Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ đến sinh trưởng và phát triển của cây ngô trên đất dốc Chỉ tiêu chiều cao cây là chỉ tiêu có ý nghĩa biểu hiện khả năng sinh trưởng của c
Trang 1NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT TIỂU BẬC THANG VÀ CHE PHỦ ĐẤT CHO CANH TÁC NGÔ BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC
Ở HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Nguyễn Quang Tin, Hà Đình Tuấn
SUMMARY
Research in application of mini - terrace and soil mulch techniques to serve sustainable sloping land maize cultivation in Van Chan district of Yen Bai province
Van Chan district of Yen Bai province is typical for upland rice and maize cultivation on sloping lands in Northern mountainous regions of Vietnam Traditionally, the local farmers always try to make their upland fields clean with well ploughed and ripped soil before sowing
This leads to severe soil erosion and rapid land degradation causing not only the rapid decrease of upland crop yield, but also the depletion of natural resources and degradation of the environment
To contribute to solving these problems, a research was conducted in application of mini - terrace and soil mulching techniques for maize cultivation on sloping land in Van Chan district
The obtained results show that the soil mulching can reduce the soil erosion by 61.9 to 93.7% and increase the maize yield by 14.1 to 31.8% In the meantime, under the mulch, the soil characteristics, especially pH, organic matter content, CEC can be improved, and soil toxicity reduced The economic return of the participated farmers can be increased from VND 20,870,000
to VND 32,640,000 per hectare in on crop season
It is proposed that the soil mulching with vegetal materials be popularized for sustainable sloping land cultivation
Keywords: Mini - terrace, mulching techniques, erosion, yield, environment
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đồi núi (đất dốc) chiếm 3/4 diện tích
đất tự nhiên của Việt Nam Nhìn chung, đây
là những loại đất khó khai thác sử dụng và
kém hiệu quả, đặc biệt khi đất bị bóc trần
khỏi thảm thực vật che phủ Huyện Văn
Chấn - Yên Bái là một điển hình của canh
tác trên đất dốc ở miền núi phía Bắc Phần
lớn diện tích đất ở đây là đất dốc với tầng
đất canh tác dày do cộng đồng người
H'mông, người Mường, người Thái sử dụng
Cây trồng trong hệ thống trồng trọt chủ yếu
là ngô và lúa nương Kiểu canh tác ở đây là
dọn sạch và đốt trước khi gieo trồng, mặt đất
không được che phủ Vì thế lượng chất hữu
cơ bề mặt bị xói mòn và rửa trôi sau những
trận mưa là rất lớn, làm giảm năng suất cây trồng và làm suy thoái đất Việc ứng dụng
kỹ thuật tiểu bậc thang (TBT) và che phủ đất cho canh tác ngô trên đất dốc nhằm góp phần xây dựng hệ thống canh tác ngô hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, mỗi khối là một lần nhắc lại
2 Các chỉ tiêu theo dõi
+ Lượng đất mất đi giữa các công thức
so sánh;
Trang 2+ Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển
của ngô;
+ Năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất ngô hạt;
+ Cỏ dại và công lao động;
+ Biến động dinh dưỡng đất dưới tác
dụng của TBT và che phủ đất
3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được tính toán,
xử lý trên máy tính bằng phần mềm
EXCEL
4 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế
- Lợi nhuận (RAVC) được tính bằng
tổng thu nhập (GR) trừ đi tổng chi phí
(TC): RAVC = GR - TC
- Tỷ suất lãi toàn phần = (GR - TC)/TC (%)
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ đến sinh trưởng và phát triển của cây ngô trên đất dốc
Chỉ tiêu chiều cao cây là chỉ tiêu có
