quản ngục
những lời tâm huyết (trích dẫn chứng để phân tích)
- Lời nói và thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục hoàn
toàn khác trước Thái độ đó cũng rất phù hợp với nhân cách của
Huấn Cao
Kết bài
Nguyễn Tuân đã vẽ nên hình ảnh Huấn Cao vừa cao ngạo bất
khuất, vừa chân tình và tài hoa, biết trân trọng những tấm lòng tốt
trong thiên hạ, biết để cao thiên lương đẹp đẽ của con người
Nguyễn Tuân đã thành công trong nghệ thuật khắc hoạ tính cách
nhân vật
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 6: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
(Bài làm ở nhà)
Bài làm văn số 6 là bài viết ở nhà, đồng thời cũng là bài văn
nghị luận xã hội số 2 trong năm học Trước bài làm văn này, các em
cũng đã được học và luyện tập các thao tác phân tích, so sánh và
bác bỏ Bởi vậy, bài làm văn có yêu cầu cao hơn: vận dụng kết hợp
Sau đây là một số đề bài để các em tham khảo:
Đề 1 Đồng cảm và sẻ chia đang là nếp sống đẹp hiện nay trong
xã hội ta Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nếp sống tốt
đẹp ấy
Đề 9 Chúng ta ra sức phấn đấu để đạt thật nhiều thành tích nhưng
cần phải tránh xa bệnh thành tích Anh (chị) hãy bày tổ quan điểm và
thái độ của mình đối với căn bệnh thành tích hiện nay
29
DO Cory
Trang 29Đề 3 Tai nạn giao thông đang là vấn nạn hiện nay ở nước ta
Anh (chị) hãy đóng góp ý kiến của mình để góp phần giảm thiểu
vấn nạn đó
Tuần 23
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
HÀN MẶC TỬ Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Câu mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” là câu hồi
nhưng lại gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời
gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ (hay đấy cũng là lời
nhà thơ tự trách, tự hỏi mình, là ước ao thẩm kín của người đi xa
được về lại thôn Vì) Ở đây câu thơ không dùng hai chữ uể tham có
về xã giao mà dùng hai chữ uể chơi mang sắc thái thân mật, tự
nhiên, chân tình hơn Thực ra câu hỏi như vọng lên từ một phương
trời xa xôi ấy đã là duyên cớ để khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ
bao kỉ niệm sâu sắc, bao hình ảnh đẹp đẽ, đáng yêu về xứ Huế,
trước hết là về Vĩ Dạ, nơi có người mà nhà thơ thương mến và đẹp
nhất là cảnh thôn Vĩ trong ánh bình minh
Hai câu tiếp theo cho thấy trong hồi tưởng của mình, Hàn Mặc
Tứ không tả mà chỉ gợi những gì gây ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc
còn lưu lại trong tâm trí người ở nơi xa Do đó, câu thơ “Nhìn nắng
hàng cau nắng mới lên” như phác qua cái nhìn từ xa tới, chưa đến
Vĩ Dạ nhưng đã thấy những hàng cau thẳng tắp, cao vút, vượt lên
trên những cây khác, những tàu lá cau lấp lánh ánh mặt trời buổi
sớm mai Đây là một quan sát rất tỉnh tế: cái đẹp của thôn Vĩ
khong phai chi do ndng hay do hang cau ma 1a do ndng hang cau,
do sự hài hoà của ánh nắng vàng rực rỡ trên hàng cau tươi xanh
Đặc biệt, câu thơ có bảy chữ thì đã có hai chữ nắng, tưởng như Hàn
