1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm chỉ số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu lympho và chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho máu ngoại vi ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính

6 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm chỉ số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu lympho và chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho máu ngoại vi ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính
Tác giả Tạ Việt Hưng, Nguyễn Trung Kiên, Lê Việt Thắng
Trường học Bệnh viện Quân y 103
Chuyên ngành Huyết học - Truyền máu
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 534,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát đặc điểm chỉ số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu lympho và chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 101 bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối điều trị tại khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện quân y 103 và 55 người khỏe mạnh bình thường có tuổi, giới tương đồng từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2021.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ BẠCH CẦU ĐOẠN TRUNG TÍNH TRÊN BẠCH CẦU LYMPHO VÀ CHỈ SỐ TIỂU CẦU TRÊN BẠCH CẦU LYMPHO MÁU NGOẠI VI Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN TÍNH

Tạ Việt Hưng 1 , Nguyễn Trung Kiên 1 , Lê Việt Thắng 1

TÓM TẮT 68

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm chỉ số bạch cầu

đoạn trung tính trên bạch cầu lympho (NLR) và

chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho (PLR) ở

bệnh nhân bệnh thận mạn tính Đối tượng và

phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên

101 bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối

điều trị tại khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện quân

y 103 và 55 người khỏe mạnh bình thường có

tuổi, giới tương đồng từ tháng 03/2020 đến tháng

06/2021 Kết quả: Giá trị trung vị của chỉ số

NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu lần

lượt là 2,65 và 134,17 Giá trị trung vị của NLR

và PLR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm

bệnh nhân suy thận mạn tính thận nhân tạo chu

kỳ so với nhóm chứng người khỏe mạnh với p <

0,001 Tỷ lệ tăng NLR là 42,6% và tỷ lệ tăng

PLR là 10,9% Có 34,7% số bệnh nhân có tăng

đơn thuần NLR, 3% số bệnh nhân có tăng đơn

thuần PLR và 7,9% số bệnh nhân có tăng cả

NLR và PLR Kết luận: Giá trị trung vị của chỉ

số NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân bệnh thận

mạn tính cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng

khỏe mạnh với tỉ lệ tăng lên tới 42,6% với NLR

và 10,9% với PLR

Từ khóa: NLR, PLR, bệnh thận mạn tính

1

Bệnh viện Quân y 103

Chịu trách nhiệm chính: Tạ Việt Hưng

SĐT: 0988.363.888

Email: hungtv103@gmail.com

Ngày nhận bài: 08/8/2022

Ngày phản biện khoa học: 08/8/2022

SUMMARY

Objectives: Evaluation the characteristics of

neutrophil to lymphocyte ratio (NLR) and platelet to lymphocyte ratio (PLR) in chronic

kidney disease patients Subjects and methods:

A cross-sectional study was conducted on 101 end-stage chronic kidney disease patients who treated at Nephrology and Hemodialysis Department, Military Hospital 103 and 55 healthy people with similarities in age and

gender, from March 2020 to June 2021 Results:

The median values of NLR and PLR in study group were 2.65 and 134.17, respectively The median values of NLR and PLR in study group were significantly higher than in control group with p-value < 0.001 The proportion of elevated NLR was 42.6% while the proportion of elevated PLR was 10.9% There were 34.7% of patients with merely elevation of NLR, 3% of patients with merely elevation of PLR, and 7.9% of patients with elevation of both NLR and PLR

Conclusion: The median values of NLR and

PLR in study group were significantly higher than in control group with the increasing proportions of 42.6% for NLR and 10.9% for PLR

Keywords: NLR, PLR, chronic kidney

disease

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tình trạng viêm mạn tính rất phổ biến và

có liên quan đến các biến cố lâm sàng bất lợi như bệnh tim mạch và tử vong do mọi