ý nghĩa biểu hiện khả năng sinh trưởng của cây trồng Ngoài ra, đây còn là chỉ tiêu có ý nghĩa trong canh tác đất dốc, vì cây trồng khoẻ có bộ lá tốt thì khả năng che phủ tốt, giảm được động năng của các hạt mưa tránh phá vỡ cấu trúc đất, do
đó giảm độ xói mòn khi có mưa lớn; đồng thời cây trồng có bộ lá tốt sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển và gây hại của
cỏ dại
Bảng 1 Chiều cao cây ngô ở các công thức so sánh
Đơn vị tính: cm
Công thức Chiều cao ngô giai đoạn V8 Chiều cao đóng bắp Chiều cao thu hoạch
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết
(xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Ngoài sự khác nhau về chiều cao cây
thì chiều cao đóng bắp cũng cho những giá
trị khác nhau giữa các công thức: Ở công
thức đối chứng chiều cao đóng bắp là 70,2
cm còn các công thức TBT và che phủ khác
giá trị này đều cao hơn (78,7 - 82,6 cm)
Tương tự, chiều cao cây giai đoạn thu
hoạch là 164,9 cm ở đối chứng so với 173,3
cm và 178,2 cm Như vậy, ảnh hưởng của
TBT kết hợp che phủ thực vật đến sinh
trưởng cây có biểu hiện hơn đối chứng về chiều cao rất rõ rệt
2 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ đến khả năng kiểm soát
cỏ dại
Cỏ dại trên đất dốc là một đối tượng gây hại nghiêm trọng đến cây trồng song việc phòng trừ chúng không dễ và không phải bất cứ lúc nào cũng dùng được thuốc
Trang 3Đặc biệt là đối với canh tác trên đất dốc của
bà con nông dân vùng núi, một phần do địa
hình không thuận lợi khó kiếm nước để hoà
và phun thuốc, một phần do điều kiện kinh
tế của người dân không cho phép đầu tư cao
trong trồng trọt Do đó, biện pháp canh tác nào giúp kiểm soát được cỏ dại, tăng năng suất cây trồng với giá thành hạ thì rất có ý nghĩa và sẽ được người dân nhanh chóng chấp nhận (bảng 2)
Bảng 2 Khối lượng cỏ dại ở các công thức khác nhau (tính cho 1ha)
Ở công thức đối chứng lượng cỏ dại rất
lớn (406,7 kg/ha), còn các công thức che
phủ khác do khả năng kiểm soát tốt nên
lượng cỏ dại thấp hơn hẳn (273,3 - 60,0
kg/ha), trong đó công thức T3 khả năng
kiểm soát cỏ dại tốt nhất, giảm 346,7 kg/ha
so với đối chứng giảm 85,2%
Ngoài ra, do khả năng kiểm soát cỏ dại tốt nên ở công thức T3 có che phủ chỉ tốn rất ít công làm cỏ, chỉ bằng 8,3% so với đối chứng (5 công/ha so với đối chứng 60 công/ha), giảm 91,7% so với đối chứng Công thức T2 giảm 75% công làm cỏ so với đối chứng (chỉ bằng 25% so đối chứng)
Bảng 3 Số công lao động ở các công thức khác nhau
Đơn vị tính: công/ha
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Qua bảng 3 cho thấy: Tuy tổng số công
lao động của 2 công thức T1 và T3 cao hơn
tổng số công của công thức C là 5 và 10
công nhưng đó là do vụ đầu tiên phải làm
TBT Từ vụ thứ 2 trở đi thì sẽ giảm hẳn
công dọn nương và làm cỏ (chỉ 30 công/ha
sửa TBT), do đó hiệu quả kinh tế của biện
pháp tạo TBT cao hơn rất nhiều
3 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ đến khả năng kiểm soát xói mòn
Một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất cây trồng và gây thoái hoá đất là do xói mòn rửa trôi Lượng đất
bị xói mòn phần nhiều là lớp đất mặt trong
đó có chứa hàm lượng lớn các chất dễ tiêu
Trang 4và phân bón do nông dân cung cấp trong
quá trình canh tác Theo thói quen, đa phần
nông dân miền núi dọn sạch và đốt tàn dư
cây trồng vụ trước, thậm chí còn cày bừa
kỹ trước khi gieo trồng, chính điều này đã
làm gia tăng sự xói mòn đất và rửa trôi
chất dinh dưỡng, đặc biệt là sau những trận mưa lớn Trong thí nghiệm, công thức đối chứng được bố trí theo cách làm truyền thống của nông dân, kết quả là lượng đất bị xói mòn trôi đi nhiều nhất (10,60 tấn/ha) (bảng 4)
