1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.DOC

55 2,3K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy Thoái Kinh Tế Và Tác Động Của Nó Đến Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Người hướng dẫn Th.S Cấn Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Án Môn Học
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 639,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với quá trình toàn cầu hóa của xu thế thế giới, nền kinh tế Việt Namngày càng phát triển vững mạnh Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũngxây dựng đầy đủ các thị trường của nền kinh tế thị trường, trước nhu cầu phát triển

đó hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng tronglĩnh vực tài chính, tiền tệ, đảm bảo sự vân hành có hiệu quả của nền kinh tế nhât làtrong giai đoạn nền kính tế toàn cầu đang suy thoái như hiện nay

Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới đang diễn ra ngày càng sâurộng, nền kinh tế Việt Nam ít nhiều cũng có ảnh hưởng và tình hình tài chính trongnước đang được đặt trong tình trạng kiểm soát chặt chẽ Trong nửa đầu năm là tìnhtrạng lạm phát tăng cao, giá cả các mặt hàng trên thị trường tăng mạnh, đến nửacuối năm thì nền kinh tế lại rơi vào tình trạng thiểu phát Các biện pháp thắt chặttiền tệ vừa được áp dụng và bước đầu có hiệu quả thì ngay lập tức đã phải chuyểnsang các biện pháp nới lỏng tiền tệ Gần như tất cả các thành phần kinh tế đều chịuảnh hưởng từ suy thoái.Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng và nền tài chính là chịu ảnhhưởng rõ nét nhất

Do rất yêu thích kinh doanh và luôn luôn muốn biết, tìm hiểu những biến đổi,

sự thay đổi của nền kinh tế thế giới cũng như nước nhà, nhất là lĩnh vực ngân hàng

Vì vậy em đã chọn đề tài: “SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.” để viết đề án

môn học Em mong rằng qua đó em cỏ thể có thể có thêm nhiều kiến thức về nềnkinh tế thế giới cũng như Việt Nam nhất là trong giai đoạn có nhiều biến đổi nhưhiện nay

Đề tài này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S CẤN ANH TUẤN.

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy để em có thể hoàn thành

đề án này

Trang 2

NỘI DUNG

PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ

VÀ THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

I.SUY THOÁI KINH TẾ

1 Khái niệm và nguyên nhân suy thoái

Chúng ta có thể đến với một cách hiểu khá đơn giản về Suy thoái kinh tế: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài.” Suy thoái kinh tế bao gồm những xu hướng:

* Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng.

* Tiêu thụ dưới mức Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung.

* Sức ép lợi nhuận từ lao động Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế.

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này

là sự suy sụp của thị trường bất động sản Ở Mỹ, gần như hầu hết người dân khimua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau

đó Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thịtrường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi muanhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bánnhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp

Trang 3

Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản: Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dựtrữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng

hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiềnmua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so vớilãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụthuộc vào lãi suất cơ bản) Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6%nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn1%

Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúcbấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màuđược vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông quahai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac

Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lạicác khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng

từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS)

- ( chú thích MBS ở dưới ), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt làcác ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch

Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thànhcác công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất độngsản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công tychuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa Nó đã trở nên một sân chơi mới cho cácnhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốnngoại quốc

MBS : Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểmMBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như là ngoài tầm kiểm soát thôngthường của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tínhmạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lạiphần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, các ngân hàng

Trang 4

thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợcủa người vay.

2 Diễn biến của suy thoái

Trước tiên, chúng ta sẽ bắt đầu từ tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedgefund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của BearStearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào cácchứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ

* Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầutiên tại châu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vaydưới chuẩn ở Mỹ Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứutrợ từ chính phủ

* Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đếnbủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấpNorthern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh

* Ngày 15/10/2007: Citigroup Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dựphòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chứcvào ngày 4/11

-* Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạnnhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹtại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu CentroProperties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney

* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi

và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khingân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khóđòi quá lớn

* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4

tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoátquan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố

* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock

Trang 5

* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạnnhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là1,36 tỷ euro.

* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP MorganChase với giá 2 đôla một cổ phiếu

* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoảnthua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản

nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản

* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàngIndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từtrước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11ngày

* 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6

tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trởthành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu

* 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soáthai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thịtrường nhà đất Mỹ

* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bánlại chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

* 14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers

* 15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mởcửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001 LehmanBrothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank ofAmerica Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớnnhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm

cố

* 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD

Trang 6

đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fedcông bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàngBarclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75

tỷ USD

* 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh;Tập đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹkiềm chế tình trạng bán khống

* 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố

kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làmthanh sạch hệ thống tài chính

* 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Haingân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoànngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall

* 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâutóm hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tạichâu Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phầnMorgan Stanley

* 23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs;Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghingờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ

* 25/9/2008: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hànglớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thếchấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soátWaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ choJPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đãtrở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ

Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đãđồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD

* 29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tàichính Mỹ Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow

Trang 7

Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tớinay.

* 1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD(tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảmthuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷUSD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ100.000 USD lên 250.000 USD

* 3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếulần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171 Không đầy 2 giờsau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật

* Ngày 4/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họpthượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu Âu làAnh, Pháp, Đức và Ý Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng,nhưng không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ

* Ngày 5/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyếtđịnh của Ireland tuần trước về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland,ngày Chủ nhật 5/10 Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiềngửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn

* Ngày 6/10/2008: Trong đêm Chủ nhật 5/10, ngân hàng BNP Paribas SA củaPháp gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 19,8 tỷUSD) để mua lại ngân hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷEuro bằng tiền mặt BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg,

và toàn bộ mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ

* Ngày 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữliên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trungương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêmtrọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930

* Ngày 10/10/2008: Tập đoàn bảo hiểm có lịch sử hoạt động 98 năm tại Nhật

là Yamato Life Insurance Co chính thức đệ đơn xin được bảo hộ phá sản do các

Trang 8

khoản nợ đã vượt tài sàn 11,5 tỷ yen (tương đương 116 triệu USD) Đây được coi làmốc đánh dấu cuộc khủng hoảng đã lan sang châu Á

* Ngày 13/10/2008: Giải Nobel Kinh tế 2008 được công bố thuộc về Giáo sưPaul Krugman Ngoài thành tích xây dựng mô hình ứng dụng thương mại toàn cầu,ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống Bush, và là ngườivạch ra những hiểm họa của tự do thị trường thiếu sự giám sát của Chính phủ

