Bài viết Giá trị của Calprotectin trong chẩn đoán phân biệt bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu và hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy trình bày xác định điểm cắt tối ưu của Calprotectin phân biệt UC, IBS-D.
Trang 1GIÁ TRỊ CỦA CALPROTECTIN TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
BỆNH VIÊM LOÉT ĐẠI TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU VÀ
HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH THỂ TIÊU CHẢY
Vũ Thị Nhung 1,2 , Nguyễn Minh Hiền 1,2 , Đào Việt Hằng 3 ,
Trần Khánh Chi 3 , Nguyễn Thị Mai Hương 1
TÓM TẮT 42
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (Ulcerative
colitis: UC) và hội chứng ruột kích thích
(Irritable bowel syndrome: IBS-D) có nhiều đặc
điểm lâm sàng giống nhau Nội soi đại tràng và
sinh thiết là xét nghiệm tốt nhất để chẩn đoán
UC nhưng nó là thủ thuật xâm lấn và có nguy cơ
biến chứng Cần thiết có một phương pháp
không xâm lấn để phân biệt hai bệnh lý này
Mục tiêu: Xác định điểm cắt tối ưu của
Calprotectin phân biệt UC, IBS-D Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt
ngang trên 206 cá nhân ≥ 15 tuổi được đưa vào
nhóm nghiên cứu, trong đó có 27 người khỏe
mạnh, 115 người mắc IBS-D thể tiêu chảy
(IBS-D-D), 24 người chẩn đoán là UC và 13 người
chẩn đoán là CD Kết quả: giá trị trung vị của
calprotectin (khoảng IQR) ở người khỏe mạnh là
20,0 (28,0) µg/g; nhóm IBS-D: 15,0 (38,1) µg/g;
nhóm UC là 1835,0 (2373,8) µg/g; nhóm CD:
535,0 (2356,0) µg/g Nồng độ calprotectin ở
nhóm IBD bao gồm cả UC và CD cao hơn
IBS-D với p<0,05, không có sự khác biệt ở nhóm UC
và CD ở IBS-D và người khỏe mạnh (p>0,05)
Điểm cut-off tối ưu của calprotectin phân biệt
1
Bệnh viện Thanh Nhàn,
2 Trường Đại học Y tế Công Cộng,
3 Trường Đại Học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Minh Hiền
Email: hienshbvtn@gmail.com
Ngày nhận bài: 18/4/2022
Ngày phản biện khoa học: 15/5/2022
Ngày duyệt bài: 29/5/2022
IBS-D và IBD là 109,5 µg/g ; IBS-D và UC là
240 µg/g có độ nhạy độ đặc hiệu lần lượt là 97,2% và 92,3%, 95,8% và 97% Nồng độ calprotectin và triệu chứng đi ngoài phân máu là yếu tố có giá trị dự đoán IBD với p<0,05 và OR
lần lượt là 32,1 và 31,2 Kết luận: Xét nghiệm
miễn dịch Calprotectin có giá trị phân biệt bệnh
UC và IBS-D
Từ khóa: Calprotectin, viêm loét đại trực
tràng chảy máu (UC), hội chứng ruột kích thích (IBS-D), bệnh Crohn (CD), bệnh viêm ruột (IBD)
SUMMARY VALUE OF CALPROTECTIN IN DIFFERENTIATION DIAGNOSIS ULCERATIVE COLITIS FROM IRRITABLE BOWEL SYNDROME -
DIARRHEA
Introduction: Ulcerative colitis (UC) and
irritable bowel syndrome – diarrhea (IBS-D) has many similar clinical features Colonoscopy and biopsy are the single best test for the diagnosis of
UC, but it is invasive and carries a risk of complications A non-invasive method is needed
to differentiate these two diseases Aims:
determined the optimal Calprotectin cut‐off value for differentiating UC and IBS‐D
Methods: cross-sectional descriptive study on
206 individuals that over 15 years old included
27 healthy people, 115 IBS-D, 24 UC and 13
CD Results: The median calprotectin (interquartile range) were 20,0 (28,0) µg/g in
Trang 2healthy people group, 15,0 (38,1) µg/g in IBS-D;