Bảng 4 Khả năng kiểm soát xói mòn của các công thức
Công thức Lượng đất trôi
(tấn/ha)
Lượng đất giảm so đối chứng (tấn/ha)
Lượng đất trôi so đối chứng (%)
Giảm so đối chứng (%)
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Ở các công thức TBT và che phủ,
lượng đất trôi giảm dần theo mức độ phủ
và cách phủ, tức là lượng vật liệu phủ
càng cao thì lượng đất trôi đi càng ít
Trong các công thức thí nghiệm thì công
thức T3 (TBT, che phủ, xen đậu) có hiệu
quả nhất trong việc giữ đất trôi, chỉ 0,67
tấn/ha đất bị trôi (tức là giảm 93,7%) so
với đối chứng
4 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ngô hạt
Những nghiên cứu về điều kiện ngoại cảnh tác động lên cây trồng cho thấy cùng một giống cây trồng, cùng một điều kiện đất đai nhưng sự tác động của nền TBT và vật liệu che phủ sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây ngô trên đất dốc
Bảng 5 Một số yếu tố cấu thành năng suất của các công thức thí nghiệm
Công thức/lần nhắc Số bắp/m
2
(bắp)
Số hàng/bắp (hàng)
Chiều dài bắp (cm)
Số hạt/hàng (hạt) D bắp (cm)
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
So sánh về các các yếu tố cấu thành
năng suất, cho thấy:
Công thức đối chứng (như cách làm của
nông dân) luôn cho trị số thấp hơn so với
các công thức khác (bảng 5)
- So sánh về số bắp/m2: Công thức đối
chứng cho số bắp/m2 là 4,3 bắp/m2 thì ở các
công thức khác đều cho giá trị cao hơn (4,6
- 4,9 bắp/m2)
- So sánh về đường kính bắp: Giá trị về đường kính bắp cũng giống như giá trị chiều dài bắp, ở công thức đối chứng (không TBT, không che phủ) đường kính bắp chỉ đạt 3,20 cm trong khi đó các công
Trang 5thức khác đường kính bắp đều cao hơn
(3,84 - 4,04 cm)
- So sánh về số hàng/bắp: Số hàng/bắp
của công thức C (Đối chứng) là 11,8
hàng/bắp thì ở các công thức khác đều cao
hơn (12,7 - 13,4 hàng/bắp)
- So sánh về số hạt/hàng: Số hạt/hàng cũng cho kết quả tương tự như số hàng/bắp, trong công thức C (đối chứng) là 26,0 hạt/hàng thì ở các công thức khác đều cao hơn (32,6 - 36,1 hạt/hàng)
Năng suất ngô hạt ở các công thức thí nghiệm:
Bảng 6 @ăng suất ngô hạt ở các công thức khác nhau
Đơn vị tính: tạ/ha
Công thức/lần nhắc Năng suất thực thu (tạ/ha) Tăng so đối chứng (tạ/ha) Tăng % so đối chứng
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân) ; T1 - TBT, không che phủ ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ) ; T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
- So sánh năng suất của các công thức
cho thấy (bảng 6):
Các công thức tạo TBT và che phủ đều
cho năng suất ngô cao hơn so với đối chứng,
trong khi năng suất ngô của công thức đối
chứng (C) chỉ đạt 35,6 tạ/ha thì các công thức
khác đều cao hơn (40,6 - 46,9 tạ/ha) tăng từ
14,1% đến 31,8% so với đối chứng
5 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết
hợp che phủ đến khối lượng chất phủ sau
thu hoạch
Sau khi thu bắp ngô, những lá tươi
thường được nông dân cho trâu bò ăn, tàn
dư còn lại hoặc được lấy về làm củi đun,
hoặc bị đốt trước khi gieo trồng vụ ngô
mới Nhưng thực tế, việc đốt nương và tàn
dư thực vật trước khi gieo trồng có hại nhiều hơn lợi Thứ nhất, toàn bộ vật chất hữu cơ bị đốt thành CO2 bay đi, để lại một lượng dinh dưỡng không đáng kể Nếu không đốt thì hàm lượng dinh dưỡng mà đặc biệt là lượng mùn sẽ nhiều hơn rất nhiều khi khối lượng chất khô đó tự phân huỷ Thứ hai, sau khi đốt mặt đất không được che phủ trong một thời gian dài, nếu gặp những cơn mưa rào đầu vụ thì lượng đất bị xói mòn, rửa trôi đi là rất lớn Mặt khác, khi mặt đất không được che phủ, giai đoạn cây con đầu vụ gặp trời nắng nóng, nhiệt độ cao gây ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng ngô (bảng 7)
