Nội soi cắt hớt niêm mạc tiêu hóa là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu để loại bỏ ung thư khỏi đường tiêu hóa của bệnh nhân mà không cần phải cắt bỏ cơ quan có liên quan. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả điều trị ung thư sớm đường tiêu hóa bằng phương pháp cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi nhân hai trường hợp tại Bệnh viện Thanh Nhàn.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ SỚM ĐƯỜNG TIÊU HÓA BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẮT TÁCH DƯỚI NIÊM MẠC QUA NỘI SOI NHÂN HAI TRƯỜNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
Nguyễn Thị Mai Hương*, Dương Văn Tân*, Nguyễn Thành Vinh* TÓM TẮT 50
Đặt vấn đề: Nội soi cắt hớt niêm mạc tiêu
hóa là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu để loại bỏ
ung thư khỏi đường tiêu hóa của bệnh nhân mà
không cần phải cắt bỏ cơ quan có liên quan
Phương pháp: Mô tả ca lâm sàng
Kết quả: Trường hợp 1 bệnh nhân nam, chẩn
đoán polyp trực tràng type 0-Is (phân loại
Paris),bệnh nhân sau can thiệp ngày thứ 07 ra
viện Trường hợp thứ 2 bệnh nhân nữ được chẩn
đoán polyp manh tràng type 0-IIa+Is (phân loại
Paris), bệnh nhân sau can thiệp ngày thứ 04 ra
viện Cả 2 đều ra viện ổn định
Kết luận: Phương pháp nội soi cắt tách dưới
niêm mạc (ESD) có nhiều ưu điểm trong điều trị
bệnh lý ung thư sớm đường tiêu hóa
Từ khóa: nội soi cắt tách dưới niêm
mạc (Endoscopic Submucosal Dissection-ESD)
SUMMARY
ASSESSMENT EFFECTIVE EFFECTS
OF EARLY TREATMENT OF
GASTROINTESTINAL CANCER BY
SUBMUCOSAL ABLATION THROUGH
ENDOSCOPIC DOUBLE-REMOVAL
OF TWO CASES AT THANH NHAN
HOSPITAL
*Bệnh viện Thanh Nhàn
Background: Endoscopic gastrointestinal
mucosal resection is a minimally invasive procedure to remove cancer from a patient's gastrointestinal tract without the need to remove the relevant organ
Subjects and methods: Describe the clinical
case
Results and discussion: Case 1 male patient,
diagnosed rectal polyp type 0-Is (Paris classification), the patient was discharged on the 7th day after the intervention In the second case,
a female patient was diagnosed with cecal polyposis type 0-IIa+Is (Paris classification), the patient was discharged on the 4th day after the intervention Both have been discharged from the hospital
Conclusion: Endoscopic submucosal dissection (ESD) has many advantages in the treatment of early gastrointestinal cancers
Keywords: Endoscopic Submucosal Dissection-ESD
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý ung thư đường tiêu hóa hiện nay khá phổ biến và có tỷ lệ cao so với các ung thư khác Các bệnh lý ung thư đường tiêu hóa hay gặp nhất là ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng Bệnh lý ung thư dạ dày, theo Quách Trọng Đức, tỷ lệ ung thư dạ dày
Trang 2ung thư Theo Trần Bình Thắng, năm 2017,
tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng ở Việt Nam
là 21 người /100.000, với tỷ lệ tử vong là
13,9 người / 100.0002
Tại Hoa Kỳ, ước tính sẽ có 44.180 các
chẩn đoán mới về ung thư trực tràng chỉ tính
riêng trong năm 20193 Mặc dù Điều trị tiêu
chuẩn cho ung thư đại trực tràng tiến triển
theo truyền thống được coi là cắt bỏ trước,
các phương thức thay thế ít xâm lấn hơn
chẳng hạn như nội soi cắt tách dưới niêm
mạc (ESD) đã nổi lên như những phương
pháp điều trị hiệu quả để cắt bỏ cục bộ các