Mặc Tử đã gợi đúng đặc điểm của nắng miễn Trung: nắng nhiều và
ánh nắng chói chang, rực rỡ ngay từ lúc bình minh; không những
thế Hàn Mặc Tử còn gợi được vẻ đẹp của nắng ở nơi đây, đó là nắng
mới lên thật trong trẻo, tỉnh khiết, có cảm giác ánh nắng ấy đã làm
bừng sáng cả khoảng trời hồi tưởng của nhà thơ
30
DO Gpry
Trang 30Câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” lại là cái nhìn thật
gần của người như đang đi trong những khu vườn tươi đẹp của thôn
Vĩ Có thể coi cái thần thái của thôn Vĩ là vườn cây, vườn bao bọc
quanh nhà, gắn với ngôi nhà thành một cấu trúc thẩm mĩ xinh xắn
mà Xuân Diệu từng có cảm giác “giống như bài thơ tứ tuyệt (Đường
uô miền Trung) Cũng vì là cấu trúc vườn - nhà cho nên vườn được
chăm sóc chu đáo, những khóm hoa, cây cảnh vốn đã xanh tươi lại
được những bàn tay khéo léo chăm sóc nên càng thêm đẹp thêm
tươi Ở đây chỉ với một chữ mưới, Hàn Mặc Tử đã gợi được sự chăm
sóc ấy, gợi được vẻ tươi tốt đẩy sức sống của vườn cây cũng như cái
sạch sẽ, láng bóng của từng chiếc lá cây dưới ánh mặt trời; còn ý
thơ oườn gi mướt quá như lời cảm thán mang sắc thái ngợi ca; trong
khi đó xanh như ngọc là một so sánh thật đẹp gợi hình ảnh những
lá cây xanh mướt, mượt mà được nắng mới lên, cái ánh mặt trời rực
rỡ buổi sớm mai chiếu xuyên qua trở nên có màu xanh trong suốt và
ánh lên như ngọc Phải là một người có tình yêu tha thiết với thiên
nhiên, với cuộc sống, có ân tình thật sâu sắc, đậm đà với thôn Vĩ
mới lưu giữ được trong tâm trí những hình ảnh sống động và đẹp đẽ
như thế
Đến câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điển”, sự xuất hiện của
con người càng làm cho cảnh vật thêm sinh động, có lẽ đó là chủ
nhân của uườn ơi Tuy vậy, sự xuất hiện của con người thật kín đáo,
rất đúng với bản tính của người Huế, vì chỉ thấy thấp thoáng sau
những chiếc lá trúc là khuôn mặt chữ điển, khuôn mặt của người
ngay thẳng, cương trực, phúc hậu theo quan niệm thời xưa Ở đây,
một lần nữa ta thấy sự tinh tế của ngòi bút Hàn Mặc Tử: trước
khuôn mặt ấy, lá trúc phải che ngang để tôn rõ thêm nét chữ điển
Với câu thơ này, Hàn Mặc Tử càng gợi rõ hơn cái thần thái của
thôn Vĩ: cảnh xinh xắn, người phúc hậu, thiên nhiên và con người
hài hoà với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng
2 Ở khổ thơ này, tâm trí Hàn Mặc Tử hướng về một hình ảnh
không thể tách rời thôn Vĩ Dạ, đó là dòng sông Hương với hai nét
tiêu biểu cho xứ Huế là êm đểm và thơ mộng, đồng thời ẩn sâu
trong đó là biết bao cảm xúc, suy tư của nhà thơ Trong hai câu đầu,
Hàn Mặc Tử tả thực vẻ êm đểm, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế:
gió mây nhè nhẹ bay đi, dòng nước chảy lững lờ, cây cé khé dung
đưa Đáng chú ý là sắc thái cảm xúc của hai câu thơ này, vì nhà thơ
31
DO Cory
Trang 31đã dùng biện pháp nhân hóa với cả gió, mây và dòng sông Thường
chúng vẫn đi với nhau: gió thổi mây bay và nhờ gió mà dòng sông