Bảng 7 Khối lượng chất phủ sau thu hoạch
Đơn vị tính: kg/ha
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Trang 6Lượng chất phủ của công thức C chỉ đạt
3.986,7 kg/ha thì các công thức khác đều
cho kết quả cao hơn (4.108,4 - 4.234,0
kg/ha) Như vậy, toàn bộ vật chất khô có
được sau thu hoạch ngô bao gồm thân lá
ngô và cỏ dại giữ lại làm vật liệu che phủ
cho vụ sau lại càng nâng cao hiệu quả kinh
tế của biện pháp che phủ đất
6 Ảnh hưởng của biện pháp tạo TBT kết
hợp che phủ đến biến động hóa học đất
Nguyên nhân của sự bỏ hoá chính là
độ phì đất bị suy giảm sau mỗi vụ gieo
trồng Một phần dinh dưỡng trong đất do cây trồng lấy đi, một phần lớn khác bị rửa trôi trong quá trình canh tác Do đó khi canh tác trên đất dốc rất cần có biện pháp giữ đất, chống xói mòn rửa trôi, nếu được bổ sung thêm phân bón và chất hữu cơ thì độ phì đất mới ổn định để canh tác lâu bền Thí nghiệm nghiên cứu
kỹ thuật TBT và che phủ đất cho kết quả tốt (bảng 8)
Bảng 8 Các trị số hóa học đất sau một năm canh tác ngô
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Kết quả về phân tích đất cho thấy các
chỉ tiêu theo dõi đều cho những biến động có
lợi Cụ thể: Ở công thức C, chỉ số pHKCl là
3,64 (không thay đổi nhiều so với đầu năm)
nhưng ở các công thức khác là 4,06 - 4,17,
tăng hơn 0,41 - 0,52 đơn vị so đối chứng
Một yếu tố hạn chế khác như nhôm di
động cũng được cải thiện rõ rệt Chỉ sau một
năm thử nghiệm, Al3+ di động giảm còn 4,68
me/100 g so với 7,39 me/100 g ở công thức
C, xuống dưới mức gây hại cho cây trồng
Đây là những biến động rất có lợi cho cây
ngô trên đất dốc Các chỉ tiêu so sánh về độ
phì đều tăng hoặc giảm có ý nghĩa ở tất cả
các công thức TBT và che phủ
Như vậy, vật liệu che phủ đã cải thiện
đáng kể tính chất hoá học của đất: Tăng độ
pH giảm chua, tăng hàm lượng mùn, tăng các chất dinh dưỡng, giảm các yếu tố hạn chế như Al di động gây độc cho cây trồng, tăng dung tích hấp thu của đất giúp tăng năng suất cây trồng và canh tác bền vững
7 Hiệu quả kinh tế của biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ
Việc tạo TBT trên đất quá dốc kết hợp che phủ để trồng ngô đã cho những kết quả tốt về các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của cây ngô, các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất thông qua khả năng giữ Nm đất, kiểm soát cỏ dại, chống xói mòn Do đó đã làm tăng năng suất cây trồng, tăng tổng sản lượng ngô của 3 vụ tại các công thức che phủ (bảng 9)
Trang 7Bảng 9 Sản lượng ngô hạt ở các công thức khác nhau trong 3 vụ
Đơn vị tính: Tạ/ha
Công thức/chỉ tiêu Sản lượng ngô 3 vụ (tạ/ha) Tăng/ giảm so ĐC (tạ/ha) Tăng/ giảm so ĐC (%)
Ghi chú: C - Đối chứng (như cách làm của nông dân); T1 - TBT, không che phủ; T2 - TBT, che phủ chết (xác hữu cơ); T3 - TBT, che phủ sống (đậu đen, lạc dại)
Ở công thức đối chứng (C) tổng sản
lượng ngô sau 3 vụ là 126,0 tạ/ha, thấp nhất
so với các công thức thí nghiệm khác
(141,7 - 165,6 tạ/ha) Do đó, hiệu quả kinh
tế cũng thấp hơn so với các công thức khác (bảng 10)
Bảng 10 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm
ĐVT: triệu đồng/ha
Ghi chú: Giá ngô: 5.000 VNĐ/kg; giá công: 40.000 VNĐ/công
- Giá trị đầu tư: Được tính bằng tổng
giá trị phân bón, giống cây trồng, thuốc trừ
sâu bệnh, vật liệu phủ và công lao động đã
đầu tư cho thí nghiệm
- Giá trị thu được: Giá trị ngô hạt của
từng công thức thí nghiệm
- Lãi thuần của các công thức thí
nghiệm: Kết quả nghiên cứu cho thấy biện
pháp tạo TBT và che phủ đã tỏ ra có hiệu
quả trong canh tác ngô trên đất dốc Trong
khi công thức đối chứng cho mức lãi thuần
là 13,250 triệu đồng/ha thì mức lãi thuần
của các công thức khác đều cao hơn
