1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đề tài nghiên cứu thành phần, mật độ, phân bố muỗi Anopheles tại các ổ bệnh sốt rét

41 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về phân bố, thành phần loài và mật độ muỗi Anopheles trước và sau trồng cây cao su 8 năm (2009-2016) tại 3 xã huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
Trường học Trường Đại Học Tây Bắc
Chuyên ngành Khoa học Y Dược
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2016
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 599,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ PAGE 40 ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng sốt rét gây nên, truyền từ người bệnh sang người lành nhờ muỗi Anopheles Sốt rét luôn là mối đe dọa đến sức khỏe, tính m.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng sốt rét gây nên,

truyền từ người bệnh sang người lành nhờ muỗi Anopheles Sốt rét luôn là

mối đe dọa đến sức khỏe, tính mạng và đời sống của con người Hàng nămtrên thế giới có hàng trăm triệu người mắc và hàng trăm ngàn người chết vìsốt rét Sốt rét đã và đang gây tác hại lớn ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triểnkinh tế xã hội của nhiều nước trên thế giới

Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 90, hàng năm cả nước cótrên một triệu người mắc sốt rét, hàng nghìn người chết và hàng trăm vụ dịchsốt rét xảy ra Bằng những nỗ lực của ngành y tế và của cả cộng đồng trongviệc tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống sốt rét (PCSR), tình hìnhsốt rét đã được cải thiện rõ rệt Đến nay tình hình bệnh sốt rét đã giảm rõ rệt,hàng năm cả nước có khoảng vài trăm nghìn người mắc, vài ca tử vong,không có dịch sốt rét xảy ra trên phạm vi lớn

Để duy trì được những thành quả này và tiến tới loại trừ bệnh sốt rét ở ViệtNam thì một trong những việc cần thiết là liên tục nghiên cứu, theo dõi sự

biến động của muỗi Anopheles ở thực địa nhằm đề ra các biện pháp phòng

chống muỗi hợp lý và bền vững

Để thực hiện chính sách trồng rừng và bảo vệ rừng, huyện Mường Chà đãtrồng cây cao su từ năm 2009, đây là một loại cây công nghiệp có giá trị, gópphần cải thiện mức sống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ítngười ở các vùng sốt rét lưu hành, thực hiện chương trình “xóa đói, giảmnghèo” có hiệu quả Bên cạnh lợi ích kinh tế, sự phục hồi của loại rừng thứsinh này có thể dẫn đến sự thay đổi khí hậu môi trường, ảnh hưởng đến sự

phát sinh, phát triển của các quần thể sinh vật, trong đó có muỗi Anopheles và

Trang 2

vectơ truyền bệnh, duy trì sự tồn tại bệnh sốt rét ảnh hưởng đến sức khỏe củacộng đồng.

Tại tỉnh Điện Biên công tác phòng chống và điều tra muỗi Anopheles rất được chú trọng nhưng chưa có đề tài nghiên cứu về muỗi Anopheles ở vùng

trồng rừng cao su vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu về phân bố,

thành phần loài và mật độ muỗi Anopheles trước và sau trồng cây cao su

8 năm (2009-2016) tại 3 xã huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên” với 2 mục

tiêu:

1 Mô tả về phân bố, thành phần loài và mật độ muỗi Anopheles năm 2016

tại 3 xã trồng cây cao su của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

2 So sánh sự thay đổi về phân bố, thành phần loài và mật độ muỗi

Anopheles trước và sau khi trồng cao su tại 3 xã của huyện Mường Chà, tỉnh

Điện Biên

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Vài nét về tình hình bệnh sốt rét

Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với con người, do

một số loài ký sinh trùng thuộc giống Plasmodium gây ra, mỗi năm trên thế

giới có hàng trăm triệu người mắc và hàng trăm nghìn người chết do sốt rét

Ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) được truyền từ người bệnh sang người lành

qua các loài muỗi thuộc giống Anopheles, các loài muỗi này được gọi là vector truyền bệnh sốt rét.

Việt Nam là một quốc gia có chương trình phòng chống sốt rét tương đốithành công, từ năm 1991 chương trình PCSR bắt đầu được thực hiện, bắtnguồn từ chương trình “Tiêu diệt sốt rét”, “Thanh toán sốt rét” chuyển sang

“Phòng chống sốt rét” và đã đạt được một số kết quả rõ rệt: Năm 2015 sốbệnh nhân sốt rét (BNSR) giảm 97,0%, KSTSR giảm 95,7% và tử vong do sốtrét giảm 99,5% so với năm 1991

Để đạt được những kết quả trên, việc lựa chọn, áp dụng các biện pháp

phòng chống vector sốt rét phù hợp, hiệu quả là một trong các biện pháp góp

phần quan trọng cho các thành công của chương trình PCSR ở Việt Nam nóichung và tại tỉnh Điện Biên nói riêng