1835,0 (2373,8) µg/g in UC, 535,0 (2356,0) µg/g
in CD Patients suffering from IBD (UC or CD)
showed significant higher concentrations of fecal
calprotectin compared to IBS-D (p<0,05) The
UC groups showed no significant difference
compared to CD, IBS to controls (p>0,05) The
optimal cut-off score calprotectin that
differentiates D to IBD is 109.5 µg/g;
IBS-D to UC is 240 µg/g had specific sensitivities of
97.2% and 92.3%, 95.8% and 97% respectively
Calprotectin levels and symptoms of hematuria
were predictive of IBD with p<0.05 and the OR
is 32.1 and 31.2, respectively Conclusion:
Calprotectin immunoassay can be used both to
distinguish between IBD and IBS-D patients
Key word: Calprotectin, ulcerative colitis
bleeding (UC), irritable bowel syndrome
(IBS-D), Crohn's disease (C(IBS-D), inflammatory bowel
disease (IBD), sensitivity, specificity
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ruột kích thích và bệnh viêm
ruột đều là những bệnh phổ biến và ảnh
hưởng đến đường tiêu hóa, tâm lý và chất
lượng cuộc sống của người bệnh Tỷ lệ mắc
bệnh IBS từ 5%- 20% dân số, tỷ lệ này thay
đổi theo từng nghiên cứu, theo từng vùng
dân cưb[1] Tại Hoa Kỳ, bệnh nhân được
phân bổ đồng đều giữa IBS với tiêu chảy
(IBS-D), IBS với táo bón (IBS-C) và IBS với
mô hình đại tiện hỗn hợp (IBS-M), trong khi
ở châu Âu, các nghiên cứu đã phát hiện ra
IBS-C (45,9%) hoặc IBS-D (50%) là nhóm
chính Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng
nhưng kéo dài làm người bệnh luôn lo lắng
căng thẳng mất ngủ, luôn luôn lo sợ bị các
bệnh hiểm nghèo khác của ruột Bệnh được
biết đến từ lâu nhưng cơ chế bệnh sinh của
bệnh hiện nay vẫn chưa rõ ràng, do đó chưa
có phương thức điều trị triệt căn, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn IBD bao gồm chủ yếu là UC và bệnh Crohn Cả hai đều gây ra các biến chứng nghiêm trọng và có thể dẫn đến các đoạn ruột phải được cắt bỏ Các triệu chứng biểu hiện của IBS-D và UC
có thể tương tự nhau nhưng phương pháp điều trị lại hoàn toàn khác nhau Xét nghiệm nội soi đại tràng vẫn là tiêu chuẩn vàng để phân biệt, đánh giá tình trạng viêm, tiến triển cũng như theo dõi điều trị của bệnh Tuy nhiên nội soi là thủ thuật xâm lấn, chi phí cao, gây đau và khó chịu có thể gặp tai biến, mất nhiều thời gian và khá phức tạp Vì vậy tìm một marker phân biệt hai bệnh lý đại tràng này mà có thể hạn chế được các thủ thuật can thiệp là hướng đi của các nhà khoa học trong thời gian gần đây
Calprotectin là một phức hợp protein được cấu tạo từ calci và kẽm liên kết với protein, có khả năng kìm chế sự phát triển của vi khuẩn Calprotectin chiếm hơn 60% tổng số protein trong bào tương của bạch cầu trung tính, sau quá trình thực bào, bạch cầu trung tính và các đại thực bào bị vỡ và giải phóng calprotectin xâm nhập vào niêm mạc ruột như một phần của đáp ứng viêm Calprotectin trong phân là dấu ấn sinh học đặc trưng cho tình trạng viêm đường ruột, là một tham số không xâm lấn, rẻ tiền và hiệu quả để chẩn đoán UC, với độ nhậy, độ đặc hiệu cao Calprotectin cũng là một dấu hiệu hữu ích để theo dõi điều trị và phát hiện sớm
sự tái phát bệnh của các loại viêm này Các nghiên cứu còn tiến tới cho phép so sánh các
Trang 3phương pháp thương mại sẵn có khác nhau,
các cá thể đặc chưng cho vùng miền để đưa