* Ngày 14/10/1008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giảicứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãicủa các ngân hàng này Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong

kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng,không mua cổ phần

Chúng ta biết rằng, ở Mỹ "gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vaytiền ngân hàng và trả cả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, có một sựliên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản.Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lêncao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩygiá nhà xuống thấp Bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ - nềnkinh tế lúc này quả thật đang trì trệ, mục đích giảm lãi suất một phần cũng để khôiphục nền kinh tế, tuy nhiên đằng sau vẫn còn một nguyên nhân khác nữa, cục dự trữliên bang Mỹ ( FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng

hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiềnmua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so vớilãi suất cơ bản của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụthuộc vào lãi suất cơ bản) Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên6% nhưng sau đó, lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thìchỉ còn 1%." (Báo Thanh niên, 16/10/2008, trang 19) Việc cắt giảm lãi suất liên tục

đã làm cho lạm phát gia tăng Do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăngdần lãi suất, dẫn đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm

2006 Trong khi vào giữa năm 2003 lãi suất căn bản của FED chỉ có 1% thì vàogiữa năm 2006 nó đã tăng lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phảiđẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa Tình hình lãi suất cao đã

Trang 9

khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượtcầu Nhiều người mua nhà giá cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhàđang sở hữu thấp hơn khoảng nợ mà mình đang vay Bên cạnh đó, rất nhiều ngườitrong nhóm vay tiền với lãi suất dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suấtcủa họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suất mới hiện hành khá cao Họ muốn bán nhà

để trả nợ cũng không được vì giá nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc Hệquả là họ đành bỏ nhà cho ngân hàng trưng thu lại." (Báo Thanh niên, 17/10/2008,trang 13, chữ nghiêng là do tôi viết) Cuối cùng là khủng hoảng Còn việc nó lansang lĩnh vực tài chính như thế nào cũng như diễn biến hiện tại của tình hình tàichính ra sao thì đã có rất nhiều ý kiến được đưa ra rồi, tôi không cần phải đi sâu hơnnữa Ở đây, tuy năm 1929 khủng hoảng bắt đầu từ ngay thị trường chứng khoán,còn hiện tại thị lại bắt nguồn từ khủng hoảng thị trường bất động sản, nhưng chúng

ta dễ dàng thấy ngay điểm chung giữa hai cuộc khủng hoảng, đó là nó mở đầu bẳngviệc hạ lãi suất cơ bản để kích thích đầu tư

3 Hậu quả đối với nền kinh tế thế giới

a Thương mại toàn cầu sụt giảm

Đây là ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất Nếu cả sản lượng và nhu cầu của nềnkinh tế Mỹ cũng giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các hoạt độngsản xuất cùng sụt giảm, dẫn tới sự sụt giảm trong nhập khẩu các loại hàng hóa tiêudùng, hàng hóa cơ bản và các nguyên vật liệu khác từ thị trường bên ngoài

Trong khi đó, rất nhiều nước trên thế giới coi Mỹ là thị trường xuất khẩuchính, như Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc, các nước ĐôngNam Á, và coi đây là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế Do đó, nhu cầusụt giảm ở Mỹ đồng nghĩa với sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhữngnước này Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại vì Mỹ là nước tiêu dùng lớn nhất thếgiới còn Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới Nếu người Mỹ khôngmua, hàng “Made in China” sẽ đi về đâu?

Trung Quốc cũng là một ví dụ rõ ràng về việc những mắt xích trong chuỗithương mại quốc tế sẽ chịu tác động ra sao từ sự suy thoái của Mỹ Trước đây, cáctrung tâm chế tạo của châu Á như Hàn Quốc và Đài Loan trực tiếp sản xuất hàng

Trang 10

thành phẩm như hàng điện tử để xuất khẩu trực tiếp sang Mỹ Nhưng với sự nổi lêncủa Trung Quốc trong lĩnh vực này, các nước châu Á đã chuyển sang sản xuất linhkiện để xuất sang Trung Quốc

Sau đó, Trung Quốc tiến hành lắp ráp rồi xuất sang Mỹ Do đó, nhập khẩu của

Mỹ đi xuống làm xuất khẩu của Trung Quốc giảm, dẫn tới nhu cầu của Trung Quốcđối với linh kiện do các nước châu Á khác sản xuất cũng “lao” theo

b Đồng USD yếu khiến mọi chuyện thêm tồi tệ

Sự suy yếu của kinh tế Mỹ và việc FED liên tiếp cắt giảm lãi suất USD đãkhiến giá trị đồng tiền này giảm mạnh so với nhiều đồng tiền khác như Euro, Yên

và Won Đồng USD yếu sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ, nhưng lại là cơn ác mộngđối với các nhà xuất khẩu Đức, Nhật và Hàn Quốc - những nước vốn phụ thuộcnhiều vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ

c.“Bong bóng” bất động sản sẽ nổ tung toàn cầu

Mỹ không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới có tình trạng bong bóng xảy

ra trên thị trường bất động sản trong những năm gần đây Hoạt động tín dụng lỏnglẻo, mức lãi suất thấp và dài hạn cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác, nhất là ở châu

Âu Mỹ không phải là nước duy nhất mà “bong bóng” bất động sản đã vỡ

Anh, Ireland và Tây Ban Nha đi sau Mỹ có chút ít về tốc độ mất giá của nhà đất.Các nước khác với tiềm năng bong bóng bất động sản sắp vỡ bao gồm Pháp, HyLạp, Hungary, Italy, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước vùng Baltic Tại châu

Á, những nước như Australia, Trung Quốc, New Zealand và Singapore, “bongbóng” nhà đất đã vỡ tại một số khu vực Đến cả Ấn Độ cũng xảy ra tình trạng bongbóng địa ốc Những “bong bóng” này chắc chắn sẽ vỡ một khi tình trạng tín chặt tíndụng “châm kim” vào chúng, dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm chạp tại một số nước

và suy thoái tại một số nước khác

d Giá hàng hóa và nguyên vật liệu thô sẽ giảm

Chỉ cần nhìn vào giá dầu cao là có thể nhận thấy nhu cầu hàng hóa của thếgiới đã tăng mạnh trong những năm gần đây Tuy nhiên, tình trạng này sẽ kéo dàikhông lâu Đó là do hai đầu máy của kinh tế thế giới là Mỹ và Trung Quốc tăng

Trang 11

trưởng chậm lại sẽ kéo theo sự sụt giảm mạnh nhu cầu của các loại hàng hóa nhưdầu, thực phẩm và khoáng sản

Điều này tất yếu sẽ tác động tiêu cực tới xuất khẩu và tăng trưởng của cácnước xuất khẩu các mặt hàng này ở châu Phi, Mỹ Latin và châu Phi Chẳng hạn,Chile là nước xuất khẩu đồng lớn nhất thế giới, đồng từ nước này được sử dụng đểlàm chip máy tính và dây điện Nhu cầu của Mỹ và Trung Quốc giảm chắc chắn sẽkhiến giá cả và nhu cầu đồng cùng giảm xuống, kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa Chile

e Niềm tin sẽ giảm mạnh

Cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã gây ra tình trạng thắt chặt thanhkhoản và tín dụng trên Wall Street Tình trạng này cũng đã lan rộng ra thị trường tàichính nhiều nước trên thế giới Một lượng trái phiếu bất động sản chứa đựng đầy rủi

ro và nợ thế chấp của Mỹ đã được bán cho các nhà đầu tư nước ngoài Đó là lý dotại sao những thất thoát tài chính do tình trạng vỡ nợ tại các thành phố Mỹ nhưCleveland, Las Vegas và Pheonix lại có tác động mạnh đến Australia và châu Âu,hay thậm chí cả những ngôi làng nhỏ ở Nauy