Trang 2

với suy dinh dưỡng và dẫn đến thiếu hụt

protein - năng lượng (protein-energy

wasting), gây ra tỷ lệ tử vong cao bất thường

ở bệnh nhân lọc máu [1], [2], [3] Hiện nay,

protein phản ứng C (CRP), Procalcitonin

(PCT), interleukin-6 (IL6) và yếu tố hoại tử

khối u-α (TNF- α) là các dấu ấn rất có giá trị

đánh giá viêm, tuy nhiên việc đo lường

chúng rất tốn kém và/hoặc khó tiếp cận dễ

dàng được trong thực hành lâm sàng [4] Chỉ

số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu

lympho (NLR) và chỉ số tiểu cầu trên bạch

cầu lympho (PLR) được tính toán từ công

thức máu toàn phần, có liên quan chặt chẽ

với tình trạng suy dinh dưỡng và viêm Các

nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng NLR và

PLR có liên quan đến tình trạng viêm, tổn

thương nội mô mạch máu và có thể dự đoán

tử vong ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ

[5], [6] Tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ

yếu tập trung vào đánh giá giá trị của CRP,

PCT, IL-6 huyết tương ở bệnh nhân bệnh

thận mạn tính (BTMT), chưa có nhiều

nghiên cứu đánh giá về chỉ số NRP và PLR ở

nhóm bệnh nhân này Vì vậy, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu này nhằm khảo sát chỉ số

NLR và PLR ở bệnh nhân bệnh thận mạn

tính

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu trên 156 đối tượng

chia 2 nhóm:

- Nhóm bệnh: 101 bệnh nhân bệnh thận

mạn tính giai đoạn cuối điều trị tại khoa

Thận - Lọc máu Bệnh viện quân y 103

- Nhóm chứng: 55 người khỏe mạnh

bình thường có tuổi, giới tương đồng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu

mô tả cắt ngang

2.2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian: từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2021

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Thận – Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

* Hỏi và khám lâm sàng: Khai thác tiền

sử bệnh, các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể của bệnh

* Xét nghiệm cận lâm sàng:

+ Xét nghiệm sinh hóa máu (ure, creatinin, glucose, protein, albumin, các chỉ

số lipid máu, điện giải, CRP…): Thực hiện trên hệ thống xét nghiệm Sinh hóa tự động AU640, Beckman Coulter, Mỹ Các xét nghiệm đã được công nhận tiêu chuẩn chất

lượng theo ISO 15189:2012

+ Xét nghiệm huyết học (Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, công thức bạch cầu, huyết sắc

tố, hemoglobin Tính toán chỉ số NLR và PLR): Thực hiện trên hệ thống máy xét nghiệm huyết học tự động Unicel DxH 600 của hãng Beckman Coulter, Mỹ sử dụng nguyên lý trở kháng, xung điện cộng hưởng

đa chiều và tia laser Máy xét nghiệm đã được công nhận tiêu chuẩn chất lượng theo ISO 15189:2012

* Công thức tính các chỉ số NLR, PLR:

- Chỉ số NLR= số lượng bạch cầu đoạn trung tính (G/L) / số lượng của bạch cầu lympho (G/L)

- Chỉ số PLR = số lượng tiểu cầu (G/L) /

số lượng của bạch cầu lympho (G/L)

2.3 Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý

bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 của IBM

Trang 3

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 So sánh tuổi, giới nhóm bệnh và chứng

Nhóm

chứng (1)

(n=55)

Tuổi trung bình (năm) 36,5 ± 5,43 39,29 ± 7,79 38,58 ± 7,32 Nhóm bệnh

nhân (2)

(n=101)

Tuổi trung bình (năm) 38,19 ± 9,36 38,49 ± 10,01 38,41 ± 9,8

- Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 38,41 tuổi, khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng

- Tuổi trung bình giữa nam và nữ ở cả 2 nhóm đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 2 So sánh chỉ số NLR, PLR nhóm bệnh và chứng

Chỉ số Nhóm chứng (n=55) Nhóm bệnh (n=101) p

NLR

Trung vị (Tứ phân vị)

1,69 (1,4 – 1,97)

2,65 (2,04 – 3,1) < 0,001

PLR

Trung vị (Tứ phân vị)

111,85 (93,93 – 128,65)

134,17 (109,73 – 163,66) < 0,001

Giá trị trung vị của chỉ số NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 2,65 và 134,17 Giá trị trung vị của NLR và PLR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân suy thận mạn tính thận nhân tạo chu kỳ so với nhóm chứng người khỏe mạnh với p < 0,001