mới có sóng, có sự sống động, còn ở đây mây và gió lại rời xa nhau
Sự chuyển động ngược chiều của gió mây làm tăng thêm cái trống
vắng của không gian; hay nói đúng hơn, rất ít mây và gió, cho nên
dòng sông lặng lẽ buồn £hiu và cây cô bên bờ chỉ lay động rất nhẹ
Nhìn chung, đó là một hình ảnh đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo,
dường như nó phảng phất tâm trạng u buôn, cô đơn của nhà thơ
trước sự thờ ơ, xa cách của cuộc đời đối với mình
Hai câu thơ sau cho thấy tâm hồn nhà thơ có buôn và cô đơn
nhưng vẫn chan chứa tình yêu với con người và thiên nhiên xứ Huế
Đây là cảnh thực mà cứ như ảo vì dòng sông không còn là dòng
sông của sóng nước nữa mà là đòng sông ánh sáng, lấp lánh ánh
trăng vàng, hay đấy là dòng ánh sáng tuôn chảy khắp vũ trụ làm
cho không gian nghệ thuật thêm hư ảo, mênh mang Cũng vì thế,
con thuyển vốn có thực trên dòng sông đã trở thành một hình ảnh
của mộng tưởng, nó đậu trên bến sông trăng để chở trăng về một
nơi nào đó trong mơ Có thể nói, ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử
đã phác hoạ được nét đẹp nhất của sông Hương là vẻ huyền ảo, thơ,
mộng dưới ánh trăng Đến câu thơ cuối, con thuyền, dòng sông, ánh
trăng trong sự hồi tưởng quá khứ ấy lại gắn với cảm nghĩ của nhà
thơ trong hiện tại, bởi vì nhà thơ mong muốn con thuyén chở trăng
về kịp tối nay chứ không phải một tối nào khác Phải chăng trong
cái tối nay đó, một buổi tối thật buồn và cô đơn, nhà thơ có điều gì
muốn tâm sự mà chỉ có trăng mới hiểu được nhà thơ ? Điều đó cho
thấy Hàn Mặc Tử rất yêu trăng, trăng là người bạn thân thiết của
nhà thơ, và cũng cho thấy nhà thơ rất yêu xứ Huế nhưng dường như
cảnh Huế, người Huế không hiểu được, không đáp lại tình yêu ấy
nên nhà thơ mới phải mong muốn tâm sự với một người bạn thật xa
vời là vâng trăng - ánh trăng xoa dịu nỗi xót xa, khi có trăng bầu
bạn thì con người sẽ bớt cô đơn J
8 Ở hai khổ thơ trên, ngòi bút Hàn Mặc Tử hướng đến thiên
nhiên xứ Huế để bộc lộ tâm tư, còn ở khổ thơ này, nhà thơ trực tiếp
tâm sự với người xứ Huế Trước hết, với điệp ngữ khách đường xa,
câu mở đầu khổ thơ như nhấn mạnh thêm nỗi xót xa, như lời thầm
tâm sự của nhà thơ với chính mình: Trước lời mời của cô gái thôn
Vi (Sao anh khéng vé choi thén Vi ?), có lẽ nhà thơ chỉ là người
32
DO Cary,
Trang 32khách quá xa xôi hơn thế, chỉ là người khách trong mơ mà thôi Có
nhiều nguyên nhân dẫn tới suy tư ấy, nhưng chủ yếu ở đây là mặc
cảm về tình người, vì có thể hiểu hai câu giữa khổ thơ theo hai
nghĩa Về nghĩa thực, xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều nên cũng
nhiều sương khói, sương khói làm tăng thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của
Huế, nhưng sương và khói đều màu trắng, đo em cũng màu trắng thì
chỉ thấy bóng người thấp thoáng, mờ ảo Về nghĩa bóng, cái sương
khói làm mờ cả bóng người ấy phải chăng tượng trưng cho bao cái
huyền hoặc của cuộc đời đang làm cho tình người trở nên khó hiểu
và xa vời ?