Niềm tin tiêu dùng bên ngoài nước Mỹ, đặc biệt là tại châu Âu và Nhật Bản,không bao giờ vững mạnh và sẽ trở nên yếu hơn trước những tin xấu về kinh tế Mỹ.Những khoản thua lỗ trong hoạt động tại Mỹ cũng sẽ khiến các tập đoàn đa quốc gia

đi đến chỗ cắt giảm đầu tư vào các nhà máy không chỉ ở Mỹ mà còn nhiều nơi kháctrên thế giới Các tập đoàn tại châu Âu sẽ chịu tác động đặc biệt lớn do họ phụthuộc vào các khoản vay ngân hàng nhiều hơn các doanh nghiệp Mỹ Sự thắt chặttín dụng toàn cầu sẽ hạn chế khả năng của họ trong việc sản xuất, thuê nhân công vàđầu tư

Cách tốt nhất để xem cơn bão tài chính này lan rộng ra sao là theo dõi thịtrường chứng khoán toàn cầu Các nhà đầu tư e dè hơn trước những rủi ro khi nềnkinh tế của họ có vẻ như tăng chậm lại Do đó, bất kỳ khi nào những thông tin xấu

về kinh tế Mỹ xuất hiện, các nền kinh tế khác cũng ngay lập tức lo theo

Một kịch bản thường gặp là các nhà đầu tư Wall Street bán tháo cổ phiếu,khiến chỉ số Dow Jones sụt giảm và một vài giờ sau, các chỉ số chính của thị trường

Trang 12

chứng khoán châu Á cũng mở cửa với đường đi dốc xuống Rồi sau đó, tình hìnhcác thị trường chứng khoán châu Âu cũng diẽn biến tương tự Điều này có thể nhậnthấy rõ trong đợt suy giảm mạnh toàn cầu của thị trường chứng khoán tháng 1 vừaqua

f Các ngân hàng trung ương “bó tay”

Những người lạc quan tin tưởng rằng các ngân hàng trung ương có thể cứu thếgiới khỏi những tác động tiêu cực của tình trạng suy thoái kinh tế ở Mỹ Như ở kỳsuy thoái năm 2001, FED đã cắt giảm lãi suất từ 6,5% xuống còn 1%, Ngân hàngTrung ương châu Âu (ECB) giảm lãi suất từ 4% xuống 2%, còn Ngân hàng Trungương Nhật (BOJ) giảm lãi suất xuống 0

Nhưng ngày nay, khả năng của các ngân hàng trung ương trong việc sử dụngcác công cụ tiền tệ để kích thích tăng trưởng và hạn chế tác động của tình trạng kinh

tế tăng chậm lại toàn cầu đã bị hạn chế hơn trước rất nhiều Lạm phát tăng cao tạinhiều nước đang “bó tay” các ngân hàng trung ương

FED sẽ còn cắt giảm lãi suất, nhưng chắc chắn sẽ lo ngại về tình trạng mất giáliên tiếp của USD sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại không muốn bỏ tiềnmua các loại trái phiếu của Mỹ Và trong nền kinh tế toàn cầu nói chung, đồng USDyếu cũng là một trò chơi có tổng bằng 0, đồng USD yếu sẽ có lợi xuất khẩu củanước Mỹ, nhưng lại làm tổn thương khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của các đốitác thương mại của Mỹ

Chính sách tiền tệ cũng kém tác dụng hơn vào thời điểm này vì một lý dokhác Nguồn cung nhà cửa, xe cộ và các hàng hóa tiêu dùng khác trên thế giới nóichung đang rất dư dả Nhu cầu đối với những hàng hóa này đã bớt nhạy cảm hơntrước những biến động lãi suất vì phải mất rất nhiều năm người tiêu dùng mới cóthể “hút” hết lượng hàng hóa thừa mứa này Việc cắt giảm thuế cho dân Mỹ cũngchẳng thể thay đổi tình huống, nhất là khi dân Mỹ đang nợ “như chúa chổm”

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay cũng được coi là đã vượt khỏi tầmkiểm soát của FED Những vấn đề mà kinh tế Mỹ đang phải đối mặt không phải làthiếu tiền mà là những khoản nợ không trả nổi Hàng triệu ngôi nhà đang đứng

Trang 13

trước nguy cơ bị tịch biên vì người sở hữu không có tiền trả nợ và hơn 100 tổ chứccho vay cầm cố đang có nguy cơ phá sản

Mặt khác, không chỉ cho vay cầm cố, các ngân hàng của Mỹ còn thả cửa chovay để các doanh nghiệp đầu tư vào các vụ mua lại hoặc các loại tài sản địa ốcthương mại Do đó, nếu kinh tế Mỹ tiếp tục xấu đi, lượng vỡ nợ của các doanhnghiệp cũng sẽ tăng vọt

Thêm vào đó, ở Mỹ còn tồn tại một hệ thống ngân hàng “chợ đen” bao gồmnhững tổ chức tài chính không phải là ngân hàng nhưng lại vay tiền ngắn hạn đểcho vay hoặc đầu tư dài hạn Chẳng hạn, các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ có thể bịrút sạch vốn trong vòng một đêm, hay các quỹ phòng hộ chỉ được báo trước 1 tháng

để trả nợ Nhiều trong số những quỹ này đã tự “trói” mình vào những loại trái phiếu

có độ rủi ro cao và dài hạn do đó họ phải đối mặt với rủi ro lớn hơn vì họ khôngphải là đối tượng được nhận hỗ trợ của FED trong trường hợp xấu nhất

Khả năng áp dụng các biện pháp kích thích tài chính của chính phủ hiện naycũng đã hạn chế hơn trước rất nhiều do Mỹ, Nhật và châu Âu hiện đều cùng ở trongtình trạng thâm hụt ngân sách Trong lần suy thoái trước, ngân sách của Mỹ đã đi từchỗ thặng dư 2,5% GDP vào năm 2000 đến chỗ thâm hụt 3,2% GDP vào năm 2004.Nhưng lần này, thâm hụt ngân sách của Mỹ đã ở mức cao và Chính phủ Mỹ chỉ cóthể thực hiện kích thích tài chính bằng 1% GDP theo như đã nêu trong kế hoạchkích thích kinh tế trọn gói mới đây của ông Bush Tình hình ở Mỹ và châu Âu cũngtương tự