(20,870 - 32,640 triệu đồng/ha) và tỷ suất
lợi nhuận cũng cao hơn (41,8% - 65,1%) so
với 26,6% ở công thức đối chứng
Tóm lại, biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ trong canh tác ngô trên đất dốc đã mang lại hiệu quả kinh tế rất rõ rệt
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ N GHN
1 Kết luận
- Canh tác trên đất dốc ở Văn Chấn nói riêng và miền núi phía Bắc nói chung còn
có nhiều bất cập, kiểu canh tác truyền thống
đã làm xói mòn đất rất lớn (10,60 tấn/ha), cây trồng chủ yếu trong hệ thống trồng trọt
là cây lương thực ngắn ngày và hệ số sử dụng đất cao nên đã gây suy thoái đất nghiêm trọng
- Canh tác ngô trên đất dốc với biện pháp tạo TBT kết hợp che phủ có tác dụng
Trang 8tích cực đối với sinh trưởng phát triển của
ngô (tăng chiều cao cây từ 8,4 cm (đối
chứng) lên 11,3 cm và 13,3 cm (TBT và
che phủ đất)), đồng thời khắc phục được
các yếu tố hạn chế của đất dốc và tăng năng
suất ngô từ 14,1% đến 31,8% so với đối
chứng
- Che phủ đất bằng xác hữu cơ là một
biện pháp canh tác trên đất dốc hiệu quả,
tăng thu nhập cho người dân từ 20,870
triệu đồng/ha đối với biện pháp tạo TBT
và 32,640 triệu đồng/ha đối với biện pháp
tạo TBT kết hợp che phủ Đồng thời giảm
nhẹ gánh nặng cho phụ nữ và trẻ em khỏi
những lao động nặng nhọc như làm đất,
làm cỏ (giảm 25% - 91,7% công làm cỏ so
với đối chứng); góp phần cải thiện đời
sống nông dân vùng cao mà vẫn bảo tồn
được tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường
2 Đề nghị
- Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của
các phương thức che phủ đất trong canh tác
đất dốc bền vững Đồng thời cũng nghiên
cứu lợi thế so sánh của che phủ đất và làm
bậc thang trên những vùng đất có độ dốc
vừa phải (150)
- N ghiên cứu liên tục trong nhiều năm
để xác định những tác động khác của che
phủ đất đến sâu bệnh hại, hệ sinh vật và vi
sinh vật đất có tác động đến cây trồng và
môi trường như thế nào trong thời gian che
phủ lâu dài
- Tuy còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu
cải tiến cho phù hợp nhưng trước mắt cần
phải chấm dứt việc đốt tàn dư thực vật và
áp dụng các biện pháp tạo TBT trên đất quá
dốc (> 250) để giữ đất và hoàn trả lại lượng
hữu cơ và dinh dưỡng cho đất để ổn định và
nâng cao năng suất cây trồng trên đất dốc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Quốc Doanh, @guyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn, 2003 Nông nghiệp vùng
cao: Thực trạng và giải pháp NXB Nông nghiệp
2 Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005 Canh tác đất dốc bền
vững NXB Nông nghiệp
3 Bùi Huy Hiền, 2003 Đất miền núi: Tình
hình sử dụng, tình trạng xói mòn, suy thoái và các biện pháp bảo vệ và cải thiện độ phì Trong: Nông nghiệp vùng cao: Thực trạng và giải pháp NXB Nông nghiệp
4 Thái Phiên, @guyễn Tử Siêm, 2000 Tác
động của kỹ thuật sinh học tới bảo vệ đất dốc Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Quyển 1 NXB Nông nghiệp
5 Thái Phiên, @guyễn Tử Siêm, 2002 Sử
dụng bền vững đất miền núi và vùng cao ở Việt Nam NXB Nông nghiệp
6 Lê Văn Tiềm, Lê Quốc Doanh, 2000
Thay đổi hệ số canh tác và cơ cấu cây trồng trên nương rẫy đất dốc Tạp chí Khoa học đất, Hà Nội
7 Erangelista P P., Urriza G I P etc,
1999 Effect of organic matter, lime and phosphorus fertilizers on acid upland soil ACIAR project 9414 annual report, Philippines
8 Gaur A.C and Singh G., 1992 The role
of integrated plant nutrition systems in sustainable an environmentally sound agricultural development in India Report of the expert consultation of the ASIA network on bio - organic fertilizers Serdang, Malaysia
Tgười phản biện: Tguyễn Văn Viết