1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vấn đề pháp lí về quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại " docx

8 925 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 172,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo khái niệm này, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại trong đó bên thuê dịch vụ - bên giao đại diện, bên được môi giới, bên uỷ thác, bên giao

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ V©n Anh * rong kinh doanh, việc mua bán, tiêu thụ

hàng hoá, dịch vụ là khâu quan trọng

ảnh hưởng lớn tới sự thành bại của thương

nhân Khi quy mô kinh doanh đạt tới mức độ

nhất định, các thương nhân khó có thể tự

mình quan hệ với tất cả các khách hàng, vì

vậy, để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, họ cần

phải có sự trợ giúp của các nhà trung gian

chuyên nghiệp Ở Việt Nam, hoạt động

thương mại qua thương nhân trung gian

thực sự phát triển trong vài năm gần đây

Dưới giác độ pháp lí, khái niệm hoạt

động trung gian thương mại được định

nghĩa trong Luật thương mại được Quốc hội

thông qua ngày 14/6/2005.(1) Khoản 11 Điều

3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Các

ho ạt động trung gian thương mại là hoạt

động của thương nhân để thực hiện các giao

d ịch thương mại cho một hoặc một số

th ương nhân được xác định, bao gồm các

ho ạt động đại diện cho thương nhân, môi

gi ới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá

và đại lí thương mại” Theo khái niệm này,

hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt

động cung ứng dịch vụ thương mại trong đó

bên thuê dịch vụ - bên giao đại diện, bên

được môi giới, bên uỷ thác, bên giao đại lí sẽ

trao cho bên trung gian - bên đại diện, bên

môi giới, bên nhận uỷ thác, bên đại lí quyền

tham gia thiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại Do đó, hoạt động trung gian thương mại chỉ phát sinh khi bên có nhu cầu

sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứng dịch vụ trung gian thiết lập được quan hệ hợp đồng với nhau

Mặt khác, hoạt động trung gian thương mại sẽ không thể thực hiện được nếu chỉ tồn tại quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian Để thực hiện hoạt động này, bên trung gian phải tham gia giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên thuê dịch vụ giao cho Quan hệ giữa bên thứ ba với bên thuê dịch vụ hoặc bên trung gian thực hiện dịch vụ cũng được phát sinh trên

cơ sở hợp đồng Tuỳ thuộc vào đối tượng của hợp đồng giao kết với bên thứ ba mà các hợp đồng đó có thể là hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng dịch vụ

Tuy nhiên, bài viết tập trung nghiên cứu quan hệ hợp đồng phát sinh giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ

Đó là các loại: hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng môi giới thương mại; hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá; hợp đồng đại lí

Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành điều

T

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

chỉnh hoạt động trung gian thương mại được

quy định trong nhiều văn bản luật như:

BLDS năm 2005, Luật thương mại năm

2005, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000,

Bộ Luật hàng hải năm 2005, Luật du lịch

năm 2005, Luật chứng khoán năm 2006,

Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 và

trong nhiều văn bản dưới luật khác Các văn

bản pháp luật này đã tạo nên hệ thống pháp

luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ

hợp đồng trong hoạt động trung gian thương

mại Mỗi loại hợp đồng này có những đặc

trưng nhất định và được quy định trong

những điều khoản riêng.(2)

Tuy nhiên, có thể khái quát những vấn

đề pháp lí cơ bản điều chỉnh các quan hệ

hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp

đồng môi giới thương mại, hợp đồng uỷ

thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lí

thành những nội dung chủ yếu sau:

1 Điều kiện, năng lực chủ thể của các

bên tham gia quan hệ hợp đồng

Việc xác định điều kiện, năng lực chủ

thể của các bên tham gia quan hệ hợp đồng

là một trong những yếu tố quan trọng để xác

định hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp

đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian

thực hiện dịch vụ nói riêng

Khi tham gia các hợp đồng đại diện cho

thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác

mua bán hàng hoá, đại lí, bên trung gian thực

hiện dịch vụ - bên đại diện, bên môi giới,

bên nhận uỷ thác, bên đại lí phải là thương

nhân.(3) Điều đó có nghĩa là các chủ thể này

phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp

pháp, cá nhân hoạt động thương mại một

cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh Pháp luật không quy định rõ những chủ thể này có bắt buộc phải có đăng

kí kinh doanh hoạt động dịch vụ trung gian thương mại hay không

Bên thuê dịch vụ không nhất thiết phải là thương nhân trừ bên giao đại diện và bên giao đại lí phải là thương nhân Bên uỷ thác

có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân Bên được môi giới có bắt buộc phải là thương nhân hay không, chưa được thể hiện rõ trong Luật thương mại