1.2 Tổng quan về muỗi Anopheles

1.2.1 Muỗi Anopheles và vai trò của loài vector chính truyền bệnh sốt rét

Năm 1897 Ronal Ross, một bác sỹ quân đội người Anh đã khám phá ra

noãn bào (Occyte) trong cơ thể muỗi tại Ấn Độ Đến năm 1898 ông mới xác định được muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét ở người Năm

1898 Grassi, Bignami, Bastianelli thí nghiệm toàn bộ chu kỳ phát triển của

KSTSR trên cơ thể muỗi và người, khẳng định Anopheles là trung gian truyền

bệnh sốt rét[4]

Trang 4

Giống muỗi Anopheles thuộc phân họ Anophelinae, họ Culicidae, phân bộ Nematocera (Râu dài), bộ Diptera (Hai cánh) Trên thế giới đã xác định được khoảng 420 loài muỗi thuộc giống muỗi Anopheles, trong đó có khoảng 70 loài là vector truyền bệnh sốt rét cho người trong tự nhiên[3].

Để xác định 1 loài muỗi Anopheles có phải là vector truyền bệnh hay

không thì cần có các điều kiện sau: có thoa trùng ở tuyến nước bọt, ưa hútmáu người, tần xuất đốt người cao, tuổi thọ đủ dài và có mật độ cao ở mùa sốtrét[3]

Ở mỗi vùng, mỗi đất nước lại có các loại truyền bệnh sốt rét chính khác

nhau, ở Việt Nam cho đến nay đã xác định được 59 loài Anopheles, trong đó

có 3 loài truyền bệnh chính (được gọi là vector chính truyền bệnh sốt rét) là An.minimus, An.dirus, An.epiroticus Trong đó, An.minimus là vector chính

truyền bệnh sốt rét khu vực rừng núi trong cả nước (trong đó bao gồm cả tỉnh

Điện Biên), An.dirus chủ yếu ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, An.epiroticus ở khu vực ven biển nước lợ[3] Tại một địa phương khi xác định

có vector chính truyền bệnh sốt rét thì luôn phải đề phòng nguy cơ xảy ra dịch

sốt rét

Việc xác định sự có mặt hay không của vector chính ở một địa phương có

ý nghĩa rất lớn với công tác PCSR ở địa phương đó, nó là một trong các cơ sở

để phân vùng dịch tễ bệnh sốt rét từ đó quyết định đến các biện pháp phòng

chống muỗi Anopheles được áp dụng ở địa phương Việc phân vùng dịch tễ

bệnh sốt rét sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các biện pháp PCSR phù hợp vớitừng địa phương Hiện tại, Việt Nam đang áp dụng cách phân vùng dịch tễsốt rét thành 5 vùng, có nhiều căn cứ để phân vùng dịch tễ sốt rét như: Yếu tố

về địa lý, chỉ số bệnh nhân sốt rét, tỷ lệ KSTSR, chỉ số về muỗi Anopheles… Trong đó, chỉ số về muỗi Anopheles và chỉ định dùng hóa chất diệt muỗi tương ứng như sau:

Trang 5

- Vùng không có sốt rét lưu hành: Không có vector chính truyền bệnh sốt

rét Tẩm màn bằng hóa chất diệt muỗi cho những người đi vào vùng sốt rétlưu hành[9]

- Vùng nguy cơ sốt rét quay trở lại: Trước đây đã xác định được vector

chính truyền bệnh sốt rét nhưng trong 5 năm liên tục trở lại đây chưa phát

hiện được vector chính Tẩm màn bằng hóa chất diệt muỗi cho những người

đi vào vùng sốt rét lưu hành, khi xuất hiện ký sinh trùng nội địa thì tẩm màncho nhân dân trong xã nếu nhân dân có thói quen ngủ màn cao trên 80%, nếudân không có thói quen ngủ màn thì phải phun tồn lưu hóa chất diệt muỗi lêntường vách[9]

- Vùng sốt rét lưu hành nhẹ: Bắt được vector chính truyền sốt rét Chỉ tẩm

màn bằng hóa chất diệt muỗi cho nhân dân những nơi giáp ranh với vùng sốtrét lưu hành vừa và nhẹ[9]

- Vùng sốt rét lưu hành vừa: Bắt được vector chính truyền bệnh sốt rét với

mật độ vừa (5-10 con/người/đêm) Vùng này, cần tẩm màn bằng hóa chất, nếunhân dân có tỷ lệ ngủ màn dưới 80% thì phải phun tồn lưu hóa chất diệt muỗilên tường vách[9]

- Vùng sốt rét lưu hành nặng: bắt được vector chính truyền bệnh sốt rét

với mật độ cao (trên 10 con/người/đêm), bắt được cả trong nhà và ngoài nhà.Những vùng này cần tẩm màn với hóa chất diệt muỗi Ưu tiên phun tồn lưu ởnhững nơi có điểm nóng (nguy cơ xảy dịch), phun tồn lưu những vùng tỷ lệnằm màn dưới 80%[9]

