Phương pháp đánh giá sinh học khả năng trừ cỏ của các sản ph3m dịch chiết Đánh giá thông qua các thí nghiệm thăm dò hiệu lực sinh học của các dịch chiết đối với 3 loài cỏ đại diện là:
Trang 1NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MỘT SỐ LOÀI CÂY ĐỘC
ĐỂ PHÒNG TRỪ CỎ DẠI
Nguyễn Hồng Sơn, Quách Thị Minh Thu, Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Xuân Độ,
Đỗ Ngọc Hải, Vũ Đình Lư
Summary
Study on application of toxic plants for weeds control
The use of botanical derived herbicides is considering as a promising alternative for high toxic chemicals It has been reported that many plant species can release toxic agents to prevent
germination or reduce growing of other neighboring plants This is called as plant Allelopathy
symptom By this principle, many researches on utilization of plant allelopathy have been being conducted through mulching soil with waste of or toxic derive extracted from allelopathic plants, for weeds control purpose This report will provide information related to toxic ingredients extracted
from promising allelopathic plants commonly grown in Vietnam such as Artemisia annua L.; Aleurites montana (Lour) Wils; Camellia sasanqua Thunb; Myrtaceae; Piper methysticum L.; Camellia chinensis and their potentiality to control 3 major weeds: Echinochloa crus - galli; Monochorria vaginallis and Cyperus difformis
Keywords: Allelopathy, botanical derived herbicicdes, toxic, weed control
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc tìm ra những giải pháp thay thế
thuốc hoá học trong phòng trừ cỏ dại
trong đó có xu hướng phát triển các loại
thuốc trừ cỏ có nguồn gốc thảo mộc là
một hướng đi cần thiết và có tính khả thi
cao Trong quá trình cạnh tranh và phát
triển, thực vật sản sinh ra nhiều các hợp
chất hữu cơ được gọi là chất trao đổi bậc
hai hay còn gọi là sản phNm tự nhiên Một
số hợp chất trao đổi bậc hai của cây trồng
có khả năng ức chế quá trình nảy mầm,
sinh trưởng và phát triển của một số loài
thực vật khác bao gồm cỏ dại (Devine et
al., 1993) Việc phát hiện ra các cây trồng
có khả năng ức chế sự phát triển của cỏ
dại và tìm ra các hợp chất thuốc trừ cỏ
trong cây trồng đã và đang được tiến hành
ở Mỹ, N hật, Hàn Quốc, Việt N am, và
cho kết quả khả quan
Ở nước ta, hướng nghiên cứu sử dụng các loại cây độc vào mục đích phòng trừ
cỏ dại ít được quan tâm Gần đây có một
số kết quả về cây phòng trừ cỏ dại đã được công bố Theo tác giả Trần Đăng Xuân Trường Đại học Thái N guyên, vỏ và lá của cây N eem có khả năng ức chế mạnh sự nNy mầm và phát triển của một số loài thực vật
Cũng theo tác giả, rễ cây nghể Piper methysticum L có khả năng ức chế sự phát
triển của cỏ dại và một số loại nấm hại trên cây trồng
Bài viết này sẽ giới thiệu một số kết quả nghiên cứu thành phần hoạt chất và đánh giá khả năng ứng dụng dịch chiết của một số loài cây độc để phòng trừ các loài
cỏ dại chủ yếu Từ đó tạo vật liệu khởi đầu
phục vụ cho việc phát triển các hoạt chất trừ cỏ mới hiệu quả và an toàn với môi trường