ra ngưỡng phát hiện có giá trị khoa học Để
tìm hiểu rõ hơn về Calprotectin chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
“Xác định giá trị của Calprotectin trong phân
biệt UC, IBS-D”
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mẫu nghiên cứu: 206 cá nhân ≥ 15 tuổi
được đưa vào nhóm nghiên cứu, trong đó có
27 người khỏe mạnh, 115 người mắc IBS-D,
24 người chẩn đoán là UC, 13 người chẩn
đoán là CD và 27 người khỏe mạnh
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân được
chẩn đoán xác định là IBS-D dựa vào tiêu
chuẩn chẩn đoán ROME IV Bệnh nhân UC
và CD được chẩn đoán xác định dựa vào
triệu chứng lâm sàng, nội soi đại tràng và mô
bệnh học Các bệnh nhân IBS-D, UC, CD
đều được nội soi đại tràng các trường hợp
nghi ngờ được thực hiện xét nghiệm mô
bệnh học để chẩn đoán xác định
+ Tiêu chuẩn loại trừ: phụ nữ có thai, kèm
theo viêm ruột do vi khuẩn, tiền sử phẫu
thuật đại trực tràng, có sử dụng một số loại
thuốc như NSAID
2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng
6/2021 đến tháng 6/2022
2.3 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hóa
sinh bệnh viện Thanh Nhàn
2.4 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên
cứu mô tả cắt ngang
- Kỹ thuật đo nồng độ Calprotectin
Nguyên lý: Xét nghiệm LIAISON
Calprotetin sử dụng công nghệ miễn dịch
hóa phát quang (CLIA), sử dụng 2 kháng thể
đơn dòng để bắt giữ và phát hiện calprotectin dùng trong chẩn đoán in vitro để định lượng calprotectin trong phân người Đầu tiên, calprotectin được tách chiết từ hỗn hợp của mẫu phân với đệm tách chiết (extraction buffer), sử dụng quy trình cân hoặc dụng cụ tách chiết LIAISON Calprotectin Stool Extraction Device Mẫu đã tách chiết/chất hiệu chuẩn/chất kiểm chứng được ủ với đệm xét nghiệm và hạt từ phủ kháng thể đơn dòng nhận diện đặc hiệu phức hợp calprotectin Sau khi ủ, tất cả những vật liệu không tham gia liên kết sẽ được loại bỏ bằng chu trình rửa Tiếp đó, chất cộng hợp (kháng thể đơn dòng nhận diện calprotectin gắn với một dẫn xuất isoluminol) được thêm vào phản ứng và ủ Các thành phần không tham gia liên kết sẽ được loại bỏ bằng chu trình rửa thứ 2 Sau đó, cơ chất được thêm vào và phản ứng hóa phát quang bắt đầu Tín hiệu ánh sáng được đo bởi bộ phân nhân quang dưới dạng đơn vị ánh sáng tương đối (RLU)
và tỷ lệ thuận với nồng độ calprotectin có trong chất hiệu chuẩn/ chất kiểm chứng/ mẫu bệnh phẩm
Thiết bị:
Máy xét nghiệm Liaison DiaSorin XL thực hiện xét nghiệm định lượng Calprotectin
Hệ thống máy sinh hóa tự động AU680 Beckman Coulter thực hiện các xét nghiệm sinh hóa tại khoa Hóa sinh bệnh viện Thanh Nhàn
- Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng
phần mềm SPSS 16.0 So sánh tỉ lệ % bằng phép kiểm định χ2 So sánh trung bình bằng kiểm định T-test Xác định yếu tố liên quan bằng đường cong ROC
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 2 Đặc điểm về tuổi và giới
(1)
(64,2%) 24 (13,4%) 13 (7,3%) 27 (15,1%)
0,34
Tuổi (mean
(SD) 47,7(12,8) 42,4 (15,3) 30,8 (9,8) 42,8 (9,9)
(1),(2),(3),(4)= 0,00 (1),(2),(4)=0,06
Nhận xét: Tỷ lệ nam cao hơn ở các nhóm, sự khác biệt về tỷ lệ nam và nữ không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05) Tuổi trung bình mắc bệnh CD thấp hơn tuổi mắc IBS-D và UC (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05) Không có sự khác biệt về tuổi ở nhóm IBS-D, UC