Bảng 3 Tỷ lệ bệnh nhân tăng chỉ số NLR và PLR

Có 42,6% số bệnh nhân có tăng chỉ số NLR và 10,9% số bệnh nhân có tăng chỉ số PLR so với khoảng tham chiếu của nhóm chứng khỏe mạnh

Trang 4

Bảng 4 Tỷ lệ BN theo số chỉ số tăng

Tỷ lệ bệnh nhân có cả 2 chỉ số bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất (54,5%) Có 34,7% số bệnh nhân có tăng đơn thuần NLR, 3% số bệnh nhân có tăng đơn thuần PLR và 7,9% số bệnh nhân có tăng cả NLR và PLR

Biều đồ 1 Tỷ lệ bệnh nhân có tăng ít nhất 1 trong 2 chỉ số NLR hoặc PLR (n=101)

Có tới gần một nửa số bệnh nhân (45,5%) có tăng ít nhất 1 trong 2 chỉ số NLR hoặc PLR

IV BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên

101 bệnh nhân BTMT cho độ tuổi trung bình

là 38,41 tuổi Trong đó, nhóm tuổi dưới 40

chiếm tỷ lệ cao nhất (65,3%) Không có sự

khác biệt có ý nghĩa về độ tuổi trung bình

giữa nam và nữ ở cả nhóm nghiên cứu và

nhóm đối chứng Tuổi trung bình trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các

nghiên cứu của Phan Thị Thu Hương [7],

cứu khác trên thế giới [3], [9] Sở dĩ độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối có chỉ định ghép thận Đây đa phần là các bệnh nhân trẻ tuổi, còn đang trong độ tuổi lao động, cần có một biện pháp điều trị thay thế thận tốt hơn đó là ghép thận Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân nam

Trang 5

nam/nữ xấp xỉ 3/1 Sự chênh lệch về tỷ lệ

nam/nữ là do tính ngẫu nhiên của việc lựa

chọn mẫu nghiên cứu Thông thường, tỷ lệ

bệnh nhân nam mắc BTMT thường cao hơn

bệnh nhân nữ

Khi khảo sát đặc điểm chỉ số NLR và

PLR ở bệnh nhân BTMT, chúng tôi nhận

thấy giá trị trung vị của chỉ số NLR và PLR

ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là

2,65 và 134,17 Giá trị trung vị của NLR và

PLR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm

bệnh nhân nghiên cứu so với nhóm chứng

người khỏe mạnh với p < 0,001 Có 42,6%

số bệnh nhân có tăng chỉ số NLR và 10,9%

số bệnh nhân có tăng chỉ số PLR so với

khoảng tham chiếu của nhóm chứng khỏe

mạnh Tỷ lệ bệnh nhân có cả 2 chỉ số bình

thường chiếm tỷ lệ cao nhất (54,5%) Có

34,7% số bệnh nhân có tăng đơn thuần NLR,

3% số bệnh nhân có tăng đơn thuần PLR và

7,9% số bệnh nhân có tăng cả NLR và PLR

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là tương

đồng với nghiên cứu của Yaprak M và cộng

sự năm 2016 (với giá trị trung vị của NLR và

PLR lần lượt là 2,52 và 130,4) [9] và Brito

GMC và cộng sự 2021 (với giá trị trung vị

của NLR và PLR lần lượt là 2,11 và 121,95)

[10]; tuy nhiên lại thấp hơn so với các nghiên

cứu của Nguyễn Văn Chí và cộng sự (giá trị

trung vị chỉ số NLR là 2,97 và tỷ lệ tăng

NLR là 52,1%) [8] Chúng ta có thể nhận

thấy, giá trị trung bình chỉ số NLR và PLR là

khác nhau giữa một số nghiên cứu Sự khác

nhau như chủng tộc, đối tượng nghiên cứu, các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu khác nhau hoặc cũng có thể là do

sự khác nhau về phương pháp điều trị đã được áp dụng cho bệnh nhân Nhưng nhìn chung, tất cả các nghiên cứu đều nhận thấy rằng giá trị trung bình của chỉ số NLR và PLR đều tăng ở các bệnh nhân bệnh thận mạn tính có hoặc chưa điều trị thay thế thận