Trang 2II PHƯƠN G PHÁP N GHIÊN CỨU
1 Phương pháp đánh giá và lựa chọn các
loài cây độc có triển vọng để phòng trừ
cỏ dại
Dựa trên cơ sở tổng quan tài liệu và
đánh giá nhanh Sử dụng dịch chiết của các
loài tiềm năng để thăm dò khả năng phòng
trừ đối với các nhóm cỏ chính Việc thử
nghiệm được tiến hành theo phương pháp
đánh giá hiệu lực sinh học
2 Phương pháp chiết xuất và xác định
thành phần hoạt chất
Sử dụng các dung môi hữu cơ và các
hóa chất thích hợp để chiết xuất ra các
thành phần hoạt chất từ thực vật theo
phương pháp chiết Shortlex
3 Phương pháp đánh giá sinh học khả
năng trừ cỏ của các sản ph3m dịch chiết
Đánh giá thông qua các thí nghiệm
thăm dò hiệu lực sinh học của các dịch
chiết đối với 3 loài cỏ đại diện là: Cỏ lồng
vực (Echinochloa crus - galli) đại diện cho
nhóm cỏ hòa thảo; cỏ ớt (Monochorria
vaginallis) đại diện cho nhóm cỏ lá rộng
và cỏ lác dù (Cyperus difformis) đại diện
cho nhóm cỏ cói lác Các thí nghiệm được
tiến hành trong phòng với 5 lần nhắc lại
hay các thí nghiệm diện hẹp trong nhà lưới
với 3 lần nhắc lại; kích thước ô thí nghiệm
là 5m2/ô Hạt cỏ được gieo trong khay nhựa
có kích thước 15 x 20 cm hay ô xi măng
Phun dịch chiết ở các nồng độ khác nhau
1%; 5% và 10% vào 3 thời điểm khác nhau
là: Tiền nảy mầm của cỏ dại: trước khi cỏ
mọc (phun ngay sau gieo hạt cỏ); hậu nảy
mầm sớm: phun khi cỏ 0,5 - 1 lá (phun sau
gieo hạt cỏ 3 ngày) hay hậu nảy mầm:
phun khi cỏ 1,5 - 2 lá (sau gieo hạt cỏ 7
ngày)
* Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
Quan sát nhanh bằng mắt phản ứng của các loài cỏ dại đối với dịch chiết thông qua tỷ lệ cây mọc, mức độ ảnh hưởng của dịch chiết đến cỏ dại theo thang 9 cấp của FAO (1990) Đánh dấu (+) đối với các loài có phản ứng với dịch chiết và dấu ( - ) đối với các loài không có phản ứng
+ Đánh giá hiệu lực trừ cỏ: Thông qua
mật độ cỏ trong ô: mỗi ô điều tra 5 điểm, mỗi điểm 0,2 m2 Đếm toàn bộ cỏ sống có trong điểm điều tra Tính hiệu lực trừ cỏ theo công thức Abbott Xử lý thống kê mật
độ cỏ theo chương trình IRRISTAT trên máy tính
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả đánh giá và lựa chọn các loài thực vật có tiềm năng trừ cỏ
Thông qua tổng quan tài liệu về thành phần các loài cây độc ở Việt Nam, đề tài đã chọn được 6 loài thực vật mà thành phần của chúng có khả năng ứng dụng chúng trong
phòng trừ cỏ dại là cây bạch đàn Myrtaceae, cây sở Camellia sasanqua Thunb, Thanh hao hoa vàng Artemisia, cây nghể Piper methysticum L., cây neem Camellia chinensis, cây trNu Aleurites montana (Lour)
Wils là đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở lựa chọn sơ bộ, chúng tôi đã tiến hành thử phản ứng của 3 loài cỏ dại đại diện với dịch chiết của các loài thực vật ở các nồng độ khác nhau, kết quả cho thấy:
- Đối với nhóm cỏ hòa thảo: Loài cỏ
đại diện là cỏ lồng vực có phản ứng dương tính (bị ảnh hưởng) với dịch chiết của 4 loài cây độc là bạch đàn, sở, nghể
Trang 3và trNu ở cả 3 nồng độ dịch chiết là 1%;
5% và 10%, trong khi đó loài cỏ này hoàn