Vào thời điểm hiện nay, kế hoạch kích thích kinh tế này của ông Bush quá nhỏ

để có thể tạo ra một sự khác biệt lớn, và những gì mà FED đang làm là quá ít ỏi vàmuộn màng Nước Mỹ sẽ phải mất nhiều năm để giải quyết những vấn đề đã dẫn tớicuộc khủng hoảng này Quản lý yếu kém đối với hoạt động cho vay cầm cố, sựthiếu minh bạch đối với những sản phẩm tài chính phức tạp, chính sách khuyếnkhích thiếu hợp lý trong gói lương thưởng cho lãnh đạo các ngân hàng, quản lý rủi

ro kém, đánh giá tín dụng sai lầm… và còn rất nhiều vấn đề khác nữa

Cuối cùng, trong thế giới phẳng ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế tại các quốc gia vào những thời điểm tốt đẹp Nhưng không may,

Trang 14

chính những ràng buộc thương mại và tài chính này cũng đồng nghĩa với việc tăngtrưởng yếu đi ở nơi này sẽ kéo theo tăng trưởng ở những nơi khác Không phảinước nào cũng sẽ suy thoái cùng với Mỹ, nhưng chắc chắn không nước nào có thể

“miễn nhiễm”

4 Tác động của suy thoái đến VIỆTNAM

Nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng tới xuất khẩu và đầu tư nướcngoài như bất cứ một quốc gia đang phát triển nào khác, nhưng hệ thống tài chínhngân hàng Việt Nam hiện có thể đứng vững trước cơn sóng gió này

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác động gián tiếp từ những diễn biếnbất lợi của thị trường tài chính thế giới đã kéo theo 3 phiên giao dịch giảm điểm liêntiếp vào giữa tuần Ảnh hưởng tâm lý đến nhà đầu tư Việt Nam rất hiện hữu, dùrằng tác động rõ ràng của khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam chưa đượcxác định cả trong ngắn hạn và dài hạn Tính chung cả tuần, chỉ số VN Index mấtgần 40 điểm

Chỉ đến phiên giao dịch cuối tuần, nhờ những thông tin về việc Ngân hàngTrung ương tại một số thị trường lớn bắt đầu vào cuộc "cứu trợ", cùng với sự bậtdậy của các thị trường lớn, thì chứng khoán Việt Nam mới bất ngờ có được phiênđảo chiều tăng điểm ấn tượng: gần 100% mã chứng khoán tăng hết biên độ

Trong số những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ lâm cảnh khó khăn, thì sựviệc ở tập đoàn bảo hiểm AIG được nhiều người Việt Nam quan tâm Công ty AIGViệt Nam đang thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với gần 300.000 khách hàngtại Việt Nam

Chỉ 1 ngày sau biến cố tại Mỹ, đại diện AIG Việt Nam và Bộ Tài chính đã đưa

ra những số liệu để khẳng định: Quyền lợi của tất cả các khách hàng của AIG tạiViệt Nam sẽ không thể bị ảnh hưởng

Ông Trịnh Thanh Hoan, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm - Bộ Tài chính cho biết:

"AIG Việt Nam hoạt động tại Việt Nam với mô hình là một công ty TNHH, họ cótính độc lập tương đối với hoạt động của tập đoàn mẹ Chúng tôi giám sát hoạt độngcủa các công ty bảo hiểm nước ngoài dựa vào biên khả năng thanh toán của họ.Hiện nay, mức bồi thường của AIG Việt Nam đang cao gấp 28 lần nếu so với biên

Trang 15

khả năng thanh toán Thậm chí cả trong trường hợp AIG phá sản, thì trước tiên, mọiquyền lợi của khách hàng trong hợp đồng chắc chắn vẫn được đảm bảo".

Khủng hoảng tài chính Mỹ đã được chỉ rõ: Bắt nguồn từ việc các ngân hàngđầu tư Mỹ đổ quá nhiều tiền vào chứng khoán bất động sản, giờ thì gần như vô giátrị…

Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước khẳng định: Không một định chế tài chínhnào của Việt Nam đầu tư vào chứng khoán bất động sản tại Mỹ, và cũng không nắmgiữ cổ phiếu các ngân hàng đầu tư Mỹ… Vì vậy, hệ thống tài chính ngân hàng ViệtNam sẽ không chịu những ảnh hưởng trực tiếp từ khủng hoảng tài chính Mỹ

Ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược ngân hàng - Ngân hàng Nhànước Việt Nam cho biết: "Thị trường tài chính của chúng ta chưa hội nhập quá sâunên không chịu nhiều tác động từ khủng hoảng toàn cầu Vấn đề quan trọng là chođến giờ, Chính phủ luôn kiểm soát tốt và chặt chẽ toàn bộ hệ thống tài chính trongnước Còn Ngân hàng Nhà nước cũng kiểm soát được rất tốt toàn bộ hệ thống cácngân hàng thương mại của chúng ta trước những biến động của tài chính toàn cầu,vấn đề cốt lõi là chúng ta phải đảm bảo được tính thanh khoản và dự phòng rủi rocủa các ngân hàng thương mại trong nước Điều này đã được Ngân hàng Nhà nướctập trung giải quyết trong suốt 6 tháng qua, và ở vào thời điểm này, hệ thống ngânhàng trong nước đang có tính thanh khoản rất tốt"

Các chuyên gia cũng khuyến nghị: Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các ngânhàng thương mại cần tiếp tục giám sát chặt chẽ tín dụng, đặc biệt phải có chính sách

cụ thể hơn nữa đối với tín dụng bất động sản

Khủng hoảng tài chính Mỹ lan dần ra toàn cầu Và dù chưa chịu những tácđộng trực tiếp, thì nền kinh tế Việt Nam cũng khó tránh khỏi bị ảnh hưởng Nhữngảnh hưởng đã được dự báo ngay sẽ đến với tình hình xuất khẩu hay thu hút đầu tưnước ngoài Từ đây, một hướng giải pháp, là Việt Nam có thể tập trung tìm cáchtăng sức mua cho thị trường trong nước rất tiềm năng với hơn 80 triệu người, trongbối cảnh các hoạt động kinh tế tài chính liên thông thế giới dễ chịu ảnh hưởng từcuộc khủng hoảng hiện nay