Khi nghiên cứu về quần thể các loài Anopheles ở một địa phương, ta cần

chú trọng đến 3 yếu tố quan trọng nhất đó là: thành phần loài, mật độ, phân bốcác loài giữa các khu vực trong địa bàn Căn cứ vào 3 yếu tố này và kết hợpvới các thông tin thu được khi ta bắt muỗi bằng các phương pháp khác nhau

để đưa ra các biện pháp phòng chống muỗi hiệu quả, phù hợp với từng địaphương Thành phần loài cho ta biết về sự phong phú các loài có mặt tại địa

Trang 6

phương, trong đó có vector chính truyền bệnh sốt rét hay không, nếu thành

phần loài đa dạng (có mặt nhiều loài Anopheles) thì các loài muỗi sẽ có xu

hướng cạnh tranh nhau về vật chủ hút máu, nếu địa phương không nuôi nhiềutrâu bò thì các loài này sẽ có xu hướng hút máu người Bên cạnh đó thànhphần loài thường ít biến động và luôn gắn kết chặt chẽ với điều kiện môitrường tự nhiên tại địa phương, khi thành phần loài tăng hoặc giảm thì thường

là địa phương đã có biến động lâu dài về môi trường lúc đó ta cần xác địnhnguồn gốc biến động môi trường để có thể điều chỉnh thích hợp Mật độ loài

phản ánh sự xuất hiện nhiều hay ít của một loài Anopheles cụ thể, khi một loài xuất hiện với mật độ cao nhất là với vector chính thì nguy cơ xảy ra dịch rất lớn, mật độ các loài Anopheles thường biến động theo chu kỳ các mùa trong

năm, tăng cao vào đầu và cuối mùa mưa (giữa mùa mưa thì tốc độ chảy củacác dòng nước cao, làm cuốn trôi trứng và bọ gậy của các loài muỗi) chính vìvậy mà ở Điện Biên thường tiến hành phun, tẩm hóa chất diệt muỗi vào đầumùa mưa Tại một địa phương, nếu mật độ muỗi tăng cao bất thường thìthường nguyên nhân là do những biến động nhất thời về môi trường như vệsinh môi trường kém, sự tăng đột biến về thức ăn và nơi sinh sản của muỗi, tacũng phải tìm nguyên nhân để có biện pháp làm giảm mật độ muỗi Phân bốcủa một loài muỗi ta hiểu là sự có mặt của loài muỗi đó ở một khu vực nhấtđịnh mà không có hoặc có ít ở khu vực khác, sự phân bố muỗi thường ổnđịnh, do nó liên quan đến tính thích nghi với môi trường của mỗi loài muỗi, ví

dụ như loài An.epiroticus chỉ có mặt ở khu vực ven biển nước lợ, do bọ gậy

của loài này chỉ sống được trong nước lợ, chúng đòi hỏi phải có một nồng độmuối nhất định trong nước, một ví dụ khác về phân bố muỗi liên quan đến

thích nghi là các loài muỗi Anopheles thường không sống ở vùng có độ cao so

với mức nước biển trên 2.500m[4] Khi một loài muỗi mở rộng phân bốthường là do môi trường sống có biến động đã lâu dài, biến động này phù hợpvới đặc tính sinh trưởng của muỗi

Trang 7

1.2.2 Hình thể và phân biệt muỗi Anopheles

1.2.2.1 Hình thể ngoài muỗi cái Anopheles

Hình 1.1 Hình thể ngoài muỗi cái Anopheles

Hình thể chung của các loài muỗi thuộc giống Anopheles là giống nhau,

tuy nhiên ở mỗi loài muỗi sẽ có sự khác nhau về phân bố vẩy đen, vẩy trắng

và phân bố lông ở mỗi bộ phận trên cơ thể, đây là đặc điểm giúp định loại

muỗi Anopheles.

Cơ thể muỗi Anopheles được chia làm 3 phần đầu, ngực, bụng Toàn

thân muỗi được bao phủ bởi các vẩy đen trắng và các lông Đầu có hai râu,hai mắt kép, hai pan và một vòi Thân muỗi có ba đôi chân, chia làm ba đoạn

Trang 8

chính là đùi, cẳng chân, bàn chân Mỗi bàn chân muỗi có năm đốt bàn đượcđánh số từ một đến năm Trên thân muỗi có một đôi cánh, bụng có bảy đốt.