khối u đại trực tràng giảm tỷ lệ mắc bệnh
liên quan so với phẫu thuật truyền thống So
với phẫu thuật thông thường, ESD ít xâm lấn
hơn, dẫn đến ít hậu quả hơn giảm đau, phục
hồi nhanh hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn
và hơn thế nữa nhanh chóng trở lại cuộc sống
hàng ngày4,5,6 Trong khi ESD là một kỹ
thuật cắt bỏ chuyên biệt cho phép cắt bỏ các
tổn thương đại trực tràng bằng phương pháp
nội soi, một con dao kim đã sửa đổi để bóc
tách dưới niêm mạc Kỹ thuật ESD được coi
là thủ tục xâm lấn tối thiểu để điều trị lành
tính u tuyến đại trực tràng ESD là một thủ
thuật phức tạp, bên cạnh nhưng lợi ích thì thủ
thuật này có những biến chứng như thủng
đường tiêu hóa, chảy máu đường tiêu hóa
Theo Takamaru H, Saito Y, tỷ lệ thủng màng
cứng trong ESD đại trực tràng là khoảng
1,4% ~ 10,4%, hoặc 4,2% (3,5 ~ 5,0%) trong một thời gian gần đây7,8 Chảy máu sau ESD
là một trong những biến chứng quan trọng, các tỷ lệ chảy máu sau ESD được báo cáo dao động từ 0,6% đến 26,9%9,10 Phần lớn chảy máu xảy ra trong vòng 24 giờ sau thủ thuật11,12
GIỚI THIỆU CA LÂM SÀNG 2.1 Trường hợp 1:
Bệnh nhân nam 62 tuổi, số bệnh án 0203 Tiền sử đái tháo đường typ II, tăng huyết áp, điều trị thường xuyên, vào viện ngày
05/12/2021
Lý do vào viện: bí đái ngày thứ 2
Khám lâm sàng: Bệnh nhân tỉnh, không sốt, bụng mềm, không chướng, ấn không đau, không rối loạn phân
Cận lâm sàng: Nội soi đại trực tràng có hình ảnh polyp trực tràng: polyp chân rộng kích thước khoảng 3cm màu giống với niêm mạc nền trên hình ảnh ánh sáng trắng, type 0-Is (phân loại Paris), trên hình ảnh NBI là tổn thương type II (theo phân loại NICE), tiến hành sinh thiết 03 mảnh polyp Kết quả sinh thiết: u tuyến ống nhú có loạn sản mức
độ vừa Xét nghiệm bạch cầu: 12,86 G/L, hồng cầu: 4,82 T/L, tiểu cầu: 233 G/L, đông máu PT%: 139,8% Kết quả CT- Scaner và siêu âm ổ bụng không hình ảnh bất thường
Trang 3Thủ thuật: Can thiệp ngày 20/12/2021,
tiến hành soi đại trực tràng, đánh giá toàn bộ
tổn thương dạng polyp chân rộng Tiến hành
tiêm phồng dưới niêm mạc tổn thương bằng
dung dịch cao phân tử Dùng dao Dual-2 mở
niêm mạc, cắt vòng xung quanh, cắt xung
quanh tổn thương, phẫu tích dưới niêm mạc,
bóc tách tổn thương bằng dao Dual- Knife
Lấy toàn bộ tồn thương làm GPB, cầm máu
diện cắt bằng kìm kẹp cầm máu coagrapsper
Can thiệp kéo dài 60 phút Sau can thiệp
Theo dõi, bệnh nhân được ra viện sau 07 ngày can thiệp
2.2 Trường hợp 2: Bệnh nhân nữ 70 tuổi,
số bệnh án 9487 Tiền sử chưa phát hiện bất thường, vào viện ngày 05/04/2022
Lý do vào viện: Kiểm tra sức khỏe Khám lâm sàng: Bệnh nhân tỉnh, không sốt, bụng mềm, không chướng, ấn không đau, không rối loạn phân
Cận lâm sàng: Nội soi đại trực tràng có hình ảnh polyp manh tràng Hình ảnh polyp
Trang 4loại Paris), trên hình ảnh NBI là tổn thương
type II (theo phân loại NICE), (tiến hành sinh
thiết 03 mảnh polyp) Kết quả sinh thiết: u
tuyến ống nhú có loạn sản mức độ thấp Xét
nghiệm bạch cầu: 9,11 G/L, hồng cầu: 5,19
T/L, tiểu cầu: 319 G/L, đông máu PT%:
117,2% Kết quả CT- Scaner và siêu âm ổ
bụng không hình ảnh bất thường
Thủ thuật: Can thiệp ngày 13/04/2022,
tiến hành soi đại trực tràng, đánh giá toàn bộ
tổn thương dạng polyp chân rộng Tiến hành
tiêm phồng dưới niêm mạc tổn thương bằng
dung dịch cao phân tử Dùng dao Dual-2 mở