Trang 16

Phát biểu tại diễn đàn, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn SinhHùng đánh giá thế giới cũng như Việt Nam đang gặp những thách thức, trong bốicảnh nền kinh tế thế giới suy giảm; giá dầu, giá lương thực tăng cao; lạm phát giatăng ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của các nước trong khu vực, trong đó có ViệtNam Tuy nhiên, Phó thủ tướng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì mục tiêu tăngtrưởng 6,5% - 7% trong năm nay, và cho rằng Việt Nam đã vượt qua được thời kỳkhó khăn nhất Ông cho biết trước mắt Chính phủ quyết tâm ổn định kinh tế vĩ mô,đặc biệt là lĩnh vực tài chính, và về dài hạn là sự phát triển bền vững, trong đó giảiquyết các vấn đề cốt tử của nền kinh tế như nhân lực, hạ tầng Phó thủ tướng khẳngđịnh dù khó khăn đến đâu Việt Nam cũng sẽ tạo điều kiện tốt nhất, và hỗ trợ tối đacho các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong khi đó, ông Noritaka Akamatsu, chuyên gia cao cấp về tài chính củaNgân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB), cho rằng khi một đất nước muốn tăngtrưởng mạnh 7%, 8% thậm chí 10% thì những thách thức như thâm hụt thương mại,tài khoản vãng, cán cân thanh toán là chuyện không thể tránh khỏi Ông đánh giáViệt Nam hiện nay, tích lũy nội địa vẫn khá thấp, nên vẫn phải dựa vào dòng vốnbên ngoài, đó là các kênh tài trợ cho thâm hụt "Việt Nam cần khuyến khích xuấtkhẩu, đầu tư vào xuất khẩu để tiếp tục tích lũy nội địa mạnh mẽ Về dài hạn tiếp tụcthu hút các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư dài hạn Tỷ lệ vốn dài hạn hiệnnay chiếm 5% GDP là quá thấp," chuyên gia này nhận xét Ông cũng cho rằng việc

lo ngại nhà đầu tư gián tiếp ngắn hạn rút khỏi thị trường là không có cơ sở "Thịtrường tài chính tiền tệ Việt Nam còn quá nhỏ, và tính thanh khoản thấp, vì vậynhững ai có ý định đến đây để kiếm lời, và rút ra nhanh là điều không dễ", quanchức WB này nhận định

5 Các biện pháp khắc phục hậu quả của suy thoái

a Khôi phục ổn định trên thị trường tài chính

Vấn đề trung tâm hiện nay là tâm lý và giảm sút lòng tin trên toàn thế giới.Các nhà đầu tư đánh mất niềm tin vào các công ty, đặc biệt là các ngân hàng do longại về tình trạng thua lỗ tiếp tục xảy ra Tiêu dùng giảm do lo ngại về khả năngmất việc làm Do vậy, mục tiêu trọng tâm hiện nay phải là khôi phục niềm tin Ở

Trang 17

cấp độ toàn cầu, điều này có nghĩa là các chính phủ và Ngân hàng Trung ương cầnphải hành động một cách quyết đoán để nhà đầu tư có thể tin tưởng vào khả năngthanh toán và tồn tại của các định chế tài chính, đồng thời phải cam kết một cáchđáng tin cậy sẽ thực hiện các biện pháp đủ để xử lý nguy cơ tái diễn tình trạng ĐạiSuy thoái Do vậy, ổn định tài chính là vấn đề then chốt để phục hồi kinh tế thế giới.Xuất phát từ kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng Châu Á, các nước đã hànhđộng nhằm giải quyết những nguy cơ trước mắt đối với sự ổn định hệ thống thôngqua biện pháp hỗ trợ thanh khoản quy mô lớn, như mở rộng chương trình bảo hiểm

và bảo lãnh tiền gửi và coi đây là yếu tố cốt lõi để duy trì niềm tin của công chúng.Tuy nhiên, cần hành động nhiều hơn nữa để giải quyết tình trạng thiếu lòng tin vàokhả năng thanh toán của hệ thống do hoạt động thua lỗ và triển vọng kinh tế suythoái; cần xem xét, đánh giá lại hiệu quả của hệ thống thanh tra giám sát tài chính,ngân hàng nhằm phát hiện ra những kẽ hở, điểm yếu của hệ thống trong việc pháthiện và phòng ngừa khủng hoảng, qua đó giúp khôi phục lòng tin của công chúngvào hệ thống tài chính ngân hàng

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, những vấn đềquan trọng đặt ra đối với hoạt động thanh tra tài chính, ngân hàng là: (i) Tăng cườngcông tác điều phối, phối hợp hoạt động, trao đổi thông tin trong hoạt động thanh tragiám sát; (ii) Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thanh tra ngân hàng nhằmđảm bảo an toàn, ổn định cho hệ thống Các Chính phủ cần đẩy mạnh quá trình tái

cơ cấu ngân hàng, tập trung làm trong sạch bảng cân đối tài sản thông qua các biệnpháp như: (i) Đánh giá lại bảng cân đối tài sản trong tình huống xấu nhất, xác địnhkhả năng tồn tại của các tổ chức và tiến hành tái cơ cấu nếu thấy cần thiết Các cơquan chức năng cần sẵn sàng ứng phó khi cần thiết, kể cả việc can thiệp một cáchđầy đủ; (ii) Hỗ trợ từ nguồn vốn công khi cần thiết cho các ngân hàng có khả năngphục hồi, xử lý tài sản xấu và bảo lãnh; (iii) Nhanh chóng bán hay giải thể các ngânhàng mất khả năng thanh toán, tùy thuộc giá trị thương hiệu có còn hay không; (iv)Thành lập tổ chức thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý "tài sản xấu"

Ngay cả khi đã có những biện pháp này thì vẫn mất nhiều thời gian mới khôiphục được tăng trưởng tín dụng Các biện pháp nêu trên sẽ rất tốn kém đối với

Trang 18

Chính phủ nhưng tổn thất do khủng hoảng ngân hàng sẽ còn cao hơn nếu vần đềkhông được giải quyết nhanh chóng

và tiền tệ mở rộng quy mô lớn nhằm kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn để vượtqua khủng hoảng có thể gây lạm phát và mất ổn định vĩ mô trong trung và dài hạnsau khi cuộc khủng hoảng qua đi Do vậy, vấn đề liều lượng và quy mô của các góichính sách kích cầu là đặc biệt quan trọng, đồng thời các nước cần chuẩn bị sẵn cácbiện pháp cho giai đoạn hậu khủng hoảng nhằm chuẩn bị đối phó với các nguy cơ từgói giải pháp kích cầu, đảm bảo tăng trưởng ổn định và bền vững, bao gồm:

* Về phía chính sách tài khóa: Những nước áp dụng chính sách tài khóa mởrộng để kích thích tiêu dùng nhưng lại có tỷ lệ tiết kiệm thấp sẽ phải đối mặt vớinguy cơ tình trạng thậm hụt cán cân vãng lai trầm trọng hơn, nợ nước ngoài tăng,ngân sách không bền vững trong trung hạn và có thể xảy ra "khủng hoảng tài khóa"

* Về phía chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ quá nới lỏng có thể sẽ dẫn tớitình trạng "bẫy thanh khoản" (cung tiền quá mức nhưng không thể thúc đẩy tăngtrưởng) và việc duy trì chi phí vốn quá thấp trong thời gian dài có thể gây ảnhhưởng xấu trong dài hạn tới tiết kiệm và đầu tư