toàn không có phản ứng với dịch chiết của
thanh hao hoa vàng và neem cho dù ở bất
cứ nồng độ nào
- Đối với nhóm cỏ lá rộng: Hoàn toàn
không bị ảnh hưởng bởi dịch dịch chiết
của cây thanh hao hoa vàng nhưng chúng
lại có phản ứng với cả 3 loài cây độc khác
như bạch đàn, trNu và sở ở bất cứ nồng độ
dịch chiết nào Đối với cây nghể, loài cỏ
này chỉ có phản ứng ở nồng độ dịch chiết
cao trên 5% còn đối với cây neem, phản
ứng chỉ xảy ra khi nồng độ dịch chiết là
10% (bảng 2)
- Đối với nhóm cỏ cói lác: Tương tự
như đối với hai nhóm cỏ trên, loài cỏ đại
diện cho nhóm này là cỏ lác dù có phản ứng
với cả 4 loài thực vật là bạch đàn, sở, neem
và trNu nhưng lại hoàn toàn không có biểu
hiện bị ngộ độc đối với dịch chiết của cây
thanh hao hoa vàng và cây nghể
,hư vậy, qua kết quả thăm dò nhanh
khả năng trừ cỏ của 6 loài cây độc cho
thấy, chỉ có cây thanh hao hoa vàng là hoàn toàn không có biểu hiện gây độc cho
cả ba loài cỏ thí nghiệm, 5 loài thực vật còn lại là bạch đàn, tr>u, sở, nghể và neem đều có khả năng gây độc ít nhất là đối với
1 loài cỏ Trong số 5 loài này, cây bạch đàn, tr>u và sở là 3 loài có khả năng gây độc cho cả 3 loài cỏ dại ở cả 3 nồng độ thí nghiệm
2 Kết quả xác định thành phần hoạt chất của các loài cây độc
Trên cơ sở lựa chọn ở trên chúng tôi đã tiến hành chiết xuất và phân tích thành phần hóa học của các loài cây độc Chúng tôi không có điều kiện định lượng và tách riêng từng bộ phận để thử độ độc của chúng mà chỉ xác định thành phần gây độc thông qua tổng quan các tài liệu của nước ngoài đặc biệt là của Hàn Quốc Qua đó, chúng tôi cũng đã xác định được bộ phận gây độc chính của từng loài cây để có cơ sở định hướng cho việc khai thác và phát triển sản phNm sau này Kết quả phân tích được trình bày tại bảng 1
Bảng 1 Thành phần một số hoạt chất chính và hoạt chất gây độc của các loài cây độc
TT Tên loài Thành phần chủ yếu Thành phần
gây độc
Bộ phận chứa thành phần gây độc
1 Bạch đàn Xineola, tanin, saponozit Tanin, Saponozit Lá
3 Nghể Oxymetylanthraquinon, ramnazin, isoramnetin và
rutin, axit polygonic, hyperin, pecsicarin, persicarin
7 methylesther
Axit polygonic và hyperin
Lá
4
Neem Azadirachtin, salannin, melantriol, nimbin, nimbidin Azadirachtin,
nimbin, nimbidin Lá, quả
5 Trẩu Axit stearic, axit linoleic, axit oleic, saponozit Saponozit Quả
Trang 43 Đánh giá khả năng phòng trừ cỏ dại
của các loài thực vật
3.1 Khả năng phòng trừ cỏ lồng vực
E crus galli của các loài thực vật
Kết quả thí nghiệm khi phun dịch chiết
vào các giai đoạn sinh trưởng khác nhau
cho thấy:
* Khi phun vào giai đoạn tiền nảy
mầm (khi cỏ chưa mọc): Ở nồng độ 1%,
cả 5 loại dịch chiết đều có hiệu lực trừ cỏ
rất thấp Kết quả xử lý thống kê cho thấy
sự sai khác về mật độ cỏ với công thức
đối chứng là không có ý nghĩa, điều đó có
nghĩa là các dịch chiết đều không có hiệu
lực trừ cỏ lồng vực khi phun ở nồng độ
này Tuy nhiên, khi tăng nồng độ lên 5%
và 10% thì có 4 loại dịch chiết có hiệu lực
trừ cỏ nhưng không thực sự cao Chỉ có
hai hoạt chất có hiệu lực cao hơn rõ rệt đó