và nhóm người khỏe mạnh
Bảng 2: Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng
(1)
UC (2)
CD (3)
(1), (2), (3)/ IBS-D và IBD
Nhận xét: Các triệu chứng sốt, gầy sút, đi ngoài phân máu ở nhóm bệnh IBD (bao gồm cả
CD và UC cao hơn so với nhóm IBS-D (có ý nghĩa thống kê với p<0,05) Không có sự khác biệt về triệu chứng đau bụng ở nhóm bệnh nhân IBS-D với nhóm bệnh nhân IBD (p>0,05)
Bảng 3: Đặc điểm các xét nghiệm lâm sàng
Xét nghiệm IBS-D
(Median-IQR) (1)
UC (2)
CD (3)
(1), (2), (3)**/ IBS-D và IBD*
Bạch cầu
(G/L) 5,6 (2,8) 9,0 (3,4) 6,0 (5,2) 0,00/0,00 CRP (mg/L) 1,0 (2,0) 4,0 (13,3) 10,1 (28,5) 0,00/0,00 Máu lắng 1h 5,5 (12,9) 23,0 (33,0) 13,5 (19,2) 0,00/0,00
Na (mmol/L) 139 (3,0) 138 (3,5) 138 (3,0) 0,2/0,1 Protein (g/L) 75 (7,0) 65 (16,9) 69 (7,6) 0,03/0,001
Trang 5*IQR: (interquartile range – độ trải giữa)
** Sử dụng phép kiểm Kruskal – Wallis
*** Sử dụng phép kiểm Mann-Whitney
Nhận xét: số lượng bạch cầu, nồng độ
CRP, tốc độ máu lắng giờ thứ nhất ở nhóm
bệnh nhân IBD (bao gồm cả UC và CD) cao
hơn nhóm IBS-D, sự khác biệt có ý nghĩa thồng kê với p < 0,05 Nồng độ
protein trong máu ở nhóm IBD thấp hơn
có ý nghĩa thồng kê so với nồng độ protein ở nhóm IBS-D (p<0,05) Không thấy sự khác biết về nồng độ Natri trong máu ở nhóm IBD
và IBS-D (p>0.05)
3.2 Giá trị của calprotectin phân biệt IBS-D và UC
Bảng 4: Nồng độ của calprotectin ở nhóm bệnh IBS-D, UC và CD
UC CD IBS-D và IBD: 0,00
IBS-D và UC : 0,00 IBS-D và người khỏe mạnh : 0,96
UC và CD : 0,062
Nồng độ
Calprotectin
(µg/g)
20,0 (28,0) 15,0
(38,1)
1835,0 (2373,8)
535,0 (2356,0)
Nhận xét: Nồng độ calprotectin trong phân ở nhóm UC cao hơn nhóm IBS-D (p<0,05)
Nồng độ calprotectin không có sự khác biệt ở nhóm UC và CD (p>0,05)
Bảng 5: Hiệu quả chẩn đoán của calprotectin
Calprotectin(µg/g)
Độ nhạy Sens (%)
Độ đặc hiệu Spec (%)
IBS-D và IBD 0.976 0.95-1 0.00 109.5 97.2 92.3 IBS-D và UC 0,977 0,93-1 0,00 240 95,8 97,4
UC và CD 0,69
Người khỏe mạnh
và IBS-D 0,5
Nhận xét: Sử dụng đường cong ROC xác
định diện tích dưới đường cong (AUC) để
tìm giá trị phân biệt của calprotectin trong
các nhóm đối tượng khác nhau AUC để
phân biệt IBD và IBS-D là 0,976 với p<
0,05, điểm cut-off tối ưu của nồng độ
calprotectin là 109.5 µg/g Tại đó cho độ
nhạy 97.2 % và độ đặc hiệu 92.3 % AUC để phân biệt IBD và IBS-D là 0,977 với p< 0,05, nồng độ 240 µg/g của calprotectin có giá trị phân biệt UC và IBS-D có độ nhậy 95,8% và độ đặc hiệu là 97,4% Calprotectin không có giá trị để phân biệt UC và CD, người khỏe mạnh và IBS-D
Trang 6Bảng 6: Phân tích giá trị của calprotectin trong dự đoán mắc bệnh UC
kê p
hình hồi quy (-2 log likelihood): 27,6 -Tỷ lệ dự đoán đúng (Percentage Correct): 94,4 %
Calprotectin 32,1 1,004 – 1,025 0,007
Máu lắng 1h 1,008 0,92 -1,09 0,8
Đi ngoài phân
Sút cân, mệt mỏi 2,3 0,12 - 45,1 0,5
Nhận xét: Sử dụng phép phân tích hồi
quy Binary Logistic để ước lượng xác suất
chẩn đoán đúng IBD dựa trên kết quả lâm
sàng và cận lâm sàng hay gặp là số lượng
bạch cầu trong máu, nồng độ calprotectin,
nồng độ CRP, thời gian máu lắng giờ thứ 1,
triệu chứng có đi ngoài phân máu và sút cân,
mệt mỏi Kết quả cho thấy -2LL 27,6 không