Ngoài ra, pháp luật còn có những quy định khác về điều kiện chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong một số trường hợp đặc thù:

- Đối với các hợp đồng cung ứng các dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh

có điều kiện như hợp đồng đại lí xăng dầu, khí đốt các loại, hợp đồng uỷ thác mua bán nguyên liệu thuốc lá, hợp đồng đại lí dịch vụ truy nhập, kết nối Internet thì các bên tham gia những hợp đồng này phải đáp ứng đầy

đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật.(4)

- Theo quy định của một số luật chuyên ngành như luật kinh doanh bảo hiểm, pháp lệnh bưu chính viễn thông, bên trung gian thực hiện dịch vụ như bên làm đại lí bảo hiểm, bên đại lí dịch vụ bưu chính có thể là

cá nhân không đăng kí kinh doanh.(5)

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn thực hiện các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hoá tại Việt Nam như: đại lí mua bán hàng hoá hay môi giới mua bán hàng hoá hay uỷ thác mua bán hàng

Trang 3

hoá, đại diện cho thương nhân mua bán phải

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của

Việt Nam cấp giấy phép khi có đầy đủ một

số điều kiện.(6)

2 Về hình thức hợp đồng

Theo Điều 142, Điều 159, Điều 168

Luật thương mại 2005, các hợp đồng đại

diện cho thương nhân, hợp đồng uỷ thác

mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lí phải

được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức

khác có giá trị pháp lí tương đương như

điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và

các hình thức khác theo quy định của pháp

luật Như vậy, các thoả thuận trong hợp

đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng

uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lí

phải được thể hiện dưới hình thức hữu hình

mà không thể giao kết bằng lời nói Tuy

nhiên, đối với hợp đồng môi giới, do Luật

thương mại 2005 không quy định hình thức

của loại hợp đồng này nên theo quy định tại

Khoản 1 Điều 76 Luật thương mại 2005 về

hình thức của hợp đồng dịch vụ thì hợp

đồng môi giới có thể được thể hiện bằng lời

nói hoặc bằng văn bản hoặc được xác lập

bằng hành vi cụ thể

3 Quyền và nghĩa vụ của các bên

trong quan hệ hợp đồng

Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ

và bên trung gian thực hiện dịch vụ được thể

hiện trong hợp đồng cụ thể giữa các bên

Tuy nhiên, để tạo cơ sở pháp lí cho các bên

thoả thuận cũng như để đảm bảo quyền lợi

của các bên nếu trong hợp đồng các bên

chưa thoả thuận rõ ràng về quyền và nghĩa

vụ của họ, pháp luật cần thiết phải quy định

vấn đề này Qua nghiên cứu pháp luật của các nước cũng như pháp luật Việt Nam hiện hành cho thấy các quy phạm về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các loại hợp đồng này chiếm số lượng lớn trong các quy định

về hoạt động trung gian thương mại

Để đảm bảo quyền tự do của các bên khi thiết lập các quan hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ, Luật thương mại năm 2005 đã không quy định điều khoản chủ yếu của hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá và hợp đồng đại lí Đồng thời, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia các quan hệ hợp đồng này được xác định theo nguyên tắc: Quyền và nghĩa vụ của các bên trước hết

do các bên thoả thuận, quy định của pháp luật chỉ được áp dụng khi các bên không có thoả thuận

Xuất phát từ bản chất các quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ trong hoạt động trung gian thương mại đều là những dạng đặc biệt của quan hệ đại diện theo uỷ quyền (trừ quan hệ môi giới thương mại), nên nhìn chung bên trung gian thực hiện dịch vụ và bên thuê dịch vụ có một

số quyền và nghĩa vụ tương đối giống nhau

Do hợp đồng trong hoạt động thương mại

là hợp đồng song vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia nên trong phần này tôi chỉ trình bày nghĩa vụ của các bên mà thôi