Hai khổ thơ đầu nói cái đẹp của xứ Huế, khổ cuối nói vẻ đẹp của
cô gái Huế Tả cảnh đẹp xứ Huế, Hàn Mặc Tử đắm say đến mức
nhập hoà vào cảnh; nói đến vẻ đẹp của cô gái Huế, nhà thơ lại lùi
ra xa, giữa nhà thơ với cô gái là một khoảng cách mịt mờ sương
khói Vì thế mới có câu thơ cuối mang chút hoài nghi mà lại chan
chứa niễm thiết tha với cuộc đời: “Ai biết tình ai có đậm đà ?” Ở đó
nhà thơ đã sử dung rat tai tinh dai tiv phiém chi ai dé mở ra hai
nghĩa của câu thơ: Nhà thơ làm sao mà biết được tình người xứ Huế
có đậm đà không, hay cũng mờ ảo, dễ có chóng tan như sương khói
kia; tuy vậy, người xứ Huế có biết chăng tình cảm của nhà thơ với
cảnh Huế, người Huế hết sức thắm thiết, đậm đà ? Dù hiểu theo
nghĩa nào thì câu thơ cũng chỉ làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống
vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời
4 Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát toàn bài thơ, làm điểm tựa
cho sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng toàn bài thơ 6
đây tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ
đó mà khơi gợi liên tưởng thực - ảo và mở ra bao nỗi niềm cảm xúc,
suy tư về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm,
uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu
Bút pháp của bài thơ có sự hoà điệu tả thực, tượng trưng, lãng
mạn, trữ tình Cảnh đẹp xử Huế đậm nét tả thực mà lại có tầm cao
tượng trưng Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn Nét
chân thực của cảm xúc làm đậm thêm tính chất trữ tình
33
Trang 33Luyện tập
1 Có ba câu hỏi trong bài thơ:
Khổ 1: Sao anh không uê chơi thôn Vĩ ?
Khổ 9: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có chở trăng uễ kịp tối nay ?
Khé 3: Ai biết tình ai có đệm đà ?
Những câu hỏi này không hướng tới một đối tượng nào cụ thể vì
đây không phải là những câu hỏi vấn - đáp mà chỉ là hình thức bày
tỏ nỗi niễm, tâm trạng của tác giả
2 Nội dung bài thơ thể hiện nỗi buổn, niễm khát khao của một
con người vô cùng yêu đời, yêu sống, yêu thiên nhiên, yêu con người
Một nội dung thơ ca đẹp đẽ như thế lại được sáng tác trong, một
hoàn cảnh tối tăm, tuyệt vọng (bệnh tật giày vò, ám ảnh về cái
chết) Điều đó khiến người ta thêm thương xót và cảm thông với số
phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đẩy tài năng và
nghị lực đã vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã để sáng tác một bài thơ,
một bài ca về tình đời, tình người
3 Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là một bài thơ về tình yêu Xuyên
qua sương khói hư ảo của tình yêu mơ mộng là tình quê, là tình yêu
thiết tha, đầm thắm với đất nước quê hương Với việc khơi gợi lên
tình cảm chung của nhiều người như thế, bài thơ diễn tả tâm trạng
riêng của tác giả lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bên
trong tâm hôn của các thế hệ độc giả
CHIEU TOI
(M6)
HO CHi MINH
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 So sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, đối chiếu với nguyên
tác có thể thấy câu 1 dịch đạt; câu 2 không dịch được chữ cô trong
cô uân, mạn mạn dịch trôi nhẹ chưa đúng; câu 3 thừa chữ tối; câu 4
dịch tương đối thoát ý
2 Chiều tối là thời khắc cuối cùng của một ngày và với một tù
nhân như Bác, đấy cũng là chặng cuối cùng của một ngày đày ải
Thời gian và hoàn cảnh như thế dễ gây nên trạng thái mệt mỗi,
34
DO Cary,
Trang 34chán chường, vậy mà ở đây cảm hứng thơ lại đến với Bác thật tự
nhiên Dường như lúc ấy người đi ngước mắt nhìn lên bầu trời và