Trang 19

Do vậy, việc thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mở rộng cầnđược nghiên cứu kỹ và có tầm nhìn trung và dài hạn nhằm duy trì được lòng tin củacông chúng vào sự ổn định và bền vững về mặt vĩ mô trong tương lai Các biệnpháp chính sách của mỗi nước phải tính đến mối quan hệ gắn kết giữa các nền kinh

tế và biện pháp của nước này có thể gây ảnh hưởng sâu sắc tới những nước khác.Tránh áp dụng các biện pháp kích cầu nhưng manh tính bảo hộ gây ảnh hưởng xấutới thương mại quốc tế và đặc biệt là gây tổn hại tới các nền kinh tế mới nổi có tăngtrưởng lệ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay từ các ngân hàng nước ngoài

c Phối hợp các chính sách trong nước để giải quyết khủng hoảng

Ở các quốc gia mà chức năng ổn định tài chính thuộc trách nhiệm của nhiều cơquan quản lý, cần phải có một cơ chế đảm bảo đưa ra được những chính sách mangtính nhất quán, có sự phối hợp và phân định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên Một số khó khăn trong quá trình phối hợp chính sách gồm: (i) Thiếu trao đổithông tin giữa các cơ quan liên quan; (ii) Công bố thông tin cho công chúng để khôiphục niềm tin; (iii) Khuôn khổ pháp lý yếu; (iv) Thiếu nguồn lực và năng lực đểđảm bảo hiệu quả hợp tác giữa các cơ quan quản lý Giải pháp để tháo gỡ nhữngkhó khăn này là:

* Khuôn khổ pháp lý hỗ trợ xây dựng những biện pháp can thiệp kịp thời và

có trật tự: Những thay đổi nhanh chóng trong môi trường hoạt động đòi hỏi phải cóđánh giá tổng thể về khuôn khổ pháp lý qui định về quyền hạn, công cụ và nhữngyêu cầu đối với các cơ quan quản lý trong việc đưa ra những can thiệp và giải phápkịp thời Nhìn chung, những qui định pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh tra, quyềnlợi của nhà đầu tư, phá sản doanh nghiệp, bảo mật thông tin thường được xây dựngđộc lập với nhau để bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các nhóm đối tượng và đượcthực thi bởi các cơ quan khác nhau Do vậy có thể có những qui định pháp lý xungđột, gây cản trở cho việc thực hiện những giải pháp can thiệp kịp thời và có trật tự

* Có đủ nguồn lực, năng lực và hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan quản lý đểđảm bảo thực hiện chính sách có hiệu quả: Trong cuộc khủng hoảng tài chính hiệntại vai trò "Người cho vay cuối cùng" của Ngân hàng Trung ương đã có những điềuchỉnh so với cách hiểu truyền thống như: (i) Kéo dài thời kỳ hỗ trợ thanh khoản; (ii)

Trang 20

Mở rộng phạm vi các tài sản được phép cầm cố và danh sách các tổ chức được thamgia; (iii) Cho phép hoán đổi các chứng khoán không có khả năng thanh khoản lấytrái phiếu chính phủ Ngoài ra, nhiều biện pháp can thiệp khác cũng được áp dụngnhư mua lại nợ, bảo lãnh nợ và tiền gửi, tăng vốn Tuy nhiên, những biện pháp canthiệp như vậy đã chuyển những rủi ro tín dụng và thị trường lên bảng tổng kết tàisản của Ngân hàng Trung ương Hơn nữa việc chấp nhận những tài sản đảm bảothiếu tính thanh khoản cũng tạo ra những quan ngại về các vấn đề định giá, rủi rođạo đức vì rất khó xác định được cách định giá phù hợp đối với các sản phẩm tàichính có độ phức tạp cao và ít được giao dịch Do vậy, phần lớn các Ngân hàngtrung ương trong khu vực đã không ngừng tăng cường khuôn khổ quản lý thanhkhoản và có những độ linh hoạt nhất định trong việc đưa ra những điều chỉnh cầnthiết để có thể đối phó được những tình huống thiếu hụt thanh khoản có thể xảy ratrên thị trường hoặc đối với từng tổ chức cụ thể Điều này cũng đòi hỏi Ngân hàngtrung ương phải tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro và đội ngũ chuyên gia

* Tăng cường cung cấp thông tin để loại bỏ tâm lý bất ổn và khôi phục lòngtin: Vấn để khủng hoảng lòng tin trong cuộc khủng hoảng này đã một lần nữa chothấy các chiến lược truyền thông cho các nhóm đối tượng cần phải được coi là mộtphần đặc biệt quan trọng trong các giải pháp chính sách, vì những tác động về lòngtin có thể trở thành kênh truyền dẫn chính cho những lây lan khủng hoảng giữa cácnước, cũng như giữa các khu vực kinh tế Vấn đề công bố và trao đổi thông tin cóthể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với hiệu quả chính sách, tùy thuộc vấn đềthời điểm công bố và mức độ chi tiết của thông tin Trong bối cảnh biến động tàichính như hiện nay, việc thiếu những tuyên bố, thông cáo về chính sách thường dẫnđến tình trạng mất lòng tin Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc cung cấp quánhiều thông tin cũng có thể gây ra những hoảng loạn không cần thiết do nhữngnhóm đối tượng khác nhau có những nhìn nhận, đánh giá khác nhau về khủnghoảng

d Điều phối chính sách trên phạm vi toàn cầu-vai trò của IMF

Theo đánh giá của IMF, các nước hầu như không có sự phối hợp chính sáchtrên phạm vi quốc tế trước khi xảy ra khủng hoảng và trong quá trình xảy ra khủnghoảng, các biện pháp chính sách ban đầu vẫn không mang tính phối hợp mà chỉ tự