là bạch đàn và trNu nhưng hiệu lực trừ cỏ chỉ đạt dưới 30% ở nồng độ 5% và dưới 40% ở nồng độ 10%
* Khi phun vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm: Trừ dịch chiết của cây nghể, các
loại dịch chiết khác đều có hiệu lực trừ cỏ ngay ở nồng độ 1% Hiệu lực trừ cỏ lồng vực tăng lên khi nồng độ dịch chiết tăng, tuy nhiên hiệu lực cao nhất cũng chỉ đạt dưới 60% Hiệu lực trừ cỏ đạt cao nhất khi nồng độ dịch chiết là 10% Ở nồng độ này, hiệu lực trừ cỏ của dịch chiết Bạch đàn và trNu đạt cao nhất là 56,6% và 59,4%, sau đó đến sở và neem là 48,3 và 51,7% (bảng 2) Cũng như khi phun vào giai đoạn tiền nảy mầm, dịch chiết của cây nghể hoàn toàn không có khả năng trừ cỏ lồng vực kể cả khi phun ở nồng độ cao nhất là 10%
Bảng 2 Hiệu lực trừ cỏ của các dịch chiết đối với nhóm cỏ hoà thảo khi phun vào giai
đoạn hậu nảy mầm sớm (phun vào 3 ngày sau gieo hạt cỏ) (Thí nghiệm tại nhà lưới Viện Bảo vệ thực vật - Số liệu sau phun 20 ngày)
Cây độc
Công thức 1% Công thức 5% Công thức 10% Mật độ cỏ
(cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
* Khi phun vào giai đoạn hậu nảy
mầm (sau gieo hạt cỏ 7 ngày): Cũng
tương tự khi phun vào giai đoạn tiền và
hậu nảy mầm sớm, dịch chiết từ cây nghể
hoàn toàn không có hiệu lực trừ cỏ lồng vực ở mọi nồng độ Trong khi đó, dịch chiết của cả 4 loài khác đều có hiệu lực trừ
cỏ lồng vực nhưng thấp hơn so với khi
Trang 5phun vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm
Hiệu lực của dịch chiết bạch đàn và trNu
vẫn đạt cao nhất khi phun ở nồng độ 10%
(40,9 và 35,8%)
3.2 Khả năng trừ cỏ lác của các loài
thực vật
Kết quả cho thấy trừ dịch chiết của cây
nghể cả 4 loài thực vật còn lại đều có hiệu
lực trừ cỏ lác dù, tuy nhiên hiệu lực cũng có
sự biến động rõ rệt khi phun vào các giai
đoạn sinh trưởng khác nhau của cỏ dại
Khác với hiệu lực trừ cỏ lá rộng, khi
phun vào giai đoạn tiền nảy mầm, cả 5 loại
dịch chiết hầu như không có hiệu lực trừ cỏ lác khi phun ở nồng độ 1%, khi tăng nồng
độ lên 5% và 10% hiệu lực của các dịch chiết có tăng lên nhưng không cao Khi phun vào giai đoạn tiền nảy mầm sớm, hiệu lực trừ cỏ của 4 loại dịch chiết từ bạch đàn, trNu, sở và neem đều đạt cao nhất và cao hơn rõ rệt so với khi phun trừ cỏ hoà thảo
và lá rộng Hiệu lực đạt cao nhất là dịch chiết từ cây bạch đàn (67,4%) sau đó đến cây trNu (63,8%) và tiếp theo là dịch chiết của cây sở (56,9%) (bảng 3)
Bảng 3 Hiệu quả trừ cỏ lác dù C difformis của các dịch chiết khi phun ở các nồng độ
khác nhau vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm (sau gieo hạt 3 ngày)
(Thí nghiệm tại nhà lưới Viện Bảo vệ thực vật - Số liệu sau phun 20 ngày)
Cây độc
Công thức 1% Công thức 5% Công thức 10%
Mật độ cỏ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ cỏ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ cỏ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Tóm lại: Qua toàn bộ kết quả đánh giá
khả năng phòng trừ cỏ dại của các loại dịch
chiết cho thấy khả năng phòng trừ của các
dịch chiết có sự khác nhau giữa các loài