chợt thấy cánh chim mỏi mệt bay về tổ ấm, chòm mây chầm chậm
trôi qua lưng trời - khung cảnh thiên nhiên đã được phác hoạ bằng
những nét chấm phá theo bút pháp cổ điển (dùng điểm nói diện)
Trong cảnh tượng ấy, tuy bài thơ không tả màu sắc mà người đọc
vẫn cảm thấy rừng núi chiều tối thật âm u, không hề gợi âm thanh
mà nghe thật vắng vẻ, quạnh hiu
Trong thơ ca cổ điển phương Đông, cánh chim bay về tổ, về núi
rừng thường mang ý nghĩa là biểu tượng cho buổi chiều tà “Chim
bay về núi, tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện
Kiểu) Như vậy, cánh chim chiều vừa mang ý nghĩa không gian,
vừa mang ý nghĩa thời gian Trong thơ Bác cũng thế, có khác chăng
ở đây không phải cánh chim bay (quan sát trạng thái vận động bên
ngoài của sự vật) mà là cánh chim mởi (cảm nhận rất sâu trạng
thái bên trong của sự vật, một cảm nhận của con người hiện đại
trên cơ sở ý thức sâu sắc của cái tôi cá nhân trước ngoại cảnh) Có
thể thấy một sự gần gũi, tương đồng: Suốt một ngày bay đi kiếm ăn,
cánh chim đã mỏi và người tù cũng mỏi mệt sau một ngày vất vả lê
bước đường trường - trong ý thơ ấy có biết bao sự hoà hợp, cảm
thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên Cội nguồn
của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông của Bác
dành cho mọi sự sống trên đời
Câu thơ tiếp theo cần hiểu đúng nghĩa là “Chòm mây lẻ loi lững
lờ trôi qua lưng trời" (bản dịch đã không diễn tả được vẻ đơn độc và
nhịp bay chậm chậm của chòm mây qua những chữ cô uổn mạn
mạn) Câu thơ gợi nhớ thơ Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng bây
giờ còn bay" (Hoàng Hạc Lâu) và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ
lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu); có điều, trong thơ Bác đó không
phải là áng mây trắng ngèn năm gợi sự vĩnh hằng, cũng không
phải là tầng mây lo lửng gợi sự không vĩnh viễn mà mang bao nỗi
khắc khoải mơ hồ của con người trước cõi hư không Đây chỉ là một
chòm mây quen thuộc trên bầu trời, nó gợi cảm rất nhiều về cái cao
rộng, trong trẻo, êm ả của một chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây
Với chòm mây ấy, không gian như mênh mông vô tận và thời gian
như ngừng trôi Phải có một tâm hồn thật ung dung, thư thái thì
người tù mới có thể dõi theo một chòm mây thong thả giữa bầu trời
35
DO Cory
Trang 35bao la Hơn thế, chòm mây như có hồn người, như mang tâm trạng,
nó cô đơn, lẻ loi và lặng lẽ, lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn
của trời chiều, nó mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa: cánh chỉm
mải miết bay về rừng xanh, chòm mây trôi chảm chậm như ở lại
giữa tầng không
Hai câu này gợi tới hai câu trong bài Độc fog Kính Đình sơn (Một
mình ngôi trên núi Kính Đình) của Lí Bạch:
Chúng điểu cao phi tận
C6 van độc khú nhàn
Xuân Diệu dịch:
Bây chim một loạt bay cao Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình
Có thể thấy, nếu cánh chim trong thơ Lí Bạch bay mất hút vào
cõi vô tận thì trong thơ Bác đó là cánh chim của đời sống hiện thực,
nó bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: sáng bay đi kiếm
ăn, tối bay về rừng tìm chốn ngủ Áng mây của Lí Bạch bay nhàn
tần gợi cảm giác thoát tục, còn áng mây trong bức tranh cảnh chiều
hôm của Bác toát lên cái vẻ yên ả, thanh bình của đời sống thường
ngày Dù sao, hai câu thơ vẫn thấm thía nỗi buôn vì cảnh buôn và
người buổn, vì cánh chim bay về tổ gợi niểm ước mong sum họp,
chân mây đơn độc trôi chậm chậm về phía trời xa gợi thân phận
lênh đênh trôi đạt nơi đất khách quê người, vì không biết tới bao
giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu
trời kia Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của hai câu thơ đã thể hiện bản
lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, bởi vì nếu không có ý chí và
nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn
toàn về tỉnh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên
nhiên thật sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt
của tù đày
8 Nếu trong hai câu đầu, cảnh vật hiện ra trong những nét vẽ
chấm phá, phần nào mang tính chất ước lệ cổ điển thì hình ảnh
người phụ nữ lao động ở đây lại được gợi tả một cách cụ thể, sinh
động như một bức tranh hiện thực Chính nét vẽ đời thường ấy làm
cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại, hơn thế, trong sự hình dung về
cự li khoảng cách với cánh chim và chòm mây (ở viễn cảnh), hình
36
DO ®bpy
Trang 36ảnh cô gái xay ngô, hình ảnh con người (ở cận cảnh) nổi bật lên
như là trung tâm của bức tranh thiên nhiên
Bức tranh vẽ cái thời khắc đầu đêm bên xóm núi cho thấy Bác đã
quên cảnh ngộ đau khổ của mình để cảm nhận cuộc sống của nhân
đân Nó nói lên sự quan tâm, tình thương của Bác với những người
lao động nghèo mà sự làm việc nặng nhọc được biểu hiện qua âm
điệu khắc khổ của lời thơ Câu thơ thứ ba nguyên nghĩa là “Cô gái
xóm núi xay ngô” - đó là một câu miêu tả chân thật, giản dị như đời
sống hằng ngày Đến đây bài thơ từ bức tranh thiên nhiên chuyển
sang bức tranh đời sống, từ cảnh trời mây chỉm muông chuyển sang
cảnh con người và lại là con người lao động - đấy là xu hướng vận
động trong cấu trúc của bài thơ Thực ra trong những bài thơ vịnh
cảnh chiều hôm nổi tiếng thời xưa cũng thấp thoáng bóng người:
Lom khom duéi núi, tiều vai chú,
Lác đác bền sông, chợ mấy nhà
(Bà Huyện Thanh Quan, Quø Đèo Ngang) Nhưng ở đó có con người mà thiếu vắng sự sống, hình ảnh con
người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời thiên
nhiên Còn ở đây, trong bài thơ của Bác, hình ảnh cô gái xay ngô
toát lên về trẻ trung, khoẻ mạnh, sống động và chính cuộc sống lao
động bình dị đó càng trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao
giữa núi rừng chiều tối âm u, heo hút Nó đưa lại cho người đi đường
lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niễm vui và hạnh phúc
trong lao động của con người, con người ấy tuy vất vả mà tự do
Những chữ mø bao ¿ức ở cuối câu 3 được điệp vòng ở đầu câu 4
bao túc mưa hoàn đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như
diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô - qua đó có
thể thấy cô gái thật chăm chỉ, kiên nhẫn, cân mẫn với công việc
của mình Đáng chú ý hơn, đến câu thơ này, không gian rộng mở
ban đầu ngày càng được thu nhỏ lại: từ cảnh trời mây bao la đến
cảnh cô gái xay ngô và cuối cùng là cảnh bếp lửa hồng Đồng thời
câu thơ cũng xác định rõ hơn sự vận động của thời gian, nói như G8
Lê Trí Viễn: “Nguyên văn không nói đến tối mà tự nhiên nói đến:
thời gian trôi dần dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng
xoay của cối ngô, quay quay mãi, “ma bao túc bao túc ma hoàn "
và đến khi cối xay dừng lại thi 16 dĩ hông, lò đã rực hồng, tức trời
37
DO Cory
Trang 37tối, trời tối thì lò rực lên” Như vậy, bếp lửa của cô gái xay ngô đã
hông lên, nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối,
nhưng không phải đêm tối lạnh lẽo, âm u (theo quy luật cảm nhận
của người xưa: ấm ngày lạnh tối) mà là đêm tối ấm áp, bừng sáng
bởi ngọn lửa hồng Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì
chính cái chấm lửa đỏ là người nghệ sĩ tài hoa chấm lên đó da
mang lại thần sắc cho toàn cảnh dường như nó làm tăng thêm niềm
vui và sức mạnh cho người đang cất bước trên đường xa
Cô gái, bếp lửa gợi tới cảnh gia đình, ngô hạt xay xong, bếp đỏ
hồng lại gợi tới công việc, sự nghỉ ngơi và sum họp - thấp thoáng
trong những hình ảnh ấy như có một ước mơ thẩm kín và mái ấm
gia đình của người đang lưu lạc xa nhà, xa đất nước quê hương Đấy
là tâm hồn nhà cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để
đồng cảm với niểm vui đời thường Bài thơ đã vận động từ ánh
chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến
niêm vui Nó cho thấy cái nhìn tràn đẩy niềm lạc quan yêu đời và
tình yêu thương nhân dân của một con người “Nâng niu tat ca, chi
quên mình” (Tố Hữu, Theo chân Bác)
4 Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp
chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ) vừa có nét hiện đại (bút
pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã đời thường) 6
đây chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, cho nên tính chất
cô đọng, hàm súc rất cao
Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo
Một số từ ngữ vừa gợi tả vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân) Biện
pháp điệp vòng câu 3 và câu 4 Chữ hông được coi là chữ thân
Hoàng Trung Thông viết: “Chữ hồng trong nghệ thuật thơ Đường
người ta gọi là “con mắt của thơ” (thi nhãn) hoặc là “nhãn tự” (chữ
có mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai
mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa Với chữ hông
đó, có ai còn cảm giác nặng nề mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ
thấy màu đồ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động
của cô gái đáng yêu kia”
38
DO Cary,
Trang 38Luyện tập
1 Cảm quan biện chứng của người chiến sĩ cách mạng biểu hiện
ở cách nhìn cuộc sống trong sự vận động tất yếu hướng tới cái tốt
đẹp, tươi sáng Sự vận động từ hai câu đầu đến hai câu sau: cảnh
vật (cánh chim về rừng, chòm mây trôi về phía trời xa, chiều dần
sang tối với ánh lửa hồng, từ lạnh lẽo, âm u đến ấm áp; bừng
sáng, ); lòng người (từ nỗi buồn đến niêm vui, ) Sự vận động đó
cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niễm tin vào tương lai tươi sáng của
người chiến sĩ cách mạng
2 Các em có thể tự chọn theo ý của mình, Tuy nhiên, trong bài
Chiêu tối, hình ảnh đẹp nhất, thể hiện tập trung vẻ đẹp tâm hồn
Hồ Chí Minh là hình ảnh cô gái xay ngô và bếp lửa hông Khai thác
ý trả lời bài tập này từ phần trả lời câu 3, phần Hướng dẫn học bài
3*, Phân tích hai câu thơ của Hoàng Trung Thông để thấy những
bài thơ trong Nhật kí trong tù của Bác luôn có sự hài hoà chất thép
và chất tình (dũng khí kiên cường và tình cảm dạt dào với thiên
nhiên, cuộc sống, con người)
Các em có thể tham khảo phần Hướng dẫn học bài để trả lời câu
này cho tốt hơn
Tuần 24 *
TU AY
TỐ HỮU
Gợi ý trả lời câu hỏi
1 Các hình ảnh trong khổ thơ đâu của bài thơ đều là những hình
ảnh được tô đậm tính đột ngột, mạnh mẽ, chói lọi, tưng bừng: “bừng
nắng hạ”, “mặt trời chân lí chói qua tim”, “vườn hoa lá”, “rất đậm
hương”, “rộn tiếng chim’
Những hình ảnh ấy nói rằng, lí tưởng cộng sản lần đầu đến với Tố
Hữu như một luồng ánh sáng quá đột ngột và vô cùng mảnh liệt khiến
nhà thơ trẻ tuổi cơ hồ như bị choáng váng Lí tưởng ấy đem đến cho
nhà thơ, cùng với luồng ánh sáng chói lọi, một niềm vui lớn: tác giả
cảm thấy tâm hồn mình như một khu vườn đẩy hoa và rộn rã tiếng
chim Tâm trạng này chứng tỏ Tố Hữu rất say mê lí tưởng cộng sản