Ở bệnh nhân BTMT, quá trình viêm, suy dinh dưỡng và tổn thương mạch máu là phổ biến Các hiện tượng này có mối quan hệ nhân quả với nhau, và chúng là những yếu tố độc lập tiên lượng mức độ nặng, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này Bằng chứng hiện tại cho thấy rằng các cytokine đóng vai trò chính trong phức hợp viêm-suy dinh dưỡng-vữa xơ mạch máu Suy dinh dưỡng, thiếu axit béo, vitamin, nguyên tố vi lượng, làm suy giảm sản xuất cytokine Mặt khác, nhiễm trùng làm tăng sản xuất cytokine tiền viêm gây cản trở tình trạng dinh dưỡng bằng cách làm suy yếu hoạt động trao đổi chất và gây cho người bệnh không muốn ăn Suy dinh dưỡng protein làm thay đổi phản ứng miễn dịch tế bào T và giảm sức đề kháng với nhiễm trùng [1]

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu chỉ số NLR và PLR ở

101 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối được chỉ định ghép thận, so sánh với 55 người khoẻ mạnh tương đồng tuổi và giới,

Trang 6

trung vị của chỉ số NLR và PLR ở nhóm

bệnh nhân bệnh thận mạn tính cao hơn có ý

nghĩa so với nhóm chứng khỏe mạnh (p <

0,001), với tỉ lệ tăng lên tới 42,6% với NLR

và 10,9% với PLR Có 34,7% số bệnh nhân

có tăng đơn thuần NLR, 3% số bệnh nhân có

tăng đơn thuần PLR và 7,9% số bệnh nhân

có tăng cả NLR và PLR

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Khor B H., Narayanan S S., Sahathevan

S., et al (2018) Efficacy of Nutritional

Interventions on Inflammatory Markers in

Haemodialysis Patients: A Systematic

Review and Limited Meta-Analysis10(4)

2 Zha Y., Qian Q (2017) Protein Nutrition

and Malnutrition in CKD and ESRD

Nutrients, 9(3)

3 Chávez Valencia V, Orizaga de la Cruz C,

Mejía Rodríguez O, et al (2017)

Inflammation in hemodialysis and their

correlation with neutrophil-lymphocyte ratio

and platelet-lymphocyte ratio Nefrologia,

37(5): 554–556

4 Catabay C., Obi Y., Streja E., et al (2017)

Lymphocyte Cell Ratios and Mortality

among Incident Hemodialysis Patients

American Journal of Nephrology, 46(5):

408-416

5 Valga F., Monzón T., Henriquez F., et al

(2019) Neutrophil-to-lymphocyte and

platelet-to-lymphocyte ratios as biological

markers of interest in kidney disease Nefrologia, 39(3): 243-249

6 Turkmen Kultigin, Erdur Fatih Mehmet, Ozcicek Fatih, et al (2013)

Platelet-to-lymphocyte ratio better predicts inflammation than neutrophil-to-lymphocyte ratio in end-stage renal disease patients Hemodialysis International, 17(3): 391-396

7 Phan Thị Thu Hương Nguyễn Trung Kiên, Lê Việt Thắng (2017) Nghiên cứu

nguy cơ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn tính, thận nhân tạo chu kì bằng chỉ

số NRI Tạp chí Y Dược học Quân sự, 6: 41 -

47

8 Chí Nguyễn Văn (2020), Nghiên cứu tỷ số

bạch cầu trung tính/lympho máu ngoại vi và nồng độ CRP huyết tương ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ, Luận văn Thạc sỹ y học, Học viện Quân Y

9 Yaprak Mustafa, Turan Mehmet Nuri, Dayanan Ramazan, et al (2016)

Platelet-to-lymphocyte ratio predicts mortality better than neutrophil-to-lymphocyte ratio in hemodialysis patients International Urology and Nephrology, 48(8): 1343-1348

10 Brito Gysllene M C., Fontenele Andrea

M M., Carneiro Erika Cristina R L., et

al (2021) Neutrophil-to-Lymphocyte and

Platelet-to-Lymphocyte Ratios in Nondialysis Chronic Kidney Patients International journal of inflammation, 2021: 6678960-6678960

Ngày đăng: 01/01/2023, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w