niêm mạc, cắt vòng xung quanh, cắt xung quanh tổn thương, phẫu tích dưới niêm mạc, bóc tách tổn thương bằng dao Dual- Knife Lấy toàn bộ tổn thương làm GPB, cầm máu diện căt bằng kìm kẹp cầm máu
Can thiệp kéo dài 90 phút Sau can thiệp bệnh nhân ổn định, cho ăn sau 36h
Kết quả GPB sau can thiêp: diện cắt bên
và dưới không có u, trung tâm polyp: u tuyến ống có loạn sản mức độ thấp
Theo dõi, bệnh nhân được ra viện sau 04 ngày can thiệp
Trang 5III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Chẩn đoán: Ung thư đường tiêu hóa
sớm được định nghĩa là tổn thương ung thư ở
niêm mạc hoặc dưới niêm mạc thực quản,dạ
dày,đại tràng bất kể có hay không sự xuất
hiện di căn hạch bạch huyết khu vực (theo
Murakami và cộng sự 1962)
+ Lâm sàng: nghèo nàn, ít triệu chứng
+ Cận lâm sàng: nội soi được coi là tiêu
chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư đường tiêu hóa sớm Trong đó, nội soi ánh sáng trắng là kỹ thuật nội soi phổ biến nhất do kỹ thuật đơn giản và chi phí thấp Phát hiện và phân loại các polyp theo đặc điểm hình thái (hình dạng, kích thước ) của phân loại Paris (2002)
3.2 Một số phân loại hay dùng:
Bảng 1: Phân loại nội soi đại trực tràng quốc tế (NICE) hình ảnh dải hẹp
Bảng 2: Phân loại nội soi đại trực tràng JNET 2021
Trang 63.3 Chỉ định:
3.3.1 Tổn thương thực quản
- Chỉ định tuyệt đối với tổn thương tân
sinh, tổn thương được chẩn đoán ung thư bề
mặt thực quản khu trú lớp niêm mạc (cT1a
EP/LPM)
- Chỉ định tương đối với tổn thương ung
thư thực quản xâm nhập cơ niêm hay bề mặt
lớp dưới niêm mạc cT1a MM/ cT1bSM1
3.3.2 Ung thư dạ dày giai đoạn Ia (cTis,
cT1aNoMo): cắt u nội soi
3.3.2.1 Các phương pháp cắt u nội soi
➢ Cắt niêm mạc nội soi (Endoscopic
mucosal resection: EMR)
➢ Cắt dưới niêm mạc nội soi
(Endoscopic submucosal dissection: ESD)
3.3.2.2 Chỉ định cắt u qua nội soi
➢ Các khối u có chỉ định tuyệt đối cắt
qua nội soi
EMR và ESD được chỉ định cho khối u:
thể biệt hóa cao không có loét, chẩn đoán
lâm sàng giai đoạn T1a và kích thước dưới
2cm
➢ Các khối u chỉ định tương đối cắt qua
nội soi (chỉ định mở rộng)
- Các khối u rất ít khả năng di căn hạch và
không có xâm nhập mạch bạch huyết có thể
chỉ định cắt u nội soi Phương pháp ESD cắt
rộng rãi lớp dưới niêm mạc nên hay được
dùng hơn EMR
- Các khối u được chẩn đoán T1a và:
+ Thể mô bệnh học biệt hóa cao, không có
loét, kích thước > 2cm
+ Thể mô bệnh học biệt hóa cao, có loét,
và đường kính khối u ≤ 3cm + Thể mô bệnh học kém biệt hóa, không
có loét, và đường kính khối u ≤ 2cm
3.3.3 Tổn thương đại trực tràng 3.3.3.1 Các tổn thương khó cắt bỏ toàn
bộ tổn thương bằng kĩ thuật cắt hớt niêm mạc
➢ LST - NG, đặc biệt LST - NG giả loét
➢ Tổn thương cho thấy một mô hình lỗ tuyến loại VI
➢ Ung thư biểu mô với xâm lấn T1-SM1
➢ Các khối u có vùng lõm tuýp 0-IIc
➢ Các tổn thương dạng có cuống lớn nghi ngờ là ung thư biểu mô
3.3.3.2 Các tổn thương có xơ hóa dưới niêm mạc
3.3.3.3 Các tổn thương ung thư sớm còn lại hay tái phát tại chỗ sau khi cắt bỏ nội soi
3.4 Chống chỉ định:
➢ Nghi ngờ hội chứng mạch vành cấp
➢ Tăng huyết áp chưa kiểm soát được
➢ Nghi ngờ thủng tạng rỗng
➢ Nghi ngờ phình, tách động mạch chủ
➢ Người bệnh trong tình trạng suy hô hấp
➢ Người bệnh suy tim nặng
➢ Người bệnh rối loạn tâm thần không hợp tác
➢ Chống chỉ định tương đối: tụt huyết
áp tâm thu < 90 mmHg
3.4 Kỹ thuật:
Trang 7Hình minh họa:
➢ Nội soi theo quy trình chuẩn quan sát
kỹ tổn thương cần phải cắt hớt niêm mạc,
xác định ranh giới tổn thương
- Bắt đầu đánh dấu diện cần cắt tách dưới
niêm mạc cách ranh giới tổn thương khoảng
0,5 cm với tổn thương ở dạ dày và thực quản,
với đại tràng là không bắt buộc
- Dùng kim tiêm nội soi, tiêm nâng lớp
dưới niêm mạc bằng dung dịch cao phân tử,
ưu trương hay đẳng trương có pha với chất
chỉ thị màu Indigo Carmin
- Dùng dao đầu kim (Dual knife) cắt mở
niêm mạc một phần để bộc lộ lớp dưới niêm
mạc
- Dùng dao có đầu cách điện (IT knife) cắt
mở toàn bộ vùng niêm mạc quanh chu vi tổn
thương ngoài vị trí đánh dấu
- Sau đó tiếp cận ống soi vào lớp dưới
niêm mạc bóc tách lớp dưới niêm mạc lấy
➢ Theo dõi toàn trạng người bệnh trong toàn bộ quá trình làm thủ thuật
➢ Sau khi kết thúc thủ thuật, đánh và in kết quả, ghi hồ sơ, cho thuốc điều trị sau can thiệp
➢ Bệnh nhân phải nằm viện theo dõi sau can thiệp từ 1-7 ngày tùy từng bệnh nhân
➢ Dặn dò bệnh nhân theo dõi các triệu chứng sau can thiệp: đau bụng, buồn nôn, nôn máu, đại tiện phân máu, …
➢ Hướng dẫn bệnh nhân chế độ ăn uống sau can thiệp
➢ Thăm khám bệnh nhân hàng ngày
➢ Hướng dẫn người bệnh, bổ sung thêm phiếu xét nghiệm, sinh thiết nếu cần
➢ Điều dưỡng rửa máy theo quy trình
kỹ thuật
➢ Chuyển mảnh bệnh phẩm làm giải
Trang 8➢ Hội chẩn liên khoa sau khi có kết quả
giải phẫu bệnh khi cần thiết
3.5 Bàn luận
Qua 2 ca bệnh lâm sàng, chúng ta bàn
luận về 1 số vấn đề sau:
-Tuổi: Hai trường hợp bệnh đều >60 tuổi,
đây là độ tuổi có nguy cơ mắc ung thư dạ
dày đại tràng cao (Theo Phạm Thị Hoàng
Anh điều tra tỷ lệ mắc ung thư của dân số Hà
Nội năm 1988-1990, tỷ lệ mắc ung thư dạ
dày với nhóm bệnh nhân
> 55 tuổi là 65,48%( 148/226) với nam
giới và 66,67%( 76/114) với nữ giới, lần
lượt với ung thư đại tràng là 59,45%( 22/37)
với nam và 50%(17/34)14
- Giới: Hai trường hợp là 1 nam 1 nữ.(Tỉ
lệ ung thư dạ dày nam/nữ là 1,98
lần(226/114 ), và đại tràng là 1,08 lần(
37/34)14
- Lâm sàng:
Cả 2 bệnh nhân không có biểu hiện lâm
sàng rõ ràng, phát hiện tổn thương tình cờ
qua nội soi chẩn đoán Bệnh nhân thứ nhất
vào viện vì bí đái, bệnh nhân thứ hai vào
viện vì kiểm tra sức khỏe, nội soi tình cờ
phát hiện tổn thương
- Xét nghiệm:
Xét nghiệm máu cả hai bệnh nhân trong
giới hạn bình thường
- Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm và chụp
CT-Scaner ổ bụng không thấy tổn thương di
căn hay thứ phát
- Nội soi đại trực tràng chẩn đoán: Cả hai
trường hợp đều được chẩn đoán dựa vào kết
quả nội soi đại trực tràng toàn bộ và sinh
thiết Như vậy nội soi có giá trị chẩn đoán tốt
nhất trong trường hợp phát hiện tổn thương
sớm đường tiêu hóa
- Quá trình can thiệp:
Trường hợp thứ nhất: Can thiệp thuận lợi, thời gian can thiệp ngắn, do tổn thương tại vị trí trực tràng, khoảng cách với hậu môn ngắn, đoạn trực tràng ít di dộng
Trường hợp thứ hai: Can thiệp có nhiều khó khăn do vị trí tổn thương xa hậu môn (vị trí manh tràng), tổn thương sát van Bauhind, niêm mạc mỏng, tổn thương chân rộng, độ xâm lấn cao hơn
- Biến chứng và theo sõi sau mổ: Hai trường hợp đều được theo dõi biến chứng trong 24h đầu, ăn uống sau 24h và 36h, và đều không có biến chứng nghiêm trọng
- Tái phát:
Trường hợp thứ nhất: Ra viện sau 07 ngày, bệnh nhân không còn biểu hiện đau bụng
Trường hợp thứ hai: Ra viện sau 04 ngày, bệnh nhân không có biển hiện đau tức bụng hay chướng bụng