3.1 Ngh ĩa vụ của bên trung gian thực

hi ện dịch vụ

Trong quá trình thực hiện dịch vụ được

uỷ quyền, nếu bên trung gian sơ suất, thiếu

Trang 4

trung thực hay không thực hiện theo đúng

yêu cầu của bên thuê dịch vụ (bên uỷ quyền)

sẽ làm ảnh hưởng tới lợi ích của người uỷ

quyền Vì vậy, trong các quan hệ đại diện

cho thương nhân, uỷ thác mua bán hàng hoá,

đại lí thương mại bên trung gian phải có

những nghĩa vụ sau đối với bên thuê dịch vụ

+ Nghĩa vụ tuân thủ

Nghĩa vụ tuân thủ đòi hỏi bên đại diện,

bên nhận uỷ thác, bên đại lí phải tuân theo

mọi sự chỉ dẫn hợp lí của bên thuê dịch vụ

Tuy nhiên, Luật thương mại quy định bên

đại diện, bên uỷ thác không có nghĩa vụ thực

hiện các hành vi trái pháp luật hay vi phạm

đạo đức, cho dù người uỷ quyền yêu cầu

+ Nghĩa vụ thông báo

Bên đại diện, bên nhận uỷ thác, bên giao

đại lí phải nỗ lực hợp lí để cung cấp cho bên

thuê dịch vụ những thông tin liên quan đến

lĩnh vực mà họ được uỷ quyền thực hiện Đó

là các thông tin mà người thực hiện dịch vụ

biết hay phải biết với cương vị là người được

uỷ quyền và bên thuê dịch vụ có quyền được

biết Các thông tin mà bên thực hiện dịch vụ

có nghĩa vụ phải trao đổi với bên thuê dịch

vụ có thể bao gồm: Sự biến động giá cả của

thị trường, tình hình tiêu thụ hàng hoá trên

thị trường, thông tin về tình hình tài chính

của đối tác, tình hình thực hiện hợp đồng

+ Nghĩa vụ trung thành và thiện chí

Bên trung gian thực hiện dịch vụ trước

hết hành động vì lợi ích của người uỷ quyền

chứ không phải cho bản thân mình hay

người khác Bởi vậy, trong khi thực hiện

hoạt động trung gian thương mại, bên trung

gian phải luôn trung thành và thiện chí tuyệt

đối với người uỷ quyền Nghĩa vụ này được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Bên đại diện, bên nhận uỷ thác, bên đại lí không được tiết lộ hay cung cấp các bí mật liên quan đến hoạt động thương mại của bên thuê dịch vụ cho người khác Ngoài ra đối với quan hệ đại diện cho thương nhân, khi quan hệ này kết thúc, trong thời hạn 2 năm

kể từ khi chấm dứt hợp đồng đại diện, bên đại diện không được tiết lộ các thông tin đó cho người thứ ba (trừ trường hợp có thoả thuận khác)

Là người được uỷ quyền thực hiện dịch

vụ nên vì quyền lợi của bên thuê dịch vụ, bên trung gian thực hiện không được bí mật thu lợi từ bất cứ giao dịch nào của quan hệ giữa họ với bên thuê dịch vụ Theo luật của

Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan thì mọi khoản lợi nhuận có được trong hoạt động trung gian thương mại (như bán hàng cao hơn, mua hàng thấp hơn giá người uỷ quyền ấn định) đều thuộc về người uỷ quyền và người được

uỷ quyền phải giải trình cho người uỷ quyền điều đó Người uỷ quyền sẽ không phải trả thù lao cho người được uỷ quyền nếu người được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ trung thành đối với người được uỷ quyền Vấn đề này chưa được Luật thương mại năm 2005 quy định, do đó để bảo vệ quyền lợi của mình các bên cần thoả thuận cụ thể điều này trong hợp đồng

+ Nghĩa vụ bảo quản và giao trả những

gì đã nhận

Để thực hiện các hoạt động thương mại

vì lợi ích của mình, bên thuê dịch vụ thường phải giao tài liệu, tài sản cần thiết cho bên

