Bài viết mô tả một số đặc điểm của chỉ số bạch cầu hạt chưa trưởng thành (IG) trên công thức máu của bệnh nhân bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 130 trẻ được chẩn đoán bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 1/2019 – 7/2021.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỈ SỐ BẠCH CẦU HẠT CHƯA TRƯỜNG THÀNH (IG)
TRÊN CÔNG THỨC MÁU Ở TRẺ BẠCH CẦU CẤP
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Trần Đức Hưng 1,3 , Nguyễn Minh Tuấn 1,2 , Phan Nguyễn Liên Anh 1,2 ,
Cao Trần Thu Cúc 1 , Lương Thị Xuân Khánh 1 ,
Nguyễn Thuỳ Dương 1 , Đỗ Hoàng Cúc 3
TÓM TẮT 75
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm của chỉ số
bạch cầu hạt chưa trường thành (IG) trên công
thức máu của bệnh nhân bạch cầu cấp tại bệnh
viện Nhi Đồng 1
Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 130 trẻ được chẩn
đoán bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ
1/2019 – 7/2021
Kết quả: Hơn 94% trường hợp giảm ít nhất
2 dòng tế bào máu trên công thức máu Có 58,5%
trường hợp ghi nhận tế bào báo động trong công
thức máu, gồm các tế bào như Atypical Cells
(CA), Atypical Lymphocytes (LA), hồng cầu
nhân Gần 50% trường hợp tăng tế bào bạch cầu
hạt chưa trưởng thành (IG) Đặc biệt, 100%
trường hợp đều ghi nhận ít nhất 1 trong 3 dấu
hiệu bất thường sau: giảm ít nhất 2 dòng tế bào
máu, ghi nhận tế bào báo động, và tăng bất
thường chỉ số IG Tất cả trường hợp ghi nhận tế
bào bạch cầu báo động thuộc IG (n=12) đều
không phải là AML
1 Bệnh viện Nhi Đồng 1
2 Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
3 Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Chịu trách nhiệm chính: Trần Đức Hưng
SĐT: 0969.753.403
Email: drhungtran2010@gmail.com
Ngày nhận bài: 01/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 01/8/2022
Kết luận: Tăng IG là một dấu chỉ gợi ý cho
những tình trạng bệnh lý như nhiễm trùng, viêm hay bệnh lý ung thư như bạch cầu cấp Nghiên cứu chỉ ra rằng, 100% trường hợp BCC đều ghi nhận ít nhất 1 trong 3 dấu hiệu bất thường sau: giảm ít nhất 2 dòng tế bào máu, ghi nhận tế bào báo động, và tăng bất thường chỉ số IG Tuy vậy, chỉ số này vẫn chưa thực sự được chú ý trên thực hành lâm sàng Vì vậy, cần chú ý hơn chỉ số IG trên công thức máu, tránh bỏ sót, nhằm chẩn đoán sớm hơn và cải thiện tiên lượng điều trị bạch cầu cấp
Từ khoá: Bạch cầu cấp trẻ em, công thức
máu, bạch cầu hạt chưa trưởng thành
SUMMARY CHARACTERISTICS OF IMMATURE GRANULOCYTE (IG) VALUE
IN COMPLETE BLOOD COUNT
OF LEUKEMIA AT CHILDREN’S HOSPITAL 1
Objectives: Illustrate characteristics of
Immature Granulocyte (IG) value in complete blood count of leukemia at Children’s Hospital 1
Methods: Cross section study of 130
children who were diagnosed of leukemia at
Children’s Hospital 1 from 1/2019 to 7/2021
Results: Decrease of at least two blood cell
lineages was recorded in more than 94% of cases Abnormal cell, such as CA, LA, normoblast …, was seen on complete blood
Trang 2that IG was elevated in around 50% of cases
Especially, 100% of cases was recorded at least
one of three abnormal manifestations: at least
two blood cell lineages were decreased, abnormal
cells were noted, and value of IG was increased
All cases which reported abnormal white blood
cells in IG were not diagnosed of AML
Conclusions: Increased IG is a suggestive
marker for medical conditions such as infection,