Trang 21

điều phối bên trong mỗi nước Ví dụ, nhiều nước vội vàng bảo vệ các ngân hàngcủa nước mình thông qua biện pháp bảo lãnh, qua đó gây nguy cơ tháo chạy ra khỏicác hệ thống đã được bảo vệ kém hơn ở các nước láng giềng, trong khi đó việc hỗtrợ thanh khoản lại chủ yếu hướng tới các định chế tài chính trong nước Do đó,công tác quản lý thị trường tài chính cần phải thay đổi Cùng với quá trình toàn cầuhóa các thị trường tài chính, các nước cần tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quản

lý, giám sát khu vực tài chính Cần tăng cường tiếng nói của các nền kinh tế đangnổi trên các diễn đàn quốc tế về giải quyết các vấn đề kinh tế toàn cầu, đồng thờiIMF đóng vai trò đặc biệt trong quá trình điều phối chính sách và giám sát ổn địnhkinh tế toàn cầu bởi vị trí và kinh nghiệm của IMF trong việc giám sát kinh tế vĩ môtoàn cầu Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, IMF đã cung cấp những khoản hỗ trợđáng kể cho Hungary, Ukraine, Pakistan, Iceland, Latvia và Belarus, tăng cường hỗtrợ cho nhiều nước thu nhập thấp và sẵn sàng cho vay nhiều hơn Tháng 11/2008,Quỹ đã cho vay một lượng tiền kỷ lục mà Quỹ từng cho vay trong 1 tháng Tuynhiên, để có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình, IMF cần có đủ nguồn lực vàphối hợp chặt chẽ với các tổ chức hợp tác khu vực như SEACEN và ASEAN +3.Vừa qua, IMF đã kêu gọi các nước thành viên đóng góp thêm, tăng gấp đôi nguồnvốn của IMF lên 500 tỷ USD nhằm có đủ khả năng đối phó với khủng hoảng

e.Biện pháp chính sách khắc phục tác động của khủng hoảng

Về quản lý thanh khoản và thị trường: tăng cường cung cấp thanh khoản chothị trường, bảo lãnh cho vay và bảo lãnh tiền gửi để duy trì lòng tin của thị trườngđối với hệ thống tài chính

Về tiền tệ: do lạm phát trong khu vực tiếp tục có xu hướng đi xuống trong bốicảnh giá cả hàng hóa toàn cầu giảm, hầu hết các nước trong khu vực đều nới lỏngchính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng với mức cắt giảm lãi suất tính từ đầu năm

2008 đến nay từ 50 đến 525 điểm cơ bản

Về tài khóa: một số nền kinh tế như Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia,Singapo, Thái Lan và Đài Loan (Trung Quốc) đã thực hiện các gói kích thích tàikhóa quy mô lớn nhằm kích cầu trong nước với giá trị dao động từ 4,1% - 16%GDP

Trang 22

Về hợp tác quốc tế: củng cố và tăng cường khuôn khổ hợp tác và giám sát tàichính khu vực Asean, Asean+3, Ủy ban ổn định tài chính và tiền tệ khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương, cụ thể là tăng cường đa phương hóa Sáng kiến Chiengmai, hợptác chia sẻ và cung cấp thông tin giám sát trong khu vực nhằm duy trì và ổn định tàichính tiền tệ

II.THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Năm 2008 là câu chuyện của hai cuộc khủng hoảng nối tiếp nhau

Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã trảiqua những trạng thái hoàn toàn trái ngược từ quá nóng sang quá lạnh

Những tháng đầu năm 2008 do giá nguyên liệu, dầu mỏ và lương thực tăngchóng mặt kèm theo chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khóa một cách quá mức củachính phủ trong những năm trước đây đã tạo là chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt ở mức cao nhất trong vòng 17 năm qua lên đến 23% Đồng thời với đó do nền kinh tế pháttriển quá nóng dẫn tới đầu tư tràn lan kém hiệu quả gây ra nhập khẩu tăng vọt đẩythâm hụt thương mại lên mức kỉ lục là 17 tỷ USD Mức thâm hụt lớn này gây sức éplên VND và khiến VND có khả năng bị mất giá nghiêm trọng Trước hoàn cảnh khókhăn đó chính phủ Việt Nam đã thực thi hàng loạt các biện pháp cấp bách như thắtchặt tiền tệ (lãi suất cơ bản có lúc đã đẩy lên đến mức 14%), siết chặt đầu tư công

và chi tiêu chính phủ bằng việc đình hoãn, hủy bỏ hàng loạt các dự án chưa cấpbách Các chính sách này đã tỏ ra hiệu quả khi lạm phát đã hạ nhiệt vào các thángcuối năm, thâm hụt thương mại giảm bớt qua đó tỷ giá VND/USD đã trở nên cânbằng và ổ định hơn Nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi nguy cơ đổ vỡ

Tuy nhiên chưa kịp hoàn hồn, ngay sau đó Việt Nam lại tiếp tục phải đối mặtvới những thử thách cam go hơn đến từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắtnguồn từ những tháng cuối năm 2008 Cuộc khủng hoảng này đã tác động mạnh mẽvào nền kinh tế Việt Nam khi nhu cầu hàng hóa của toàn cầu suy giảm nghiêmtrọng Điều này dẫn tới sự sụt giảm xuất khẩu cũng như đầu tư của Việt Nam tạo ranguy cơ suy thoái kinh tế và đe dọa làm mất cân bằng cán cân thương mại một lầnnữa

Trang 23

Quan sát các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam trong năm 2007 và 2008 cóthể thấy nền kinh tế Việt Nam đã yếu đi rõ rệt và dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết

Bảng1: Các chỉ tiêu kinh tế Việt Nam năm 2007&2008

Thực trạng Kinh tế Việt Nam năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã phảichịu hai tác động nặng nề, đó là chính sách tiền tệ và tài khóa được thắt chặt khá độtngột nhằm hãm đà lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ và sự suy thoáikinh tế toàn cầu

1 Mức tăng trưởng GDP

Kinh tế Việt Nam năm 2008 đã không tiếp tục được đà tăng trưởng cao củacác năm trước đó Quý I/2008, tốc độ tăng trưởng GDP là 7,38%, thấp hơn tốc độ7,8% của quý I/2007 kèm theo tình hình kinh tế trong nước có nhiều diễn biến bấtlợi như lạm phát và nhập siêu tăng cao bất thường Đến quý II/2008, tốc độ lạmphát và nhập siêu của quý này đã giảm nhẹ, song tốc độ tăng trưởng GDP của quýcũng giảm và chỉ đạt 5,85% Quý III/2008, kinh tế thế giới đứng trước nguy cơ suythoái, giá cả trên thị trường thế giới về nguyên liệu, nhiên liệu và lương thực thựcphẩm xoay chiều giảm mạnh , Việt nam bắt đầu nới lỏng chính sách tài chính, tiền

tệ và tốc độ tăng trưởng GDP của quý đạt 6,55%

Quý IV/2008, Việt Nam đã nhanh chóng chuyển từ chính sách đấu tranh vớilạm phát trong vài tháng trước thành nới lỏng để hỗ trợ kinh tế phát triển Ngân

Trang 24

hàng Nhà nước Việt Nam đã tiến hành những biện pháp nới lỏng mạnh nhằm tăngtính thanh khoản cho ngân hàng và tạo điều kiện tiếp cận vốn vay cho doanhnghiệp Vì vậy năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 mức tăng trưởng đã chậmlại rõ rệt Năm 2008 tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.2 % trong khi 3 tháng đầu năm

2009 tăng trưởng GDP chỉ đạt 3,1% Năm 2008 Nông nghiệp chỉ tăng 3,8%, côngnghiệp tăng 6,3%, dịch vụ tăng 7,2% Đây là những mức tăng khiêm tốn nhất trong