Trang 5

trung gian thực hiện dịch vụ Trong quá trình

thực hiện dịch vụ trung gian thương mại, bên

đại diện, bên nhận uỷ thác, bên đại lí có

nghĩa vụ duy trì và cung cấp cho người uỷ

quyền các chứng từ sổ sách một cách trung

thực và đầy đủ về tiền bạc hay các loại tài

sản khác mà mình đã nhận thay mặt cho

người uỷ quyền Bên đại diện, bên nhận uỷ

thác, bên đại lí phải giữ tài sản mà bên thuê

dịch vụ giao cho đồng thời phải giao trả

những tài sản đó khi kết thúc hợp đồng

3.2 Ngh ĩa vụ của bên thuê dịch vụ

Với vai trò là bên yêu cầu người khác

thay mặt mình thực hiện giao dịch thương

mại, bên giao đại diện, bên ủy thác, bên giao

đại lí có những nghĩa vụ chủ yếu như: Cung

cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần

thiết để bên thực hiện dịch vụ hoàn thành

nhiệm vụ được giao; trả thù lao về những

công việc mà bên trung gian đã thực hiện;

thanh toán các chi phí hợp lí mà bên trung

gian đã trả để thực hiện công việc được thuê

Trong các nghĩa vụ nói trên, trả thù lao

cho những công việc mà bên trung gian đã

thực hiện cho mình là nghĩa vụ quan trọng

nhất của bên thuê dịch vụ Tiền thù lao mà

bên thuê dịch vụ phải trả cho bên làm dịch

vụ thực chất là khoản tiền công (giá dịch

vụ) mà bên làm dịch vụ được nhận sau khi

đã hoàn thành công việc được giao Khoản

thù lao mà bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ

phải trả cho bên làm dịch vụ lại phụ thuộc

vào giá trị của các giao dịch thương mại

được thiết lập với bên thứ ba nhờ sự tác

động của bên trung gian được uỷ quyền

Trường hợp không có thoả thuận thì mức

thù lao cho bên thực hiện dịch vụ được xác định theo giá (thù lao) của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lí, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá (thù lao) dịch vụ (Điều 86 Luật thương mại năm 2005)

Pháp luật Việt Nam hiện hành chủ yếu dành cho các bên quyền tự do thoả thuận những vấn đề liên quan đến thù lao của bên thực hiện dịch vụ như: Điều kiện hưởng thù lao, thời điểm phát sinh quyền hưởng thù lao, trường hợp không được nhận thù lao Điều này tạo điều kiện đảm bảo quyền tự do của các bên trong việc xác lập quan hệ Tuy nhiên, do các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động thương mại tương đối mới

mẻ ở Việt Nam nên với cách quy định “mở” như vậy sẽ gây khó khăn cho các bên khi thiết lập quan hệ (do thiếu cơ sở pháp lí), đặc biệt là rất khó xử lí khi giữa các bên phát sinh tranh chấp

Ngoài những hoạt động mang tính chất

uỷ quyền đã nêu trên, trong các hoạt động trung gian thương mại, hoạt động môi giới

có bản chất khác Mục đích của việc môi giới là tìm bên có thể giao kết hợp đồng với người được môi giới theo yêu cầu của người này, sau đó các bên tự quyết định việc giao kết hợp đồng với nhau Do đó, nghĩa vụ chủ yếu của bên môi giới là: Phải tìm bạn hàng phù hợp với yêu cầu của bên được môi giới Người môi giới sẽ bị coi là khiếm khuyết nghĩa vụ nếu không làm gì để thi hành nhiệm vụ do người được môi giới giao phó