1.2.2.2 Phân biệt muỗi Anopheles cái với Anopheles đực

Hình 1.2 Hình thể muỗi Anopheles đực

Bởi vì chỉ muỗi Anopheles cái mới hút máu và truyền bệnh sốt rét nên việc phân biệt muỗi Anopheles đực và cái trước khi bắt là rất quan trọng Có thể phân biệt muỗi Anopheles đực và cái bằng mắt thường qua hai đặc điểm sau: Pan muỗi đực dài hơn vòi và đầu pan phình to hình chùy, trong khi ở muỗi cái pan dài bằng vòi và pan thuôn đều, không phình to; râu muỗi đực có

những lông rất dài vì thế nhìn râu muỗi đực rất rậm

1.2.2.3 Phân biệt muỗi cái Anopheles với muỗi cái Culicinae

Hình 1.3 Phân biệt muỗi Anopheles và muỗi Culicinae

Trang 9

Ta có thể phân biệt muỗi Anopheles và muỗi Culicinae qua các đặc điểm sau: Pan của muỗi Anopheles dài bằng vòi, pan của muỗi Culicinae ngắn hơn vòi; khi đậu thân muỗi Anopheles chếch 450-900 so với bề mặt đậu trong

khi thân muỗi Culicinae ngang với bề mặt đậu.

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của muỗi Anopheles

Sốt rét được truyền cho người bởi muỗi Anopheles cái, muỗi đực chủ yếu

hút nhựa cây và nhụy hoa do đó không thể truyền bệnh Vòng đời của muỗi

có 4 giai đoạn (Trứng, bọ gậy, quăng, muỗi trưởng thành) chỉ có muỗi trưởngthành là sống trên cạn, khoảng từ 2-3 ngày muỗi cái lại hút máu 1 lần, điềunày cần thiết cho sự phát triển của trứng và bình thường trứng được đẻ trướckhi muỗi hút máu lần tiếp theo Thời gian cần thiết cho sự tiêu máu và pháttriển của trứng thay đổi theo nhiệt độ và độ ẩm của không khí Trứng được

muỗi Anopheles cái đẻ xuống nước, mỗi lứa từ 100 đến 150 trứng, nơi đẻ có

thể là những ổ nước nhỏ như là vỏ đồ hộp, gáo dừa, vết chân… hoặc nhữngthủy vực rộng hơn như suối, kênh mương, song, ao, hồ… Mỗi loài chọn một

kiểu mặt nước đặc trưng để đẻ trứng, đối với muỗi An.minimus, chúng thường

chọn nơi đẻ trứng là những dòng nước trong, chảy chậm, ánh sáng vừa phải,tỉnh Điện Biên là một trong những vùng có điều kiện thích hợp cho muỗi

An.minimus phát triển Mỗi con muỗi cái thường đẻ từ 1-3 lứa, tối đa 7 lứa.

trong điều kiện tốt nhất tuổi thọ trung bình của muỗi cái khoảng 2-3 tuần Sau2-3 ngày trứng nở thành bọ gậy, chúng thường sống ngay sát mặt nước (vìchúng cần thở không khí) và lấy thức ăn từ nước Thời kỳ bọ gậy được chialàm 4 giai đoạn (từ tuổi 1 đến tuổi 4), thời gian phát triển của mỗi giai đoạnphụ thuộc vào nhiều yếu tố kể cả nhiệt độ của nước, nước ấm thì thời gianphát triển ngắn hơn là nước mát, nếu điều kiện thuận lợi thời kỳ này kéo dàikhoảng 8 – 10 ngày, cuối tuổi 4 bọ gậy sẽ phát triển thành quăng Giai đoạnquăng kéo dài 2-3 ngày ở nhiệt độ nhiệt đới, những biến đổi quan trọng xảy ra

và cơ thể vũ hóa biến đổi thành muỗi trưởng thành có khả năng bay Quăng có

Trang 10

dạng dấu phẩy, sống trên mặt nước, bơi khi bị khuấy động nhưng chúngkhông dinh dưỡng, khi phần vỏ tiếp nối giữa đầu và ngực nứt đôi ở phía lưng,

muỗi trưởng thành sẽ chui ra và bay đi Muỗi Anopheles khả năng bay 2-3km

để đốt mồi, nếu thuận gió muỗi Anopheles có thể bay 30km [4].

Hình 2: Vòng đời của muỗi Anopheles

Sau đó giao phối nhanh chóng diễn ra, muỗi cái chỉ giao phối một lần, và

bình thường nó hút máu lần đầu sau giao phối hầu hết muỗi Anopheles đốt

mồi vào ban đêm, một số đốt mồi vào lúc hoàng hôn và một số loài khác đốtmồi lúc nửa đêm Một số vào nhà đốt mồi trong khi đó một số loài thường đốtngoài nhà Sau khi đốt mồi chúng thường có một khoảng nghỉ ngơi ngắn,muỗi đốt trong nhà thường trú đậu trên tường vách, phía dưới các trang bị nhưgiường, tủ … và trên quần áo treo trong nhà, muỗi đốt ngoài nhà có thể trúđậu trên cây, trong các hốc đất tối hoặc những nơi tối, mát khác Sự sống và

khả năng lan truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles còn phụ thuộc vào các

nhân tố mùa vụ như nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm [8]