cao lắm, thể hiện một độ phù hợp khá tốt của
mô hình tổng thể Tỷ lệ dự đoán đúng của
tổng thể mô hình là 94,4% Nồng độ
calprotectin và triệu chứng đi ngoài phân
máu là yếu tố có giá trị dự đoán IBD với
p<0,05
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên
cứu
IBS-D và UC là bệnh lý của đường tiêu
hóa có một số đặc điểm chung, có cơ chế
bệnh sinh chưa rõ ràng và liên quan đến
nhiều yếu tố Theo IBS-D hay gặp ở người
lớn ở đặc biệt là phụ nữ, và thường biểu hiện
ở độ tuổi từ 15 đến 65 tuổi IBD hay gặp ở
các nước phát triển chẳng hạn như Hoa Kỳ ở
Bắc Mỹ và Vương quốc Anh và các nước
bắc Âu nhưng hiện nay, tỷ lệ IBD gia tăng ở
châu Á, châu Đại Dương và châu Phi cận Sahara cũng được quan sát thấy Điều đó có
lẽ là do quá trình công nghiệp hóa, tình trạng kinh tế xã hội được cải thiện, cũng như những thay đổi trong chế độ ăn uống và lối sống [2] Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nhóm IBS-D là 47,7 bệnh nhân UC là 42,4 không khác biệt với tuổi của nhóm chứng khỏe mạnh Tuổi mắc bệnh ở nhóm
CD thấp hơn trung bình là 30,8±9,8 Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Vicente-Steijn, R và CS tuổi trung vị của bệnh nhân IBS-D: 36 (17), UC: 47 (30), CD:
37 (25) [3], tuổi mắc bệnh hay gặp ở 35 đến
50, đây là độ tuổi lao động nên tỷ lệ mắc bệnh gia tăng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và năng suất lao động Theo các nghiên cứu châu Âu và Mỹ tỷ lệ mắc bệnh IBS-D và IBD hay gặp ở nữ nhưng trong nghiên cứu này tỷ lệ nam nhiều hơn ở
cả nhóm IBS-D, UC và CD cũng theo một nghiên cứu của Jha, A K và cộng sự tuổi mắc bệnh IBD là 35 tuổi (từ 14–60), với tỷ lệ nam nữ là 2: 1 tỷ lệ nam, nữ mắc bệnh khác nhau giữa các khu vực có thể là do thói quen
Trang 7ăn uống, tình trạng căng thẳng, lo lắng, thay
đổi hệ vi sinh vật ở các địa dư khác nhau
IBS-D và UC có nhiều điểm tương đồng
về triệu chứng mà nhiều tác giả cho rằng mặc
dù đây là hai loại bệnh khác nhau nhưng có
nhiều điểm trùng lặp ở một mức độ nào đó
Cả hai bệnh đều có biểu hiện đau bụng, đầy
hơi, tiêu chảy, điều này gây khó khăn trong
chẩn đoán Sau khi tìm hiểu các triệu chứng
lâm sàng hay gặp ở cả nhóm IBS-D, UC và
CD chúng tôi thấy triệu chứng đau bụng gặp
ở hầu hết các bệnh nhân và không có sự khác
biệt ở nhóm IBS-D hay UC, CD Mặc dù có
sự khác biệt về tỷ lệ sốt ở nhóm UC so với
nhóm IBS-D nhưng tỷ lệ bệnh nhân có sốt rất
ít nên triệu chứng sốt ít có giá trị phân biệt
hai nhóm bệnh này Mệt mỏi, gày sút và đi
ngoài phân máu gặp nhiều ở nhóm bệnh IBD
bao gồm cả UC và CD hơn so với nhóm
IBS-D sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p<0,05 Theo ý kiến của các nhà lâm sàng
các dấu hiệu báo động như: Sốt, sụt cân và
chán ăn, phân có máu, nôn mửa, thiếu máu là
biểu hiện đặc trưng của IBD [2]
Nguyên nhân bệnh lý IBD và IBS-D đều
chưa rõ ràng Cơ chế bệnh sinh phức tạp của
IBS-D bao gồm nhiều yếu tố như sự thay đổi
về nhu động, cảm giác nội tạng, sự thay đổi
hệ trục não - ruột, hệ vi sinh vật, chuyển hóa
axit mật và tính thấm ruột Bên cạnh đó, kích
hoạt miễn dịch có thể liên quan đến tình
trạng viêm mức độ nhẹ Trên thực tế, sinh
thiết niêm mạc đại tràng của khoảng 2/3 số
bệnh nhân bị IBS-D cho thấy thâm nhiễm tế
bào mast dày đặc, giải phóng nhiều chất
trung gian, chẳng hạn như serine protease, có