inflammation, or cancer, such as acute
leukemia It was pointed out that 100% of cases
was recorded at least one of three abnormal
manifestations: at least two blood cell lineages
were decreased, abnormal cells were noted, and
value of IG was increased However, this
indicator has not really been noticed in clinical
practice As a result, it is necessary to pay more
attention to the IG value on complete blood
count, in order to improve prognosis of leukemia
Keywords: Leukemia, complete blood count,
Immature Granulocyte (IG)
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Công thức máu từ lâu là một xét nghiệm
sàng lọc ban đầu rất quan trọng trong bệnh lý
BCC Ở bệnh nhân BCC, công thức máu
thường ghi nhận bất thường [1],[2],[3]
Những năm gần đây, nhiều loại máy dùng để
thực hiện xét nghiệm công thức máu đã được
phát triển và nâng cấp hơn, không chỉ giúp
đọc những dòng tế bào máu thông thường
như hồng cầu, tiểu cầu, neutrophil,
lymphocyte, monocyte, eosinophil,
basophil,… mà còn có thể phát hiện những
dòng tế bào khác như tế bào máu chưa
trưởng thành, hồng cầu nhân, … [4] và được
biểu thị trên công thức máu bằng những chỉ
số như IG (Immature Granulocyte – bạch cầu
hạt chưa trưởng thành), LUC (Large
Unstained Cell – tế bào lớn không bắt màu),
hay ALY (Atypical Lymphocyte – tế bào lympho không điển hình), IMM (Immature Monocyte – tế bào đơn nhân chưa trưởng thành), IML (Immature Lymphocyte – tế bào lympho chưa trưởng thành), … tùy thuộc vào dòng máy Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận chỉ
số IG trên công thức máu là một chỉ số có giá trị giúp nhận biết và theo dõi BCC [5, 6] Mặc dù vậy, cho đến hiện tại, chỉ số này vẫn chưa được thực sự chú ý trên thực hành lâm sàng [5] Tại bệnh viện Nhi Đồng 1, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về chỉ số này Vì vậy, chúng tôi muốn thực hiện đề tài:
“Đặc điểm của chỉ số bạch cầu hạt chưa trưởng thành (IG) trên công thức máu ở trẻ bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ
2019 – 2021”, nhằm góp phần cải thiện chẩn
đoán và tiên lượng bệnh ở trẻ bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 trẻ được chẩn đoán bạch cầu cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 2019 – 2021 Công thức máu được phân tích bởi dòng máy XN2000 của Sysmex
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Tất cả trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi nhập viện Nhi Đồng 1 từ 1/2019 – 7/2021 được chẩn đoán bạch cầu cấp qua các xét nghiệm khảo sát tủy như tủy
đồ, sinh thiết tủy… Bệnh nhân được chẩn đoán bạch cầu cấp khi các xét nghiệm khảo sát tủy như tủy đồ và/hoặc sinh thiết tủy ghi nhận số lượng tế bào blast ≥ 20% [7],[8],[9] Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ đã được truyền máu trước lúc nhập viện trong vòng 6 tuần [10]
Đề tài nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng Y đức bệnh viện Nhi đồng 1
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tần suất giảm các dòng tế bào máu
Bảng 10 Mức độ giảm các dòng tế bào trên công thức máu
Tần suất (n = 130) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Hơn 94% trường hợp có giảm 2 dòng tế bào máu trở lên Chỉ 4,6% trường hợp
giảm 1 dòng và đúng 1 trường hợp (0,7%) không giảm dòng tế bào máu nào
Bảng 11 Biểu hiện các dòng tế bào trên công thức máu
Tần suất (n = 130) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Số lượng Bạch cầu ghi nhận