1.2.4 Công tác điều tra muỗi Anopheles

Công tác điều tra muỗi Anopheles bao gồm các công đoạn: Thu thập muỗi

(bắt muỗi) ở thực địa; bảo quản giữ cho muỗi sống (tùy mục đích của cuộcđiều tra) và vận chuyển muỗi về phòng thí nghiệm; định loại muỗi tại phòngthí nghiệm; mổ muỗi (để tìm thoa trùng sốt rét trong tuyến nước bọt và xácđịnh số lần đã đẻ trứng qua hình dạng buồng trứng) hoặc làm tiêu bản muỗi

Trang 11

Công tác điều tra côn trùng cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ cho việcphòng chống muỗi truyền bệnh sốt rét và phân vùng dịch tễ sốt rét

1.2.4.1 Công tác thu thập, bảo quản và vận chuyển muỗi Anopheles

về phòng thí nghiệm

Một trong những hoạt động chính của công tác côn trùng là thu thập muỗi

ở thực địa Muỗi trưởng thành thu thập được giúp ta xác định những loài nào

có mặt ở các địa phương khác nhau và mật độ tương đối của chúng, nhằmđánh giá những tác động của các biện pháp phòng chống, tác động của môitrường hoặc biến động theo mùa vụ

Có nhiều phương pháp để thu thập muỗi như: Bắt muỗi ở chuồng gia súcban đêm, bắt muỗi ở trong nhà ban đêm hoặc ban ngày, mồi người trong nhàhoặc ngoài nhà, bẫy muỗi ban đêm ở trong nhà hoặc ngoài nhà Mỗi phươngpháp cho ta những thông tin khác nhau:

Bắt muỗi bằng mồi người trong nhà ban đêm: Cung cấp cho ta những

thông tin: Những loài muỗi ưa đốt người, mật độ các loài này, thời gian đốtngười, vai trò truyền bệnh của các loài muỗi, đồng thời cung cấp các thông tinliên quan đến hiệu quả của các biện pháp phòng chống muỗi, vì vậy thông tinthu được từ mồi người bắt muỗi ban đêm rất cần thiết cho việc lựa chọn biệnpháp phòng chống vector hiệu quả

Bắt muỗi chuồng gia súc ban đêm: Phương pháp điều tra này giúp ta thu

được các thông tin về những loài thích đốt máu gia súc, thành phần loài cómặt tại địa phương (do đây là phương pháp thu thập được nhiều loài muỗinhất)

Bắt muỗi bằng bẫy đèn trong nhà ban đêm: Cho ta thông tin về thành

phần loài, xác định những loài ưa đốt máu người trong nhà, đánh giá hiệu quảcủa phương pháp phòng chống vector

Soi bắt muỗi trong nhà ban ngày: Phương pháp điều tra muỗi này giúp

ta xác định: những loài muỗi có tập tính trú đậu trong nhà ban ngày, mật độ

Trang 12

các loài muỗi trú đậu trong nhà, loại vật liệu làm tường vách mà muỗi thíchđậu, vị trí, độ cao tường vách muỗi thường đậu.

Có nhiều kỹ thuật bắt muỗi khác nhau như bắt muỗi bằng ống nghiệm, bắtmuỗi bằng máy hút muỗi…

Kỹ thuật bắt muỗi bằng ống thử nghiệm là kỹ thuật bắt muỗi thường dùngnhất vì phương tiện rẻ tiền và kỹ thuật đơn giản, áp dụng được cho mọiphương pháp điều tra muỗi

Dụng cụ bắt muỗi bằng ống thử nghiệm bao gồm: Ống thử nghiệm, bông(bông thường hoặc bông không thấm nước), đèn pin cầm tay, giấy và bút đểghi chép

Ống thử nghiệm là một ống tuýp làm bằng thủy tinh, hình trụ rỗng, bề dàykhoảng 1mm, đường kính 1-1,5cm, dài 20cm, thủng hai đầu, trước khi dùng

để bắt muỗi thì phải đút một cục bông nhỏ vào giữa ống để làm vách ngăn,chia ống nghiệm thành hai ngăn, mỗi khi bắt được một con muỗi thì đút thêmmột cục bông nhỏ để nhốt muỗi giữa hai cục bông

Kỹ thuật bắt muỗi bằng ống thử nghiệm: Một tay cầm đèn pin soi, một tay

cầm ồng nghiệm, khi thấy muỗi Anopheles ( muỗi Anopheles có tư thế đậu

chếch 450-900 so với bề mặt đậu) thì nhẹ nhàng úp miệng ống thử nghiệm lênmuỗi, khi thấy động muỗi sẽ bay thẳng vào trong ống nghiệm, lúc này tanhanh tay nhấc ống nghiệm ra đồng thời bịt miệng ống nghiệm bằng ngón taytrỏ hoặc ngón cái của bàn tay cầm ồng nghiệm, bỏ đèn pin ra và lấy một cụcbông nhỏ nút miệng ống nghiệm lại thay cho ngón tay giữ miệng ống, đẩy sâucục bông lại làm thành một ngăn nhốt muỗi dài khoảng 2cm, như vậy bằngcách này một ống nghiệm có thể tạo được nhiều ngăn nhốt muỗi

Tại mỗi điểm bắt muỗi, ta cho tất cả ống tuýp chứa muỗi vào một túi đựng

và ghi chép phiếu điều tra cho vào trong túi đựng, các thông tin cần ghi như:địa phương bắt muỗi, ngày, thời gian thu thập muỗi, phương pháp thu thập

Trang 13

muỗi (mồi người trong nhà đêm, bẫy đèn trong nhà đêm, soi chuồng gia súc,soi trong nhà ngày), tên người bắt muỗi.