thực vật Có 3 dịch chiết có hiệu quả trừ cỏ
khá đối với cả 3 nhóm cỏ là dịch chiết từ
bạch đàn, sau đó đến dịch chiết cây trNu và
thứ ba là dịch chiết từ cây sở Hiệu lực trừ
cỏ của các dịch chiết này cũng phụ thuộc
vào thời điểm phun thuốc, nhìn chung khi
phun vào giai đoạn tiền nảy mầm, hiệu lực
trừ cỏ đạt thấp nhất có nghĩa là các dịch
chiết đều ít có hiệu quả khống chế sự nảy mầm của cỏ dại Hiệu quả trừ cỏ hoà thảo
và cói lác đạt cao nhất khi phun vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm, nhưng đối với cỏ
lá rộng thời điểm phun tốt nhất lại vào giai đoạn hậu nảy mầm (sau gieo hạt 7 ngày) Tuy dịch chiết của cây nghể và cây neem có khả năng phòng trừ khá đối với cả 3 nhóm
cỏ lá rộng, cỏ hoà thảo và cói lác khi sử dụng ở nồng độ trên 5% nhưng hiệu lực của chúng đều thấp hơn dịch chiết của bạch đàn, trNu và sở
Trang 64 Khả năng phát huy hiệu lực của các
dịch chiết khi hỗn hợp với thuốc trừ cỏ
hóa học
Các kết quả nghiên cứu mục trên cho
thấy một số dịch chiết có khả năng phòng
trừ khá đối với cả 3 nhóm cỏ dại, tuy
nhiên hiệu lực này vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu trong phòng trừ cỏ dại Để
nâng cao hiệu lực trừ cỏ, chúng tôi đã
tìm hiểu khả năng trừ cỏ của hỗn hợp
giữa dịch chiết thực vật với các thuốc
hoá học để vừa cải thiện hiệu lực trừ cỏ,
vừa giảm lượng thuốc hoá học sử dụng
trong phòng trừ
Để thực hiện nội dung này, chúng tôi
đã hỗn hợp 3 dịch chiết của bạch đàn, trNu
và sở ở nồng độ 5% với hoạt chất
Pyrazosulfuron là loại thuốc trừ cỏ đang sử dụng phổ biến trong sản xuất với lượng dùng bằng ½ so với lượng dùng chuNn Kết quả bảng 4 cho thấy, khi hỗn hợp các dịch chiết ở nồng độ 5% với thuốc hoá học Pyrazosulfuron lượng dùng 10 g hoạt chất/ha (ai/ha), cả ba cặp hỗn hợp đều cho hiệu lực trừ cỏ khá cao với cả ba nhóm cỏ, cao hơn so với khi sử dụng dịch chiết ở dạng đơn và thậm chí cao hơn thuốc trừ cỏ hoá học Pyrazosulfuron khi sử dụng ở lượng chuNn là 20 g ai/ha Kết quả này đã
mở ra một triển vọng mới trong việc ứng dụng dầu chiết thực vật để hỗn hợp với các hoá chất trừ cỏ để vừa giảm lượng sử dụng thuốc hoá học độc hại, vừa tăng hiệu lực
trừ cỏ
Bảng 4 Hiệu quả trừ cỏ của các hỗn hợp giữa dịch chiết với thuốc trừ cỏ hoá học khi phun
vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm của cỏ (Thí nghiệm tại nhà lưới Viện Bảo vệ thực vật - Số liệu sau phun 20 ngày)
Cây độc
Mật độ và hiệu lực trừ các loài cỏ đại diện
Cỏ lồng vực Cỏ lá rộng Cỏ lác dù Mật độ cỏ
(cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Mật độ (cây/m 2 )
Hiệu lực (%)
Hỗn hợp dịch chiết bạch đàn 5% +
Hỗn hợp dịch chiết trẩu 5% +
Hỗn hợp dịch chiết sở 5% +
Trang 7IV KẾT LUẬN
1 Trừ thanh hao hoa vàng Artemisia annua L., cả 5 loài thực vật thử nghiệm đều có khả năng ức chế sự nảy mầm, phát triển của cỏ dại là cây trNu Aleurites montana (Lour) Wils, cây sở Camellia sasanqua Thunb, cây bạch đàn Myrtaceae, cây nghể Piper
methysticum L và cây neem Camellia chinensis Tuy nhiên qua thí nghiệm sử dụng dịch