giảm trong ¼ trường hợp Bạch cầu >
50.000/uL chiếm 9,2%, >100.000/uL trong
3,1% và > 200.000/uL trong 1,5% trường
hợp Giảm Neutrophil chiếm 60% trường
hợp Giảm Neutrophil < 500/uL ghi nhận
trong 26,1% trường hợp Chỉ 5 trường hợp
(3,8%) ghi nhận giảm Lymphocyte Gần như
tất cả các trường hợp đều ghi nhận thiếu máu trên công thức máu (97,7%) Tiểu cầu giảm trong 86,1% trường hợp Bạch cầu hạt chưa trưởng thành (IG) tăng trong gần 50% trường hợp
3.2 Tế bào báo động
58,5% trường hợp (76/130) ghi nhận tế bào báo động trong công thức máu
Bảng 12 Các loại tế bào báo động trong công thức máu
Tế bào báo động Tần suất (n = 130) Tỉ lệ gặp trong công thức
máu (%)
LA: Atypical Lymphocyte; CA: Atypical Cells
Trang 4Nhận xét: Trên công thức máu, tế bào
không điển hình (CA) ghi nhận trong 43,1%
trường hợp, hồng cầu nhân ghi nhận trong
17,7%, lympho không điển hình (LA) ghi
nhận gần 6,9%, và bạch cầu non (blast) ghi
nhận trong 3,8% Chỉ đúng 1 trường hợp ghi
nhận myelocyte trong công thức máu Gần
9% trường hợp công thức máu chỉ ghi nhận
hồng cầu nhân mà không ghi nhận tế bào bạch cầu non nào khác Gần 2% trường hợp công thức máu chỉ ghi nhận LA mà không ghi nhận thêm tế bào bạch cầu non nào khác 100% trường hợp đều ghi nhận ít nhất 1 trong 3 dấu hiệu sau: Giảm ít nhất 2 dòng tế bào máu, ghi nhận tế bào báo động trên công thức máu, và tăng chỉ số IG
Bảng 13 IG và AML
1 *
* Phép kiểm định Chi bình phương
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về biểu hiện tăng IG giữa
AML và BCC những dòng khác (p > 0,05,
phép kiểm định Chi bình phương)
Ngoài ra, tất cả trường hợp ghi nhận tế
bào bạch cầu báo động thuộc IG (n=12) đều
không phải là AML mà là những dòng BCC
khác như ALL, biphenotype, …
IV BÀN LUẬN
Công thức máu là một xét nghiệm sàng
lọc ban đầu rất quan trọng trong bệnh lý
BCC Ở bệnh nhân BCC, công thức máu
thường ghi nhận bất thường [1], [2], [3] Y
văn lâu nay ghi nhận, bệnh nhân bạch cầu
cấp đa phần giảm ít nhất 2 dòng tế bào máu
tại thời điểm chẩn đoán [11] Nghiên cứu của
chúng tôi chỉ ra rằng, hơn 93% trường hợp
giảm ít nhất 2 dòng tế bào máu ngoại biên
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của
Moussavi, với khoảng 90,7% trường hợp
[12]
Trong những năm gần đây, nhờ sự tiến
bộ trong những dòng máy phân tích công
thức máu, giúp phân biệt tế bào lạ hoặc tế
bào khác [5], và biểu thị chúng dưới dạng những chỉ số như IG, EGC, LUC, LIC… tùy thuộc vào dòng máy IG là viết tắt của chữ Immature Granulocytes, bao gồm metamyelocyte, myelocyte hoặc promyelocyte [13] Tăng chỉ số IG là một dấu chỉ gợi ý cho những tình trạng u tăng sinh liên quan đến tủy như AML, CML,… [14] Chỉ số này đang hứa hẹn sẽ giúp ích nhiều cho việc phát hiện và chẩn đoán sớm các bệnh lý về máu trong thời gian tới [5] Mặc dù vậy, cho đến hiện tại, chỉ số này vẫn chưa được thực sự chú ý trên thực hành lâm sàng [5] Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, tăng IG ghi nhận trong khoảng 50% trường hợp Kết quả trên chỉ ra rằng, tăng IG trên công thức máu là một dấu hiệu rất thường gặp ở bệnh nhân bạch cầu cấp Do vậy, cần chú ý nhiều hơn đến chỉ số này trong công thức máu, tránh bỏ xót nhằm cải thiện chẩn đoán sớm bạch cầu cấp
Tế bào bất thường, đặc biệt là dòng bạch cầu, rất thường gặp ở máu ngoại vi trong bệnh lý bạch cầu cấp [3] Nghiên cứu ghi nhận, 57,9% trường hợp công thức máu và