Nếu cần giữ cho muỗi sống để mang về phòng thí nghiệm mổ muỗi, cắmtiêu bản (vì nếu muỗi chết thì chúng bị khô và giòn, sẽ không thể mổ hay cắmtiêu bản được), thì ngay sau khi bắt và mang muỗi về điểm tập kết phải nhốtmuỗi vào cốc chứa (là những cốc nhựa như cốc uống nước, miệng cốc đượcbịt vải màn để muỗi không bay ra), dùng bông nhúng vào dung dịch

glucose5% , vắt nhẹ bông cho ráo nước đường và đặt mẩu bông lên miếng vải

màn ở miệng cốc để muỗi hút, như vậy chúng sẽ không bị chết vì đói Sau đócần đặt các cốc chứa muỗi vào một khay đủ rộng, có chứa một ít nước sạch đểkiến không bò lên tha các cục bông tẩm nước đường Trên mỗi cốc này cầnghi đầy đủ thông tin về địa điểm, thời gian và phương pháp bắt muỗi

1.2.4.2 Công tác định loại muỗi Anopheles

Việc định loại muỗi là công việc vô cùng quan trọng, đòi hỏi sự tỉ mỉ,

chính xác của cán bộ côn trùng Vì giống muỗi Anopheles có 420 loài và

không phải loài nào cũng có khả năng truyền bệnh sốt rét Việc định loại sẽgiúp ta biết loài nào đang có mặt tại địa phương, kết quả định loại kết hợp vớiviệc mổ muỗi tìm thoa trùng sốt rét trong tuyến nước bọt sẽ giúp ta kết luậnloài muỗi đó có khả năng truyền bệnh sốt rét hay không

Sau khi mang muỗi về phòng thí nghiệm, cán bộ côn trùng sẽ dùng kínhlúp phóng đại 10 lần, 20 lần hoặc 40 lần để soi từng đặc điểm của từng conmuỗi, so sánh với bảng định loại do Viện sốt rét trung ương cung cấp để biết

con muỗi Anopheles đó thuộc loài gì Khi đã xác định được loài muỗi thì ghi

vào sổ định loại ghi đầy đủ các thông tin: Nơi bắt, thời gian bắt, phương phápđiều tra, tên cán bộ điều tra, tên cán bộ định loại, số lượng muỗi của từng loài

1.2.5 Kỹ thuật mổ tuyến nước bọt muỗi Anopheles tìm thoa trùng sốt rét

Trang 14

Dụng cụ cần thiết: Muỗi còn sống, kính mổ muỗi, kính hiển vi, lam

kính, tấm đậy phiến kính (lamen), kim mổ muỗi, nước muối sinh lý 0.9%, dung dịch Cloroform, giấy bút để ghi kết quả mổ muỗi.

Kỹ thuật: Sau khi đã giết muỗi bằng Cloroform, định loại muỗi và cắt

bỏ toàn bộ chân, cánh muỗi Nhìn qua kính mổ muỗi ta đặt lên một phiếnkính khô, dùng kim mổ muỗi tách phần ngực và phần bụng muỗi, chuyểnphần đầu và ngực sang chỗ có giọt nước muối sinh lý đã đặt sẵn trên mộtphiến kính khác Giữ ngực muỗi bằng kim bên tay trái, dùng kim bên tay phảitách phần đầu ở vùng cổ và kéo nhẹ về phía bên phải, thường thường tuyếnnước bọt sẽ lộ ra dưới dạng mô gắn liền với đầu, có thể nhận biết nó bởi hìnhdạng 3 thùy và bóng, tách trọn vẹn 2 tuyến nước bọt (6 thùy) Nếu tuyến nướcbọt không lộ ra dưới dạng mô gắn liền với đầu thì ta ấn nhẹ vào phần ngựcmuỗi để ép tuyến nước bọt ra Tuyến nước bọt của muỗi rất nhỏ, đòi hỏi thaotác của kỹ thuật viên phải nhẹ nhàng và khéo léo, tránh run tay để không làmbật tuyến nước bọt của muỗi ra khỏi lam kính Sau khi tách được tuyến nướcbọt của muỗi ra, tiến hành gạt bỏ các mảnh vụn, để lại tuyến nước bọt, cho