Trang 6

Đối với bên được môi giới, nghĩa vụ chủ

yếu của họ là buộc phải giao kết hợp đồng

với khách hàng mà người môi giới đã giới

thiệu theo đúng yêu cầu của mình, nếu từ

chối sẽ phải bồi thường cho người môi giới

Ngoài ra, bên được môi giới cũng phải có

nghĩa vụ trả thù lao cho bên môi giới sau khi

người này đã hoàn thành nghĩa vụ của mình

4 Chấm dứt hợp đồng giữa bên thuê

dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ

Việc chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa

bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện

dịch vụ có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các

bên trong hoạt động trung gian thương mại

Do đó, để bảo vệ quyền lợi của các bên liên

quan đến việc chấm dứt hợp đồng, pháp luật

về các hoạt động trung gian thương mại quy

định hai vấn đề cơ bản: Các trường hợp

chấm dứt hợp đồng và hậu quả pháp lí phát

sinh khi các quan hệ này chấm dứt

Luật thương mại năm 2005 không quy

định cụ thể về các trường hợp chấm dứt hợp

đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng

môi giới thương mại, hợp đồng uỷ thác mua

bán hàng hoá và hợp đồng đại lí Do đó, căn

cứ vào Điều 424 BLDS năm 2005 về các

trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự thì

các loại hợp đồng này chấm dứt theo thoả

thuận của các bên và trong những trường

hợp sau: 1) Hợp đồng hết thời hạn; 2) Mục

đích của hợp đồng đã hoàn thành; 3) Một

trong các bên tham gia hợp đồng chết, mất

hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,

bên thực hiện dịch vụ mất tư cách thương

nhân; 4) Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn

phương chấm dứt thực hiện

Trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ nêu trên, Luật thương mại đặc biệt quan tâm đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của một bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân và đại lí thương mại Trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên giao đại diện tin tưởng và giao cho bên đại diện thay mặt và nhân danh mình thực hiện các giao dịch thương mại vì lợi ích của mình Do đó, quan hệ giữa bên giao đại diện

và bên đại diện thường được thiết lập trong thời gian dài Mặt khác, trong quan hệ đại diện cho thương nhân nói riêng và quan hệ đại diện theo uỷ quyền nói chung, các bên thường không quan tâm nhiều đến thời hạn hợp đồng đại diện mà chú trọng đến kết quả công việc bên đại diện phải hoàn thành giúp bên giao đại diện Bởi vậy, để các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân có thể chấm dứt hợp đồng khi thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không có lợi cho mình, Điều

144 Luật thương mại năm 2005 quy định: Các bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân trong trường hợp hợp đồng không xác định thời hạn đại diện nhưng phải thông báo cho bên kia biết Đồng thời, điều luật này cũng quy định hậu quả về nghĩa vụ tài chính đối với bên giao đại diện hay bên đại diện khi họ đơn phương thông báo chấm dứt hợp đồng đại diện Trong quan hệ hợp đồng đại lí, các bên

có quyền chấm dứt hợp đồng đại lí bất cứ khi nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết và chỉ được chấm dứt sau khoảng thời gian hợp lí nhưng không sớm hơn 60

Trang 7

ngày kể từ ngày thông báo Bên bị đơn

phương chấm dứt hợp đồng có một số quyền

nhất định để bảo vệ quyền lợi của mình

5 Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ, bên

trung gian thực hiện dịch vụ với bên thứ ba

Hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên

trung gian thực hiện dịch vụ không chỉ làm

phát sinh quan hệ giữa hai bên này mà nó

còn đem lại những hậu quả đặc biệt với chủ

thể khác Đó là nghĩa vụ của bên thuê dịch

vụ, bên trung gian thực hiện đối với bên thứ

ba Nghĩa vụ này được chia làm các trường

hợp chủ yếu sau:

Th ứ nhất, trong hoạt động môi giới

thương mại bên môi giới chỉ là người dắt

mối để bên thuê dịch vụ (bên được môi

giới) và bên thứ ba trực tiếp giao kết hợp

đồng với nhau Bên môi giới không thay

mặt và nhân danh bên được môi giới để

quan hệ với bên thứ ba nên họ hoàn toàn chỉ

có quan hệ với bên được môi giới chứ

không có mối liên hệ với bên thứ ba Do đó,

bên môi giới không có nghĩa vụ gì đối với

bên thứ ba (trừ trường hợp họ cũng kí hợp

đồng môi giới với bên thứ ba)

Th ứ hai, trong hoạt động đại diện cho

thương nhân, bên trung gian được uỷ quyền

thay mặt và nhân danh bên thuê dịch vụ

quan hệ với bên thứ ba nên những hành vi

mà bên đại diện thực hiện trong phạm vi uỷ

quyền, vì lợi ích của bên giao đại diện được

xem như chính bên giao đại diện thực hiện

Khi bên đại diện cho thương nhân nhân danh

bên giao đại diện giao kết hợp đồng mua bán

hàng hoá hay cung ứng dịch vụ với bên thứ

ba trong phạm vi uỷ quyền thì quan hệ hợp

đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ sẽ phát sinh giữa bên giao đại diện và bên thứ ba Bên giao đại diện được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng với bên thứ ba

Mặt khác, trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại được uỷ quyền, vì lợi ích của bản thân, bên đại diện có xu hướng nhân danh bên giao đại diện thực hiện các hoạt động thương mại không nằm trong phạm vi đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện Điều đó gây ra những hậu quả bất lợi cho bên giao đại diện Hiện nay, với sự ra đời của BLDS năm 2005 và Luật thương mại năm 2005, mối quan hệ giữa bên giao đại diện, bên đại diện và bên thứ ba (trong trường hợp bên đại diện không thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình) đã được quy định tương đối rõ ràng

