1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại " potx

8 924 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 160,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo văn bản này, những hợp đồng kinh tế sau đây bị coi là vô hiệu toàn bộ: a Nội dung hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật; b Một trong các bên kí kết hợp đồng kinh tế không

Trang 1

1 Quan niệm về hợp đồng vô hiệu

"Hợp đồng vô hiệu", "hợp đồng kinh tế

vô hiệu" là những khái niệm đã được tiếp

nhận và sử dụng khá phổ biến trong pháp

luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt

Nam Thực tiễn khoa học pháp lí vẫn tồn tại

một số quan điểm khác nhau về hợp đồng vô

hiệu và xử lí hợp đồng vô hiệu Theo nguyên

lí hợp đồng là sự thoả thuận làm phát sinh

quyền và nghĩa vụ của các bên thì hệ quả của

sự thoả thuận không làm phát sinh quyền và

nghĩa vụ không hình thành hợp đồng chứ

không phải hình thành nên hợp đồng vô

hiệu Bộ luật dân sự năm 2005 đã thận trọng

hơn khi sử dụng thuật ngữ "giao dịch dân sự

vô hiệu" song lại định nghĩa "Giao dịch dân

sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn

phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm

dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 Bộ

luật dân sự) Nếu xác định sự thoả thuận

không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của

các bên không phải là hợp đồng (chưa hình

thành hợp đồng) thì hậu quả pháp lí của sự

kiện này chỉ là các bên không phải thực hiện

các quyền và nghĩa vụ theo cam kết Còn

nếu xác định "sự thoả thuận không làm phát

sinh quyền và nghĩa vụ" là hợp đồng vô hiệu

thì thể hiện được "tính trái pháp luật", bởi vì

thực tế sự thoả thuận của các bên chỉ không

được thừa nhận khi vi phạm quy định của

pháp luật Điều này lí giải sự tiếp tục tồn tại

của khái niệm "hợp đồng vô hiệu" trong thực tiễn pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật và trong khoa học pháp lí Việt Nam Theo cách hiểu phổ biến và thông dụng, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng được kí kết trái với những quy định của pháp luật hiện hành

Hợp đồng được thiết lập có thể trái pháp luật về nội dung và hình thức giao kết Trong quan hệ thương mại, sự thoả thuận trái pháp luật của các bên thường phổ biến với những trường hợp như sau:

+ Hợp đồng vô hiệu do nội dung thoả thuận (các điều khoản) trái pháp luật Vi phạm pháp luật trong trường hợp này có thể dẫn đến vô hiệu toàn bộ hoặc một phần hợp đồng, tuỳ thuộc vào nội dung, tính chất của

điều khoản vô hiệu trong hợp đồng Ví dụ:

Khi các bên thoả thuận mua bán phế liệu thuộc diện cấm nhập khẩu thì không chỉ điều khoản đối tượng của hợp đồng vô hiệu mà toàn bộ hợp đồng vô hiệu Khi các bên thoả thuận mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá mức tối đa mà luật quy định thì chỉ điều khoản về mức phạt vô hiệu

+ Hợp đồng vô hiệu do không đảm bảo

tư cách chủ thể khi giao kết hợp đồng Tư cách chủ thể được xác định theo thẩm quyền của chủ thể đó Một thương nhân có đăng kí

* Công ti luật Ngo, Miguérès & Associés

Hà Nội

Trang 2

kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề

đã đăng kí được coi là đủ tư cách chủ thể để

kí hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh Một

cá nhân đủ năng lực pháp luật và năng lực

hành vi dân sự được coi là đủ tư cách chủ thể

giao kết và thực hiện hợp đồng

+ Hợp đồng vô hiệu do người đàm phán,

kí kết hợp đồng không phải là đại diện hợp

pháp của chủ thể, cụ thể là không phải là đại

diện theo pháp luật, cũng không phải là đại

diện theo uỷ quyền của chủ thể hợp đồng

+ Hợp đồng vô hiệu do hình thức hợp

đồng vi phạm quy định pháp luật

2 Xử lí hợp đồng vô hiệu trong lĩnh

vực thương mại trước năm 2005

Việc xử lí hợp đồng thương mại vô hiệu

trước khi Nhà nước ban hành Bộ luật dân sự

năm 2005 và Luật thương mại năm 2005

được thực hiện theo Pháp lệnh hợp đồng

kinh tế ngày 25/9/1989 Theo văn bản này,

những hợp đồng kinh tế sau đây bị coi là vô

hiệu toàn bộ:

a) Nội dung hợp đồng kinh tế vi phạm

điều cấm của pháp luật;

b) Một trong các bên kí kết hợp đồng

kinh tế không có đăng kí kinh doanh theo

quy định của pháp luật để thực hiện công

việc đã thoả thuận trong hợp đồng;

c) Người kí hợp đồng kinh tế không

đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo

Hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu từng

phần khi nội dung của phần đó vi phạm điều

cấm của pháp luật nhưng không ảnh hưởng

đến nội dung các phần còn lại của hợp đồng

Đáp ứng nhu cầu của thực tiễn hoạt động

thương mại, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân

dân tối cao đã hướng dẫn áp dụng quy định này tại Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27/5/2003) như sau:

hiệu toàn bộ khi "một trong các bên kí kết

hợp đồng kinh tế không có đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp

đồng" Khi áp dụng quy định này cần phân

biệt như sau:

- Nếu khi kí kết hợp đồng kinh tế một trong các bên chưa có đăng kí kinh doanh

mà trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh

tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp, bên chưa có đăng kí kinh doanh khi kí kết hợp đồng kinh tế vẫn chưa có đăng kí kinh doanh để thực hiện công việc được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì hợp đồng kinh

tế này thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

và bị coi là vô hiệu toàn bộ

- Nếu khi kí kết hợp đồng kinh tế một

trong các bên chưa có đăng kí kinh doanh nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp

và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp, bên chưa có đăng kí kinh doanh khi kí kết hợp đồng đã có đăng kí kinh doanh để thực hiện công việc được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì hợp đồng kinh tế này không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

và do đó không bị coi là vô hiệu toàn bộ

1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì

Trang 3

hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bộ

khi: "Người kí hợp đồng kinh tế không đúng

thẩm quyền "

Để phù hợp với tinh thần quy định tại

Điều 154 Bộ luật dân sự năm 1995 thì hợp

đồng kinh tế không bị coi là vô hiệu toàn bộ

nếu người kí kết hợp đồng kinh tế không

đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình thực

hiện hợp đồng kinh tế, người mà theo quy

định của pháp luật có thẩm quyền kí kết hợp

đồng kinh tế đó (sau đây gọi tắt là người có

thẩm quyền) chấp thuận Được coi là người

có thẩm quyền chấp thuận nếu người đó đã

biết hợp đồng kinh tế đã được kí kết mà

không phản đối

Việc xử lí hợp đồng kinh tế bị coi là vô

hiệu toàn bộ được quy định như sau:

a) Nếu nội dung công việc trong hợp

đồng chưa được thực hiện thì các bên không

được phép thực hiện;

b) Nếu nội dung công việc trong hợp

đồng đã được thực hiện một phần thì các bên

phải chấm dứt việc tiếp tục thực hiện và bị

xử lí về tài sản;

c) Nếu nội dung công việc trong hợp

đồng đã được thực hiện xong thì các bên bị

xử lí tài sản

Việc xử lí tài sản tiến hành theo các

nguyên tắc: Các bên có nghĩa vụ hoàn trả

cho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc

thực hiện hợp đồng Trong trường hợp

không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì

phải trả bằng tiền, nếu tài sản đó không bị

tịch thu theo quy định của pháp luật; thu

nhập bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách

nhà nước; thiệt hại phát sinh các bên phải

chịu Trường hợp hợp đồng kinh tế bị coi là

vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi các điều khoản trái pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích ban đầu và bị xử lí theo các quy định khác của pháp luật

Nghiên cứu vấn đề xử lí hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại (giai đoạn trước 2005) cho thấy một số điểm nổi bật như sau:

- Cở sở pháp lí để xử lí hợp đồng vô hiệu

là văn bản áp dụng riêng cho quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (văn bản này đã hết hiệu lực từ ngày 1/1/1006);