thêm nước muối sinh lý, đậy tấm lamen lên, ép nhẹ tấm lamen để phá vỡ

tuyến nước bọt, nếu trong tuyến nước bọt có thoa trùng thì chúng sẽ bị đẩy ra.Tìm thoa trùng dưới kính hiển vi có độ phóng đại lớn, thoa trùng có dạng hìnhthoi, mảnh, khúc xạ ánh sáng, đôi khi chúng chuyển động ngọ nguậy chậm.việc tìm thấy thoa trùng sốt rét trong tuyến nước bọt là một trong những yếu

tố chính để kết luận loài muỗi đó là vector truyền bệnh sốt rét

Sau khi đã hoàn tất việc mổ muỗi, cán bộ mổ muỗi cần ghi chép vào sổcác thông tin về tên loài muỗi, địa điểm bắt muỗi, thời gian bắt, phương phápbắt, tên người bắt, thời gian mổ, tên người mổ, kết quả mổ muỗi

Trang 15

1.3 Công tác phòng chống muỗi Anopheles tại tỉnh Điện Biên từ năm

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015 Phun tồn

Nhận xét: Trong 7 năm (từ 2009 đến 2015) tỉnh Điện Biên đã bảo vệ cho566.059 lượt người bằng biện pháp phun tồn lưu hóa chất diệt muỗi, bảo vệcho 736.692 lượt người bằng biện pháp tẩm màn bằng hóa chất diệt muỗi, cấp20.000 chiếc màn đơn, 139.890 chiếc màn đôi và 4.700 màn võng cho nhândân trong tỉnh

Trang 16

Bảng 1.2 Kết quả công tác điều tra muỗi Anopheles của tỉnh Điện Biên

Năm

Chỉ số

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Qua 192 lượt điều tra tại tỉnh Điện Biên đã thu thập được 12.392 mẫu

muỗi Anopheles thuộc 13 loài Trong đó đã thu thập được vector chính truyền bệnh sốt rét là An.minimus.

1.4 Một số thông tin chung về cây cao su

Cao su là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae)

và là loài có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea.

Nhựa mủ dùng để sản xuất cao su tự nhiên là chủ yếu, bên cạnh việcsản xuất mủ dạng nước

Gỗ từ cây cao su được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ Nó được đánh giácao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoànthiện khác nhau Nó cũng được đánh giá như là loại gỗ "thân thiện môitrường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trìnhsản sinh nhựa mủ

Trang 17

Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang mộthạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 02 cm, có hàm lượng dầu đáng kểđược dùng trong kỹ nghệ pha sơn.

Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủbằng cách tạo các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phảisao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triểncủa cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ, quá trình này gọi

là cạo mủ cao su Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm Rừng cao su là loại rừngthứ sinh, tác dụng tốt đối với môi trường, giúp chống sói mòn đất, điều hòanhiệt độ, độ ẩm không khí…Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình

sống của các loài muỗi nói chung, trong đó có muỗi Anopheles.

Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến

30 °C (tốt nhất ở 26 °C đến 28 °C), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm)nhưng không chịu được sự úng nước và gió Cây cao su có thể chịu đượcnắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm

Cây cao su là một loại cây độc, mủ của cây là một loại chất độc có thể gây

ô nhiễm nguồn nước khu vực rừng đang khai thác, nó còn làm ảnh hưởng đếnsức khỏe người khai thác nó Tuổi thọ của người khai thác mủ cao su thườnggiảm từ 3 đến 5 năm nếu làm việc trong khoảng thời gian dài

Cây cao su còn độc ngay cả trong việc trao đổi khí ngay cả ban ngày vàban đêm Không bao giờ xây dựng nhà để ở gần rừng cao su, khả năng hiếmkhí xảy rất cao

1.5 Vài nét về nghiên cứu muỗi Anopheles ở vùng trồng rừng cao su

Nghiên cứu của Trần Trung Hòa và cộng tác viên khảo sát ở Công ty

cao su Đồng Nai (1988-1999) đã xác định được 15 loài Anopheles, trong đó An.dius chiếm tỷ lệ 1,33% [2].

Trang 18

Một nghiên cứu khác ở Nông trường cao su Thanh niên, huyện PhướcLong, Bình Phước xác định được 13 loài và 2 vector truyền bệnh chính

An.minimus và An.dirus đều có mặt với mật độ cao[1].

Nghiên cứu ở Thừa Thiên Huế của Võ Đại Phú (2011) cho thấy thành

phần loài muỗi Anopheles ở vùng trồng cao su khá phong phú (20 loài), ở rừng cao su đã khép tán số lượng, mật độ muỗi Anopheles có xu hướng tăng cao hơn so với thời điểm mới trồng tuy vậy chưa tìm thấy An.dirus, có An.minimus nhưng mật độ thấp [7].