Trang 5nhận tế bào báo động Hồng cầu nhân, hoặc
Normoblasts, là tế bào hồng cầu chưa trưởng
thành và vẫn còn nhân Bình thường hồng
cầu nhân không thể chui qua hàng rào tủy
xương – mạch máu để vào hệ tuần hoàn [15]
Phát hiện hồng cầu nhân ở máu ngoại biên
chỉ điểm một tình trạng bệnh lý bất thường
báo động của cơ thể như thiếu Oxy máu
nặng, nhiễm trùng nặng, hoặc một tình trạng
tủy bị xâm lấn như Ung thư máu … [16]
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, Hồng
cầu nhân phát hiện ở máu ngoại biên trong
17,6% trường hợp Trong đó, gần 9% trường
hợp công thức máu ghi nhận Hồng cầu nhân
mà không ghi nhận tế bào bạch cầu non nào
khác Tuy vậy, lâu nay các bác sĩ lâm sàng
vẫn chỉ chú ý vào tế bào blast và thường bỏ
qua ý nghĩa của Hồng cầu nhân trong bệnh lý
BCC Vì vậy, cần chú ý hơn giá trị hồng cầu
nhân, đặc biệt trong những trường hợp không
phát hiện tế bào blast ở máu ngoại biên,
nhằm cải thiện khả năng phát hiện sớm BCC
LA, là viết tắt của Atypical Lymphocyte
Mặc dù được xếp vào nhóm tế bào báo động
trên công thức máu, LA bản chất là một tế
bào lành tính, gặp trong những bệnh lý
nhiễm siêu vi như tăng đơn nhân nhiễm
khuẩn, ho gà… [3] Tuy vậy, đôi khi LA rất
dễ bị nhầm lẫn với những tế bào ác tính khác
như Blast cell… nếu được đọc bởi máy hoặc
bởi một bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm
[17], [3] Nghiên cứu chỉ ra rằng, LA được
ghi nhận ở máu ngoại biên trong 6,9%
trường hợp làm công thức máu Trong đó,
gần 2% trường hợp công thức máu ghi nhận
LA mà không ghi nhận thêm tế bào bạch cầu
non nào khác Vì vậy, khi ghi nhận tế bào
LA trên công thức máu nhưng không phù
hợp với bệnh cảnh lâm sàng, cần chú ý phải
kiểm tra phết máu ngoại biên, thậm chí có
lần 3 bởi một bác sĩ huyết học cận lâm sàng
có kinh nghiệm, để phân biệt LA với những
tế bào ác tính khác như blasts … [17]
Nghiên cứu ghi nhận, 100% trường hợp
có bất thường ở máu ngoại biên (giảm ít nhất
2 dòng tế bào máu, ghi nhận tế bào bất thường trên công thức máu hoặc phết máu ngoại biên, tăng bất thường chỉ số IG trên công thức máu) Tuy vậy, vẫn còn nhiều trường hợp chẩn đoán trễ hoặc bỏ sót, làm xấu đi tiên lượng điều trị của bệnh nhân Nguyên nhân có thể do việc bác sĩ sàng lọc ban đầu bỏ sót tình trạng giảm 2 hoặc 3 dòng
tế bào máu ngoại biên hoặc không nhận thức được tầm quan trọng của một số tế bào báo động khác trên công thức máu ngoài tế bào blasts, CA như Hồng cầu nhân, LA, hoặc không quan tâm đến dòng tế bào IG trên công thức máu
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biểu hiện tăng bất thường chỉ số IG giữa AML và BCC những dòng khác (p > 0,05, phép kiểm Chi bình phương) Bên cạnh đó, tất cả trường hợp ghi nhận tế bào bạch cầu báo động ở nhóm tế bào IG (n=12) đều không phải là AML mà là những dòng BCC khác như ALL, biphenotype, … Những kết quả trên có thể do hạn chế của việc đếm tế bào IG bằng công thức máu, do máy có thể
vô tình đếm sai những tế bào bất thường/ tế bào non khác ngoài promyelocyte, myelocyte hay metamyelocyte, làm sai lệch kết quả IG [18] Vì vậy, dù IG là một dấu chỉ có giá trị gợi ý BCC, không nên dùng nó để phân biệt AML với những dòng BCC khác
V KẾT LUẬN
Bạch cầu cấp là bệnh lý ung thư thường gặp nhất ở trẻ em với biểu hiện lâm sàng rất
Trang 6nghiệm sàng lọc ban đầu rất quan trọng trong
bệnh lý BCC vì thường ghi nhận bất thường