Hai trường hợp đều ra viện ổn định, nhưng thời gian nằm viện lâu so với Bệnh viện K3
V KẾT LUẬN
Qua 02 trường hợp can thiệp cắt tách niêm mạc qua nội soi( ESD) tại Bệnh viện
Thanh Nhàn chúng tôi thấy rằng ESD là thủ
thuật đạt hiệu quả cao trong việc điều trị tổn thương ung thư sớm đường tiêu hóa Đây là một phương pháp hiện đại, ít xâm lấn giúp bệnh nhân tránh được một cuộc mổ lớn, giảm thời gian nằm viện và giảm chi phí điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quach, D T., Ho, Q.-D D., Vu, K V., Vu,
K T., Tran, H V., Le, N Q., … Duong, H
M (2020) Improving Efficacy of Endoscopic
Trang 9Diagnosis of Early Gastric Cancer: Gaps to
Overcome from the Real-World Practice in
Vietnam BioMed Research International,
2020, 1–7 doi:10.1155/2020/7239075
2 Tran, B T., Pham, N H., Nguyen, T X.,
Choi, K S., Sohn, D K., Kim, S.-Y., … Oh,
J.-K (2020) Measurement of Health-Related
Quality of Life Among Colorectal Cancer
Patients Using the Vietnamese Value Set of
the EQ-5D-5L Patient Preference and
Adherence, Volume 14, 2427–
2437 doi:10.2147/ppa.s281500
3 McCarty, T R., Bazarbashi, A N.,
Hathorn, K E., Thompson, C C., &
Aihara, H (2019) Endoscopic submucosal
dissection (ESD) versus transanal endoscopic
microsurgery (TEM) for treatment of rectal
tumors: a comparative systematic review and
Endoscopy
doi:10.1007/s00464-019-06945-1
4 Park SU, Min YW, Shin JU et al (2012)
Endoscopic submucosal dissection or
transanal endoscopic microsurgery for
nonpolypoid rectal high grade dysplasia and
submucosa-invading rectal cancer Endoscopy
44:1031–1036
5 Park HW, Byeon JS, Park YS et al (2010)
Endoscopic submucosal dissection for
treatment of rectal carcinoid tumors
Gastrointest Endosc 72:143–149
6 Nam MJ, Sohn DK, Hong CW et al (2015)
Cost comparison between endoscopic
submucosal dissection and transanal
endoscopic microsurgery for the treatment of
rectal tumors Ann Surg Treat Res 89:202–
207
7 Takamaru H, Saito Y, Yamada M et al
Clinical impact of endoscopic clip closure of perforations during endoscopic submucosal dissection for colorectal tumors Gastrointest
Endosc, 84(3), 494-502.e491 (2016)
8 Saito Y, Fukuzawa M, Matsuda T et al
Clinical outcome of endoscopic submucosal dissection versus endoscopic mucosal resection of large colorectal tumors as determined by curative resection Surgical endoscopy, 24(2), 343-352 (2010)
9 S Ono, M Kato, Y Ono, et al., Effects of
preoperative administration of omeprazole on bleeding after endoscopic submucosal dissection: a prospective randomized controlled trial, Endoscopy 41 (2009) 299–
303
10 I Oda, H Suzuki, S Nonaka, S Yoshinaga, Complications of gastric endoscopic submucosal dissection, Dig Endosc (25 Suppl 1) (2013) 71–78
11 K Mannen, S Tsunada, M Hara, et al.,
Risk factors for complications of endoscopic submucosal dissection in gastric tumors: analysis of 478 lesions, J Gastroenterol 45 (2010) 30–36
12 D Libanio, M.N Costa, P Pimentel-Nunes,
M Dinis-Ribeiro, Risk factors for bleeding
after gastric endoscopic submucosal dissection: a systematic review and meta-analysis, Gastrointest Endosc 84 (2016) 572–586
13 Anh, P T H., Parkin, D., Hanh, N T., & Duc, N B (1993) Cancer in the population
of Hanoi, Vietnam, 1988-1990 British
Journal of Cancer, 68(6), 1236–1242