10 năm trở lại đây và là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chững lại

2 Tiêu dùng toàn xã hội

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao những tháng đầu năm, sau đó lại là suy giảmtăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm khiến thu nhập thực tiễn của người tiêudùng Việt Nam giảm đáng kể, người tiêu dùng Việt Nam đã phản ứng bằng cáchthắt chặt chi tiêu cá nhân Tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng năm 2008 chỉ là 3,9 % mứctăng rất thấp nếu so với mức 9,6% của năm 2007 và tỷ lệ này tiếp tục suy giảmtrong những tháng đầu năm 2009

3 Chi tiêu chính phủ

Chi tiêu chính phủ tăng khoảng 8% trong năm 2008 giảm 1%so với mức tăngnăm 2007 Sự suy giảm này gây bởi từ chính sách tài khóa thắt chặt quyết liệt củachính phủ nhằm hạ nhiệt lạm phát Tuy nhiên một phần lớn phần ngân sách tiếtkiệm được này lại dùng để trả lương cho các công chức chính phủ do đó thâm hụt

Trang 25

ngân sách năm 2008 vẫn ở mức cao chiếm 5% GDP Mức thâm hụt ngân sách caocộng với nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu suy giảm khiến chính phủ khó lòng giatăng chi tiêu trong năm 2009 Điều này khiến chính sách kích cầu và nới lỏng tiền tệcủa chính phủ trở nên kém hiệu quả

4 Đầu tư toàn xã hội

Đầu tư trong năm 2008 đã tăng chóng mặt lên đến mức tăng 11.2% Mặc dù

có những mối quan ngại về nền kinh tế đang xấu đi nhưng đầu tư trực tiếp nướcngoài đăng kí vào Việt Nam vẫn tăng mạnh Luồng vốn FDI được duyệt lên đến 64

tỷ USD, gấp 3 lần năm 2007 Tuy nhiên trên thực tế vốn giải ngân thực sự ít hơnnhiều chỉ khoảng 11 tỷ USD Trong năm 2009 nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã có

sự suy giảm rõ rệt do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Thống

kê 3 tháng đầu năm 2009 Trong ba tháng đầu 2009 Việt Nam chỉ thu được 2,1 tỷUSD đầu tư nước ngoài.Số tiền cam kết cho các dự án đã khởi động dự tính sẽ đạt 6

tỷ USD trong ba tháng đầu năm, thấp hơn so với năm ngoái tới 40% Trong khi đóđầu tư công khó có khả năng tăng trở lại do thâm hụt ngân sách của Việt Nam đang

ở mức rất cao Các doanh nghiệp đang gặp khó khăn cả về vốn lẫn đầu ra sản phẩmnên họ cũng không mặn mà với việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Điềunày khiến cho tổng mức đầu tư toàn xã hội sẽ suy giảm mạnh trong năm 2009

Trang 26

Vốn đầu tư thực hiện năm 2008 theo giá trị thực hiện ước tính đạt 637.3 nghìn

tỷ đồng, tăng 22.2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực nhà nước là184.4 nghìn tỷ, chiếm 28.9 % tổng số vốn và giảm 11.4% Khu vực ngoài nhà nước

là 263 nghìn tỷ đồng, chiếm 41.3% tăng 42.7% Khu vực có vốn FDI 189.9 nghìn tỷđồng, chiếm 29.8 % và tăng 46.9%

Vốn đầu tư từ NSNN thực hiện trong năm 2008 đạt 100.9 nghìn tỷ bằng102.8% kế hoạch: Trung ương quản l ý 34.2 nghìn tỷ đồng, đạt 103 % kế hoạch.Địa phương quản lý 66.7 nghìn tỷ đồng, đạt 102.7%

Vốn đầu tư XDCB cả năm 2008 tăng cao so với cùng kỳ năm trứơc Tính đếntháng 12/2008, vốn rót vào khu vực Trung Ương tăng hơn 50% so với vốn đầu tưcủa khu vực địa phương

0 5000

10000

15000

T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T1 0 T1 1 T1 2

Vốn đầu tư XDCB 2008

Cả nước có 1171 dự án FDI mới dược cấp phép trong năm 2008 với số vốnđăng ký đạt 60.3 tỷ USD Bình quân vốn đăng ký của một dự án năm nay đạt 51.5triệu USD so với mức bình quân 12.5 triệu USD/dự án của năm 2007

5 Xuất khẩu

Giá trị xuất khẩu năm 2008 ước tính đạt 62.9 tỷ USD, tăng 29.5% so với cùng

kỳ năm 2007, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%.Khu vực đầu tư nước ngoài đạt 24.5 tỷ USD, tăng 26.8% Dầu thô đạt 10.5 tỷ USD,tăng 23.1%

Trang 27

Giá trị xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với năm 2007, chủ yếu

do giá trên thị trường thế giới tăng Trong đó có 8 nhóm mặt hàng đạt kim ngạchtrên 2tỷ USD là: Dầu thô, hàng dệt may, giầy dép, thuỷ sản, gạo, sản phẩm ghỗ,điện tử- máy tính, cà phê Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2008,Hoa Kỳ vẫn là đối tác lớn nhất, đạt 11.6 tỷ USD, tăng 14.5% so với năm 2007; thịtrường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cảc năm vẫnđạt 10.2 tỷ USD, tăng 31% so với năm trước, thị trường ED đạt 10 tỷ USD, tăng

15% so với năm trước Xuất khẩu năm 2008 cảu các loại hàng hoá tăng 29.5% so

với năm 2007

0 5000 10000

T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T1 0 T1 1 T1 2

Giá trị xuất khẩu

t ỷ đồng

Từ năm 2001 Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế hướng tớixuất khẩu và chiến lược này thực sự đã gặt hái được một số thành công Tuy nhiênnền kinh tế Việt Nam đã trở nên phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu khi xuất khẩuchiểm đến 70 % GDP Tuy nhiên cuộc khủng hoảng toàn câu hiện nay đã ảnhhưởng tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam do các thị trường tiêu thụ sản phẩmchính bị thu hẹp Thống kê cho thấy xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2009 khả ảm đạm.Mặc dù xuất khẩu của VN trong tháng 3 giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2008, chỉ

có 9/35 mặt hàng xuất khẩu được thống kê tăng, còn lại là giữ nguyên và giảmnhưng nhờ lượng tái xuất vàng, đá quý tăng vọt lên tới trên 2 tỉ USD trong ba thángđầu năm, giúp xuất khẩu cả quý 1 tăng 2,4% Tuy nhiên, ba tháng kim ngạch xuấtkhẩu mới đạt khoảng 19% kế hoạch năm Xuất khẩu ba tháng qua của hơn mười

Ngày đăng: 02/09/2012, 12:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng GDP từng năm - SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.DOC
ng GDP từng năm (Trang 24)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w