39
DO Cory
Trang 399 Giác ngộ được lí tưởng cộng sản với Tố Hữu, có nghĩa là giác
ngộ lập trường giai cấp, từ bổ cái tôi cá nhân tiểu tư sản để nhập
vào khối đời chung của nhân dân lao khổ Thóat ra khỏi cái tôi cô
đơn bế tắc, gắn bó với các giai cấp cân lao, người thanh niên cộng
sản cảm thấy niềm vui và sức mạnh Sau này, trong bài Nhớ đông,
nhớ lại giây phút giác ngộ lí tưởng đó, Tố Hữu đã viết:
Đâu những ngòy xưa, tôi nhớ tôi
Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vẩển uơ theo mãi uòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời
Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim ca loi
Say đồng hương nắng vui ca hat
Trên chín tầng cao bát ngát trời
3 Sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ
- Trước khi gặp cách mạng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản
Khi ánh sáng cách mạng như “Mặt trời chân lí chói qua tim”, đã
giúp nhà thơ vượt qua những tâm thường ích kỉ trong đời sống tâm
hôn chật hẹp để vươn lên một tình yêu “vẹn tròn, to lớn”
- Nhà thơ tự nhận mình là “con của vạn nhà” trong nghĩa đồng
bào thiêng liêng nhất, là em của “vạn kiếp phôi pha”: gần gũi bằng
tình cảm xót thương những kiếp đời lao khổ, bất hạnh, những kiếp
sống mòn mỏi, đáng thương; là anh của “vạn đầu em nhỏ” “cù bất cù
bơ” Từ những cảm nhận ấy đã giúp nhà thơ say mê họat động cách
mạng với những thiết tha cao đẹp cống hiến đời mình góp phần giải
phóng đất nước, giải phóng những kiếp lầm than trong xã hội tăm
tối dưới bóng thù xâm lược
4 Giọng thơ hào hứng sôi nổi, nhịp thơ hăm hở dồn dập Chú ý
những hình ảnh rực rỡ, tư vui, rộn ràng và việc sử dụng điệp từ với
tần số cao và ngày càng dồn dập
40
DO Cary,
Trang 40Luyện tập
1 Tham khảo đoạn văn sau:
Tố Hữu đã diễn tả rất chân thành niềm vui sướng, say mê của
mình khi bắt gặp lí tưởng của Đảng:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tìm
Hồn tôi là một uườn hoa lá
Rất đậm huong va rén tiéng chim
Từ tháng 7 - 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản
Đông Dương, cái mốc 7ừ Ấy chính là đánh dấu thời điểm đó Bằng
những hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt trời chân lí và cách nói chói
qua tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng
mới làm bừng sáng tâm hồn nha thơ, mở ra trong tâm hồn nhà thơ
một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm tâm hôn ấy
giờ đây là một thế giới tràn đây sức sống với hương sắc của các loài
hoa, còn gì đáng quí hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người
thanh niên yêu nước, còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng cao
đẹp soi sáng, dẫn dắt?
Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh
sáng mặt trời? Chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người
tràn đầy sức sống và niềm yêu đời, làm chọ cuộc sống của con người
có ý nghĩa hơn
2* Giải thích ý của nhà thơ Chế Lan Viên, có thể gợi ý như sau:
Bai tho Tz ấy có ý nghĩa mở đầu, định hướng cho toàn bộ quá trình
sáng tác của Tố Hữu Đó là hai yếu tố làm ra anh: thi pháp (phương
thức biểu hiện: dùng thể thơ truyền thống, sử dụng ngôn ngữ giàu
hình ảnh, nhịp điệu, ), tyên ngôn (quan điểm nhận thức và sáng
tác: gắn bó với quần chúng lao khổ, phấn đấu vì cuộc sống hạnh
phúc của đồng bào tương lai tươi sáng của đất nước, ) Dựa vào
phần phân tích bài Tờ ấy để làm sáng tổ ý giải thích
Với những bài thơ sáng tác theo thi pháp và tuyên ngôn như thế,
Tố Hữu đã là “nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại”
41
DO Cpry