- Căn cứ pháp lí để xác định hợp đồng vô hiệu có tính đến đặc thù của quan hệ thương mại nên đặc biệt chú trọng các yếu tố liên quan đến quan hệ thương mại như: 1) Phạm

vi thẩm quyền của thương nhân - với tư cách

là chủ thể của hợp đồng thương mại; 2) Đại diện hợp pháp của thương nhân; 3) Nội dung

sự thoả thuận Ngoài ra, yếu tố tự do, tự nguyện trong đàm phán có được đề cập nhưng chưa rõ nét

3 Quy định hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu và một số vướng mắc khi

áp dụng để giải quyết hợp đồng thương mại vô hiệu

Sau khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực, Luật thương mại năm 2005 quy định về hành vi thương mại nhưng không quy định về hợp đồng, các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu được áp dụng chung cho mọi quan hệ hợp đồng mà không phân biệt hợp đồng đó hình thành trong quan hệ kinh doanh hay quan hệ tiêu dùng

Trang 4

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định giao

dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều

kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực

hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch

không vi phạm điều cấm của pháp luật,

không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn

tự nguyện

Về hình thức, hình thức giao dịch dân sự

là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong

trường hợp pháp luật có quy định

Các trường hợp giao dịch dân sự không

có một trong các điều kiện được quy định

trên đây thì vô hiệu Cụ thể bao gồm:

1) Giao dịch dân sự có mục đích và nội

dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái

đạo đức xã hội thì vô hiệu

2) Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

3) Giao dịch dân sự vô hiệu do người

chưa thành niên, người mất năng lực hành vi

dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi

dân sự xác lập, thực hiện

4) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

5) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa

dối, đe dọa

6) Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác

lập không nhận thức và làm chủ được hành

vi của mình

7) Giao dịch dân sự vô hiệu do không

tuân thủ quy định về hình thức Trong

trường hợp pháp luật quy định hình thức

giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực

của giao dịch mà các bên không tuân theo

thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, toà

án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định

về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu

So với quy định về hợp đồng kinh tế vô hiệu trước đây, việc quy định về giao dịch dân sự vô hiệu (áp dụng chung cho mọi quan

hệ thương mại, tiêu dùng) có một số điểm khác biệt, vừa thể hiện tính tích cực, vừa thể hiện sự hạn chế của các quy định chung này, trong đó mặt tích cực thể hiện ở các điểm:

Thứ nhất: Bộ luật dân sự quy định rõ điều kiện có hiệu lực của giao dịch và các trường hợp giao dịch vô hiệu Điều này thể tiện tính toàn diện trong điều chỉnh pháp luật

về vấn đề này

Thứ hai: Bảy trường hợp giao dịch dân

sự bị coi là vô hiệu là quy định đầy đủ các trường hợp trái pháp luật về chủ thể, hình thức, nội dung và bản chất tự do ý chí của các bên

do không tuân thủ quy định về đại diện kí kết hợp đồng áp dụng theo quy định về đại diện và phạm vi đại diện (Điều 144, 145,

146 Bộ luật dân sự năm 2005) Điều này phù hợp và thuận lợi cho việc xử lí hậu quả pháp

lí đối với giao dịch dân sự do người không

có quyền đại diện hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện, theo đó, người không có quyền đại diện hoặc người vượt quá phạm vi đại diện có thể vẫn phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ (hoặc phần vượt quá) đối với người đã giao dịch với mình

Thứ tư: Về xử lí hậu quả pháp lí của giao

Trang 5

dịch dân sự vô hiệu, Bộ luật dân sự quy định

nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại của bên có

lỗi, quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ

ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Quy định này đảm bảo lợi ích chính đáng

của các bên hoặc người có liên quan đến

giao dịch vô hiệu

Bên cạnh các điểm tích cực này, do quan

hệ hợp đồng thương mại có những đặc thù về

chủ thể và nội dung giao kết, việc áp dụng

quy định về giao dịch dân sự vô hiệu trong

quan hệ hợp đồng thương mại có một số

vướng mắc, thể hiện ở những khía cạnh sau:

Một là: Quy định về năng lực chủ thể

của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân

sự sẽ rất khó xác định trong các quan hệ

thương mại

Điều 122 Bộ luật dân sự quy định một

trong những điều kiện có hiệu lực của hợp

đồng là "người tham gia giao dịch có năng

lực hành vi dân sự" Năng lực hành vi dân sự

được hiểu là khả năng của cá nhân bằng

hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,

nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luật dân sự)

Đối với pháp nhân, pháp luật chỉ quy định về

năng lực pháp luật của pháp nhân Năng lực

pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng

của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự

phù hợp với mục đích hoạt động của mình

(Điều 86 Bộ luật dân sự) Năng lực pháp luật

dân sự của mọi cá nhân thì như nhau còn

năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

được quy định bởi mục đích hoạt động của

pháp nhân đó Đối với pháp nhân là thương

nhân, mục đích hoạt động của thương nhân

là mục đích kinh doanh, do đó năng lực pháp

luật dân sự của thương nhân là khả năng của thương nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích kinh doanh

Vấn đề đặt ra là nếu một trong các bên của hợp đồng không có đăng kí kinh doanh hoặc kinh doanh không đúng ngành nghề đã đăng kí thì hợp đồng có bị coi là vô hiệu hay không? Bộ luật dân sự hiện hành khi quy định thương nhân có khả năng có các quyền

và nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích kinh doanh đã không giới hạn năng lực chủ thể giao kết hợp đồng thương mại trong phạm vi đăng kí kinh doanh Như vậy, xét từ năng lực chủ thể của hợp đồng, có thể thấy phạm vi giao kết hợp đồng của thương nhân không bị hạn chế song điều này lại mâu thuẫn với Luật doanh nghiệp năm 2005 vì Điều 9 của Luật này quy định doanh nghiệp

có nghĩa vụ "hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng

nhận đăng kí kinh doanh" Tuy nhiên, hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này còn phụ thuộc vào việc có thể coi đây là giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật hay không Theo tác giả, có thể hiểu Điều 9 Luật doanh nghiệp theo ý nghĩa là pháp luật doanh nghiệp không cho phép (cấm) doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vượt ra ngoài phạm vi ngành nghề đã đăng kí và hợp đồng thương mại kí kết trong trường hợp này sẽ bị coi là vô hiệu

Hai là: Việc xác định hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của hợp đồng có ý kiến khác nhau do thiếu sự thống nhất giữa quy định của Bộ luật dân sự

và quy định của Luật thương mại

Trang 6

Bộ luật dân sự quy định: trường hợp

pháp luật quy định hình thức của hợp đồng

là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu

các bên vi phạm thì hợp đồng bị coi là vô

hiệu Luật thương mại quy định hợp đồng

đại lí, hợp đồng uỷ thác, hợp đồng môi giới

và một số hợp đồng khác "phải được kí kết

bằng văn bản" mà không ghi rõ hình thức

văn bản là điều kiện có hiệu lực của hợp

đồng Sự không thống nhất này tất yếu sẽ

dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật

khác nhau Theo tác giả, có thể hiểu khi

pháp luật buộc các bên sử dụng hình thức

văn bản trong giao kết hợp đồng cũng có

nghĩa là cấm các bên sử dụng hình thức

thoả thuận bằng lời nói Nếu như các bên

không khắc phục khiếm khuyết này thì hợp

đồng bị coi là vô hiệu

đồng vô hiệu quy định người không có

quyền đại diện hoặc người vượt quá phạm vi

đại diện phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

(hoặc phần vượt quá) đối với người đã giao

dịch với mình (Điều 145, 146 Bộ luật dân

sự) là phù hợp với các giao dịch dân sự

thông thường nhưng rất khó áp dụng đối với

quan hệ thương mại Hợp đồng thương mại

được kí kết sẽ làm hình thành nghĩa vụ giao

hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân và

chỉ thương nhân mới có đủ khả năng để thực

hiện nghĩa vụ đó Nếu buộc cá nhân người

đại diện sai thẩm quyền phải thực hiện nghĩa

vụ này thì rõ ràng là không khả thi

4 Vấn đề thẩm quyền xử lí hợp đồng

thương mại vô hiệu

* Giai đoạn trước 1/7/1994

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định

việc kết luận hợp đồng kinh tế là vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần thuộc thẩm quyền của trọng tài kinh tế nhà nước Với tính chất