- Khi bên đại diện thực hiện các giao dịch thương mại không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên giao đại diện Trong trường hợp này, những giao dịch không thuộc phạm vi đại diện sẽ phát sinh giữa bên đại diện và bên thứ ba Hai chủ thể này phải tự chịu trách nhiệm với giao dịch

đó Tuy nhiên, nếu bên giao đại diện chấp nhận những giao dịch ngoài phạm vi uỷ quyền do bên đại diện xác lập thì bên giao đại diện có nghĩa vụ thực hiện các cam kết

đó với người thứ ba Bên thứ ba có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp bên thứ ba biết hoặc buộc phải biết về việc bên đại diện không có

Trang 8

quyền đại diện mà vẫn giao dịch

- Trong trường hợp bên đại diện và bên

thứ ba cố ý xác lập, thực hiện các giao dịch

dân sự nói chung và hoạt động thương mại

nói riêng vượt quá phạm vi đại diện mà gây

thiệt hại cho bên giao đại diện thì phải chịu

trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

Quy định này tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi

của bên giao đại diện

Th ứ ba, trong hoạt động uỷ thác mua bán

hàng hoá và đại lí thương mại, bên nhận uỷ

thác, bên đại lí nhân danh mình để quan hệ

với bên thứ ba do đó những hợp đồng mua

bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại

mà bên nhận ủy thác, bên đại lí giao kết với

bên thứ ba để thực hiện các yêu cầu của bên

thuê dịch vụ sẽ phát sinh giữa bên nhận uỷ

thác, bên đại lí và bên thứ ba Trong những

quan hệ hợp đồng này, trách nhiệm đối với

bên thứ ba thuộc về bên trung gian thực

hiện dịch vụ

Tuy nhiên, trong hoạt động uỷ thác mua

bán hàng hoá hay đại lí thương mại, bên

trung gian nhân danh chính mình để quan

hệ với bên thứ ba nhưng vì lợi ích của bên

thuê dịch vụ nên nhiều vấn đề liên quan đến

bên thuê dịch vụ và bên thực hiện dịch vụ

với bên thứ ba rất đáng quan tâm Nhiều

câu hỏi được đặt ra, chẳng hạn nếu bên

nhận uỷ thác hoặc bên đại lí không thanh

toán được tiền mua hàng đối với bên thứ ba,

có trường hợp nào bên thứ ba được đòi trực

tiếp bên uỷ thác hay bên giao đại lí không?

Hoặc bên thứ ba không trả tiền mua hàng

nên bên nhận uỷ thác hoặc bên đại lí không

thanh toán được cho bên thuê dịch vụ thì

trong trường hợp nào bên thuê dịch vụ được đứng ra đòi bên thứ ba? Trong trường hợp bên thứ ba vi phạm hợp đồng với bên nhận

uỷ thác hay bên đại lí, ai sẽ đứng ra yêu cầu

cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, những chi phí liên quan đến việc khiếu kiện, bên thực hiện dịch vụ hay bên thuê dịch vụ phải chịu trách nhiệm? Những vấn đề này chưa được Luật thương mại năm

2005 quy định rõ

Tóm lại, pháp luật hiện hành đã quan tâm điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch

vụ trong hoạt động trung gian thương mại, tạo cơ sở pháp lí tưong đối đầy đủ để các chủ thể tham gia các hợp đồng này vận dụng Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong các hoạt động trung gian thương mại còn một số vấn đề quy định chưa hợp lí

và đầy đủ cần tiếp tục hoàn thiện./

(1) Luật này thay thế cho Luật thương mại được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997

(2).Xem: Luật thương mại năm 2005 từ Điều 142 đến Điều 149 về hợp đồng đại diện cho thương nhân, từ Điều 150 đến 154 về hợp đồng môi giới thương mại,

từ Điều 155 đến Điều 165 về hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, từ Điều 167 đến Điều 177 về hợp đồng đại lí

(3).Xem: Điều 141, Điều 150, Điều 156, Điều 167 Luật thương mại năm 2005

(4).Xem: Điều 76 Luật thương mại và Nghị định của Chính phủ số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh

có điều kiện

(5).Xem: Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Pháp lệnh bưu chính viễn thông năm 2002

(6).Xem: Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007

Ngày đăng: 24/03/2014, 05:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w