Nguyễn Đức Mạnh và nhiều cộng sự từ năm 1999 – 2002 đã tiến hànhnghiên cứu đánh giá tác động của môi trường trồng rừng đến vector sốt rét vàphòng chống sốt rét tai Lào Cai và Sơn La đã phát hiện 11-14 loài muỗi

Anopheles, nhận thấy rằng An.minimus vùng rừng đang khép tán có mật độ

cao hơn vùng rừng mới trồng, có sự liên quan mật thiết giữa sinh cảnh rừng

với sự phân bố của muỗi Anopheles và vector sốt rét [5].

Trang 19

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Muỗi Anopheles tại 3 xã Mường Mươn, Na Sang, Sa Lông có trồng cây

cao su ở huyện Mường Chà

- Vật liệu nghiên cứu: Sổ sách báo cáo về công tác phòng chống muỗi

Anopheles của Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùngtỉnh Điện Biên

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã có rừng cao su là: Na Sang, MườngMươn, Sa Lông thuộc huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên

Mường Chà là một huyện vùng cao biên giới nằm phía tây bắc của tỉnhĐiện Biên Huyện có 12 xã và thị trấn, dân số năm 2015 là trên 60.000 người,huyện có 13 dân tộc, 60% là dân tộc H’mông Tổng diện tích tự nhiên củahuyện Mường Chà là 1.177,17 km2 Trong đó đất lâm nghiệp: 527,372 km2,chiếm 44,8% Kiểu địa hình của huyện Mường Chà chủ yếu là núi trung bình

và núi cao có độ cao tuyệt đối so với mực nước biển trung bình từ 500m 1.800m Địa hình chia cắt phức tạp do có nhiều núi cao và khe sâu tạo thành Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, năm có 2 mùa rõ rệt.Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, nóng, ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 10đến tháng 3 năm sau, khí hậu lạnh và khô hanh Nhiệt độ bình quân năm từ

-220 đến 250 C Lượng mưa bình quân năm từ: 1.600 - 2.000 mm Độ ẩmkhông khí trung bình từ 83 - 85%

Mường Chà có hệ thống sông suối khá phong phú với nhiều con sôngsuối có lưu lượng nước lớn là: Sông Đà, sông Nậm Mức, suối Nậm He, suối

Trang 20

Nậm Lay, suối Đề Cua Tử, Ngoài ra với hàng trăm khe nước lớn nhỏ nằm rảirác khắp các địa phương trong huyện.

Với những điều kiện về tự nhiên như vậy, Mường Chà là nơi có điều

kiện phù hợp cho muỗi Anopheles phát triển.

Từ năm 2009 đến nay, huyện Mường Chà đã thực hiện dự án trồng câycao su trên địa bàn nhiều xã Những năm gần đây, phần lớn diện tích rừng ởmột số vùng trồng cây cao su đã khép tán Bên cạnh những lợi ích về mặtkinh tế xã hội mà dự án trồng cao su đem lại thì sự phục hồi của loại rừng thứsinh này có thể dẫn đến sự thay đổi khí hậu, môi trường, ảnh hưởng đến sự

phát sinh, phát triển của các quần thể sinh vật, trong đó có muỗi Anopheles,

duy trì sự tồn tại bệnh sốt rét ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng

Từ năm 2009 đến 2015 huyện Mường Chà đã bảo về cho 84.399 lượtngười bằng biện pháp phun tồn lưu hóa chất diệt muỗi, bảo vệ cho 108.695lượt người bằng biện pháp tẩm màn bằng hóa chất diệt muỗi, cấp 2.500 chiếcmàn đơn, 28.230 chiếc màn đôi và 1.000 chiếc màn võng cho nhân dân tronghuyện Trung tâm phòng chống Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng tỉnh Điện

Biên đã tiến hành điều tra muỗi Anopheles 23 lượt tại huyện Mường Chà, bắt được 1.370 mẫu muỗi thuộc 7 loài Anopheles, trong đó chưa phát hiện thấy vector chính truyền bệnh sốt rét là An.minimus đã thu thập được vector phụ là An.jeyporiensis, An.maculatus, An.aconitus.

Xã Mường Mươn là 1 xã của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, diệntích tự nhiên 13.379,91 ha và 3.116 nhân khẩu Phía đông giáp xã MườngĐăng của huyện Mường Ảng và hai xã Mường Mùn, Nà Sáy của huyện TuầnGiáo Phía tây giáp tỉnh Phong-Sa-Ly của nước Lào Phía nam giáp xã MườngPồn và xã Nà Tấu của huyện Điện Biên Phía bắc giáp xã Na Sang huyệnMường Chà Dân tộc Xã Mường Mươn có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống là:Mông, Khơ Mú, Thái và Kinh Trong đó, dân tộc Mông chiếm đa số Phần lớncác hộ gia đình ở xã Mường Mươn thuộc nhóm hộ nghèo và cận nghèo Thu

Ngày đăng: 01/01/2023, 15:53

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w