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận chỉ số IG trên
công thức máu là một chỉ số có giá trị giúp
nhận biết và theo dõi BCC Vì vậy, cần chú ý
hơn chỉ số IG trên công thức máu trong thực
hành lâm sàng, tránh bỏ sót, nhằm chẩn đoán
sớm hơn và cải thiện tiên lượng điều trị bạch
cầu cấp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hà, T.T.H., Nghiên cứu đặc điểm, giá trị
tiên lượng của một số yếu tố sinh học và lâm
sàng ở trẻ em bị bạch cầu cấp dòng lymphô
tại bệnh viện Nhi trung ương Tạp chí Y học
Hà Nội, 2004
2 Khanh, N.C., Bệnh lơxêmi cấp, in Huyết
học lâm sàng Nhi khoa 2008, Nhà xuất bản
Y học p 410- 447
3 Nikitaev, V., et al., The blood smear image
processing for the acute leukemia
diagnostics International journal of biology
and biomedical engineering, 2016 10
4 England, J.M., ICSH guidelines for the
evaluation of blood cell analysers including those
used for differential leucocyte and reticulocyte
counting Int J Lab Hematol, 2014
5 Haider, R.Z., et al., Mature and
Immature/Activated Cells Fractionation:
Time for a Paradigm Shift in Differential
Leucocyte Count Reporting? Diagnostics,
2021 11(6): p 922
6 Tohyama, K., et al., Automated Analysis of
Differentiation-Induced Leukemic Cells
During All-Trans Retinoic Acid Therapy of
Acute Promyelocytic Leukemia Archives of
Pathology & Laboratory Medicine, 2003
127(1): p e4-e10
7 Xuyên, N.T., Lơ xê mi cấp, in Hướng dẫn
chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý Huyết
học, P.T.N.T Xuyên, Editor 2015, Bộ Y tế
p 6-12
8 Friehling, E., et al., Acute Lymphoblastic
Leukemia, in Nelson's textbook of pediatrics
2019, Elsevier p 10411-10427
9 Friehling, E., et al., Acute Myelogenous
Leukemia, in Nelson Textbook of Pediatrics
2019, Elsevier p 10432-10438
10 Zeb Jan, A., et al., Pancytopenia in children:
A 6-year spectrum of patients admitted to Pediatric Department of Rehman Medical Institute, Peshawar Pakistan journal of
medical sciences, 2013 29(5): p 1153-1157
11 Kaplan, J.A., Leukemia in Children
Pediatrics in Review, 2019 40(7): p 319-331
12 Moussavi, F., et al., The first CBC in
diagnosis of childhood acute lymphoblastic
leukemia intjmi, 2014 3(1): p 0-0
13 Smock, K.J., Examination of the Blood and
Bone Marrow, in Wintrobe’s Clinical Hematology 2019, Wolters Kluwer: Philadelphia p 182-231
14 Che, Y.-Q., et al., Identification of immature
granulocytes in cancer chemotherapy patients
by cell counting vs microscopic examination
of blood smears Molecular and clinical
oncology, 2014 2(2): p 207-211
15 Stachon, A., et al., Nucleated red blood cells
in the blood of medical intensive care patients indicate increased mortality risk: a prospective cohort study Critical care
(London, England), 2007 11(3): p R62-R62
16 Constantino, B.T and B Cogionis,
Nucleated RBCs—Significance in the Peripheral Blood Film Laboratory Medicine,
2000 31(4): p 223-229
17 Brigden, M.L., et al., Infectious mononucleosis in an outpatient population: diagnostic utility of 2 automated hematology analyzers and the sensitivity and specificity
of Hoagland's criteria in heterophile-positive patients Arch Pathol Lab Med, 1999
123(10): p 875-81
18 Hotton, J., et al., Performance and
Abnormal Cell Flagging Comparisons of Three Automated Blood Cell Counters: Cell-Dyn Sapphire, DxH-800, and XN-2000 American Journal of Clinical Pathology,
2013 140(6): p 845-852