chiết để trừ cỏ cho thấy chỉ có 3 loài có tiềm năng trừ cỏ khá cao đối với các loài cỏ phổ biến trên đồng ruộng (cỏ lồng vực, cỏ ớt và cỏ cói lác) đó là cây bạch đàn, cây trNu và cây
sở
2 Tuy thành phần các chất gây độc trong các loài thực vật trên là khá phong phú nhưng qua tham khảo các tài liệu nước ngoài cho thấy thành phần gây độc chủ yếu đối với cỏ dại là saponozit được chứa trong lá bạch đàn, quả sở và quả trNu Tiềm năng gây độc của các chất khác như tanin, axit polygonic và hyperin, azadirachtin, nimbin hay nimbidin đều thấp hoặc chỉ có khả năng ức chế sinh trưởng của cỏ khi sử dụng ở nồng độ dịch chiết rất cao (10% trở lên)
3 Tuy tiềm năng phòng trừ đối với từng nhóm cỏ, tại từng thời điểm phun khác nhau của 3 loại dịch chiết từ 3 loài cây độc triển vọng là khác nhau nhưng nhìn chung dịch chiết từ cây bạch đàn cho hiệu quả cao nhất đối với nhóm cỏ hoà thảo và lá rộng, sau đó đến dịch chiết từ cây trNu và cuối cùng là dịch chiết của cây sở Trong khi đó, hiệu lực trừ
cỏ cói lác của dịch chiết từ cây trNu lại cao nhất, sau đó đến bạch đàn và cuối cùng là cây
sở
4 N hìn chung, các loài dịch chiết đều phát huy hiệu lực trừ cỏ khi phun vào cả giai đoạn tiền nảy mầm, hậu nảy mầm sớm và hậu nảy mầm, có nghĩa là chúng vừa có khả năng ức chế nảy mầm, vừa có khả năng ức chế sinh trưởng của cỏ dại Tuy nhiên khả năng ức chế nảy mầm của các dịch chiết thấp hơn khả năng ức chế sinh trưởng Khi phun vào giai đoạn hậu nảy mầm sớm, hiệu lực trừ cỏ hoà thảo và cói lác cao hơn khi phun vào giai đoạn hậu nảy mầm nhưng hiệu lực trừ cỏ lá rộng lại thấp hơn
5 Tuy tiềm năng phòng trừ cỏ dại của cả 3 loại dịch chiết triển vọng là khá cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong phòng trừ cỏ dại, hiệu lực cao nhất chỉ đạt dưới 70% Việc hỗn hợp các dịch chiết này với các thuốc trừ cỏ hoá học đã làm tăng đáng kể hiệu lực trừ cỏ của các dạng dịch chiết và giảm đáng kể lượng thuốc hoá học Đây là một hướng đi quan trọng trong việc nghiên cứu, phát triển các thuốc trừ
cỏ hỗn hợp giữa hoá học với thảo mộc
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍN H
1 ,guyễn Hồng Sơn, 2000 Một số nghiên cứu về cỏ dại trên lúa nước và biện pháp
phòng trừ Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, Hà N ội
2 Dilday R H., W G Yan, K A K Moldenhauer and K A Gravois, 1998
Allelopathic activity in rice for controlling major aquatic weeds, In: Allelopathy in rice, Edited by M Olofsdotter, IRRI, Los Banos, Laguna, Philippines, 1998, p 7 - 26
Trang 83 Juline M H.,1992 Biological control of weeds, A world catalogue of agents and
their target weeds, Third Edition, C A B International in association with ACIAR, 86p
4 Kim K U and D H Shin, 1998 Rice allelopathy research in Korea, In: Allelopathy
in rice, Edited by M Olofsdotter IRRI, Los Banos, Laguna, Philippines, p 39 - 43
5 Merrill A Ross, Carole A Lembi, 1985 Applied Weed Science, Macmillan
Publishing Company N ew York, Collier Macmillan Publishers, London, 340p
Agười phản biện: Aguyễn Văn Viết