và cơ quan quản lí, trọng tài kinh tế nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra việc kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, xử

lí vi phạm và giải quyết tranh chấp về hợp đồng kinh tế Chức năng "xử lí vi phạm pháp luật về hợp đồng" cho phép trọng tài kinh tế nhà nước quyền chủ động tuyên bố và xử lí hợp đồng vô hiệu khi phát hiện có sự vi phạm pháp luật mà không cần đợi sự khiếu nại của một hoặc các bên

* Giai đoạn từ 1/7/1994 đến nay

Từ ngày 1/7/1994, hệ thống cơ quan trọng tài kinh tế nhà nước chấm dứt hoạt động đồng thời theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), các quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp và xử lí vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của trọng tài kinh tế không còn có hiệu lực thi hành và toà án nhân dân

là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, toà án là

cơ quan xét xử không có chức năng quản lí nhà nước nên không thể tự mình kiểm tra, phát hiện và tuyên bố hợp đồng vô hiệu như trọng tài kinh tế trước đây Theo nội dung hướng dẫn tại điểm b mục 2 Công văn của Toà án nhân dân tối cao số 11/KHXX ngày 23/1/1996 thì các hợp đồng kinh tế bị coi là

vô hiệu khi xảy ra tranh chấp toà án nhân dân thụ lí giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và áp dụng quy định về xử

lí hợp đồng kinh tế vô hiệu tại Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế để giải quyết Như

Trang 7

vậy, toà án nhân dân xử lí hợp đồng kinh tế

vô hiệu khi nào xảy ra tranh chấp mà các bên

khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết

* Về thẩm quyền của trọng tài thương

mại trong việc giải quyết tranh chấp về hợp

đồng vô hiệu

Trọng tài thương mại(1) với tính chất là

phương thức giải quyết tranh chấp do các

bên lựa chọn, không nhân danh quyền lực

nhà nước trong quá trình tố tụng và là loại

dịch vụ pháp lí hình thành và phát triển trong

nền kinh tế thị trường Xuất phát từ đặc điểm

này của trọng tài thương mại đồng thời coi

việc xử lí hợp đồng thương mại vô hiệu là

hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, có

ý kiến cho rằng: Thẩm quyền xử lí hợp đồng

thương mại vô hiệu chỉ thuộc về toà án

Để có cách hiểu đúng về vấn đề này, cần

làm rõ một số nội dung sau:

- Các khái niệm quen dùng trước đây

như "xử lí hợp đồng vô hiệu" hay "tuyên bố

hợp đồng vô hiệu" không còn phù hợp mà

nên sử dụng khái niệm "giải quyết tranh

chấp liên quan đến hợp đồng vô hiệu"

Các khái niệm này có nội hàm khác nhau,

theo đó, "tuyên bố hợp đồng vô hiệu" thể hiện

rõ tính quyền lực nhà nước đối với các hợp

đồng trái pháp luật Trong pháp luật Việt

Nam, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan

duy nhất có thẩm quyền này và cơ chế

"tuyên bố hợp đồng vô hiệu" được sử dụng

phù hợp trong nền kinh tế kế hoạch khi mà

việc kí kết hợp đồng không hoàn toàn do ý

chí tự nguyện của các bên quyết định Khái

niệm "xử lí hợp đồng vô hiệu" cũng hàm

chứa tính quyền lực nhà nước và thể hiện

thái độ của nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật

Khi quyền tự do hợp đồng được ghi nhận

và khi trọng tài kinh tế nhà nước chấm dứt hoạt động, hợp đồng thương mại vô hiệu được giải quyết với sự tách biệt rõ hai quan

hệ pháp luật: Một là, xử lí hành chính hoặc

hình sự đối với tổ chức, cá nhân có hành vi

vi phạm pháp luật; hai là, giải quyết tranh

chấp về tài sản liên quan đến hợp đồng thương mại vô hiệu Như vậy, về bản chất, ở góc độ quan hệ tài sản không đặt ra vấn đề

xử lí hay tuyên bố hợp đồng vô hiệu Chính

vì vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại (kể cả toà án) không chủ động tuyên bố hay xử lí hợp đồng vô hiệu mà chỉ giải quyết tranh chấp về hợp đồng vô hiệu khi có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của một hoặc các bên

- Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mại vô hiệu? Pháp luật hiện hành chỉ quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của toà án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại, không

có quy định riêng về thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại vô hiệu Điều đó có nghĩa là khi có tranh chấp liên quan đến việc kí kết, thực hiện hợp đồng, các bên có quyền khởi kiện tại các cơ quan này mà không cần phân biệt hợp đồng đó có hiệu lực hay vô hiệu Tranh chấp về hợp đồng thương mại vô hiệu cũng là loại tranh chấp thương mại mà các bên có thể khởi kiện tại toà án hoặc trọng tài thương mại

Trang 8

Mặt khác, các cơ quan này (kể cả toà án)

chỉ giải quyết tranh chấp hợp đồng thương

mại vô hiệu theo đơn khởi kiện của một bên

hoặc các bên mà không tự ý đưa vụ việc ra

để giải quyết

- Quy định về tính độc lập của điều

khoản trọng tài: Nội dung của điều khoản

trọng tài có giá trị xác định hội đồng trọng

tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

xảy ra giữa các bên Điều 11 Pháp lệnh

trọng tài thương mại năm 2003 quy định:

"Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với

hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ

hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không

ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản

trọng tài". Như vậy có thể hiểu hợp đồng

có thể vô hiệu nhưng điều khoản trọng tài

vẫn có thể có hiệu lực pháp luật và nguyên

đơn có quyền sử dụng hiệu lực của điều

khoản trọng tài đó để khởi kiện tại hội

đồng trọng tài đã được các bên thoả thuận

lựa chọn Quy định này cho thấy Pháp lệnh

trọng tài thương mại không hạn chế thẩm

quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng

thương mại vô hiệu của trọng tài thương

mại Nội dung tranh chấp về hợp đồng

thương mại vô hiệu chỉ là giải quyết hậu

quả về tài sản, bao gồm cả lợi ích hợp pháp

của các bên hoặc bên thứ ba ngay tình, do

vậy, không nhất thiết phải nhân danh

quyền lực nhà nước để giải quyết đối với

mọi trường hợp./

(1) Hiện tại, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm

2003 là văn bản điều chỉnh hoạt động của trọng tài

thương mại

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP

LUẬT VỀ (tiếp theo trang 10)

của các nhà kinh doanh Chính vì vậy, các quy định về hợp đồng thương mại có nhiều khác biệt so với các quy định về hợp đồng nói chung liên quan đến thủ tục giao kết hợp đồng, thời hạn khiếu nại đối với vi phạm hợp đồng, trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng, thời hiệu và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng

Thứ tư, trong những năm gần đây, pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng của Việt Nam

có nhiều thay đổi lớn, cả về quan niệm lẫn nội dung điều chỉnh Cùng với sự ra đời của BLDS năm 2005, Việt Nam đã không còn duy trì khái niệm hợp đồng kinh tế; mọi hợp đồng đều gọi chung là hợp đồng dân sự và chịu sự điều chỉnh chung của BLDS Các hợp đồng được kí kết và thực hiện trong những lĩnh vực kinh tế riêng biệt thì ưu tiên

áp dụng các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng; nếu các văn bản pháp luật này không quy định thì áp dụng các quy định chung trong BLDS

Cuối cùng, tuy xu hướng chung trên thế giới và ở Việt Nam là không phân biệt rạch ròi hợp đồng thương mại với hợp đồng dân

sự trong các văn bản pháp luật nhưng trên thực tế ngày càng nhiều các nhà luật học đã

và đang bắt đầu có những nghiên cứu chuyên biệt về loại hợp đồng này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của toàn xã hội nói chung và của các nhà kinh doanh nói riêng Điều đó càng khẳng định vai trò không thể phủ nhận của hợp đồng thương mại đối với đời sống kinh tế trên phạm vi toàn cầu./

Ngày đăng: 24/03/2014, 05:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w