thể là nguyên nhân gây ra chứng hưng phấn thần kinh và các triệu chứng IBS-D Hơn nữa, các thành phần thực phẩm và kháng nguyên được cho là đi qua hàng rào biểu mô
bị rò rỉ, dẫn đến sự xâm nhập và kích hoạt tế bào mast, do đó dẫn đến các triệu chứng IBS-D Vì các tế bào mast có thể được kích hoạt bởi các cơ chế giống như dị ứng và các xét nghiệm chích da tiêu chuẩn có độ nhạy
và độ đặc hiệu kém, phản ứng miễn dịch với thực phẩm trong IBS-D thậm chí đã được thử nghiệm trước đây với một phương pháp không thông thường Trong bệnh UC người
ta thấy có sự tăng hoạt động của hệ thống miễn dịch, thay đổi hệ thống thần kinh ruột, tăng cường tế bào hạch (ganglion cells), thâm nhiễm tế bào viêm Chính các biểu hiện viêm không đặc hiệu làm tăng phản ứng CRP, bạch cầu trong máu Trong các trường hợp UC người ta thấy có biểu hiện rối loạn điện giải, đặc biệt là giảm Natri do hiện tượng mất Natri qua phân Tình trạng thiếu máu, giảm protein cũng được ghi nhận do giảm dung nạp khi đường ruột bị tổn thương
và mất máu, albumin qua đường tiêu hóa Kết quả nghiên cứu ghi nhận có sự tăng bạch cầu, CRP, máu lắng giờ 1 ở nhóm bệnh IBD đặc biệt là UC hơn so với nhóm bệnh IBS-D Protein máu được ghi nhận có sự giảm ở bệnh nhân UC và CD hơn so với nhóm
IBS-D (p<0,05) Chúng tôi không thấy sự khác biệt về nồng độ Natri trong máu ở cả nhóm
UC, CD và IBS-D
4.2 Giá trị của calprotectin
Định lương calprotectin trên 27 người khỏe mạnh, 115 bệnh nhân bị IBS-D, 24
Trang 8bệnh nhân UC và 13 bệnh nhân bị CD kết
quả cho thấy nồng độ calprotectin cao nhất ở
nhóm UC, không có sự khác biệt về nồng độ
calprotectin ở nhóm UC và CD Không có sự
khác biệt về nồng độ Calprotectin ở nhóm
khỏe mạnh và nhóm IBS-D Một số nghiên
cứu ghi nhận nồng độ Calprotectin ở nhóm
IBD cao hơn so với nhóm khỏe mạnh và đã
xác nhận giá trị tham chiếu 50µg/g làm giới
hạn trên, một nghiên cứu đề xuất giá trị lên
đến 112µg/g ở những người trên 60 tuổi và
lên đến 186µg/g ở trẻ em từ 2 đến 9 tuổi, như
là phạm vi tham chiếu của Calprotectin trong
phân ở những người khỏe mạnh (dẫn theo
[4]) Trên thực tế sự chồng chéo các đặc
điểm lâm sàng giữa IBS-D và IBD dẫn đến
việc phải thực hiện nội soi nhiều hơn, một
thủ thuật xâm lấn làm cho người bệnh khó
chịu trong suốt quá trình chuẩn bị soi và đến
vài ngày sau khi soi nên tìm một giá trị
cut-off có thể phân biệt được IBS-D và IBD là
cần thiết Kết quả bảng 5 cho thấy giá trị
điểm cắt Calprotectin 109.5µg/g có giá trị
phân biệt IBD và IBS-D với độ nhậy là
97,2% và độ đặc hiệu là 92,3% Khi phân
biệt IBS-D và UC thì điểm cắt cao hơn
240µg/g, khi đó chúng ta có thể xác định tới
97,4% trường hợp không mắc bệnh Trong
một nghiên cứu khác được thực hiện trên 76
bệnh nhân bị viêm loét đại tràng, độ nhạy
98% và độ đặc hiệu là 96% ở ngưỡng
188μg/g đã được báo cáo về vấn đề này[5]
Caviglia và cộng sự báo cáo độ nhạy là
87,5% và độ đặc hiệu là 90,5% ở ngưỡng cắt
150μg/g đối với calprotectin trong phân giúp
phân biệt giữa IBS-D và IBD Kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy Calprotectin có ý nghĩa phân biệt IBD và IBS-D nhưng không thể dung xét nghiệm này để phân biệt UC và
CD (p>0,05) Phân tích hồi quy logistic đa biến với các xét nghiệm thường được sử dụng để chẩn đoán IBD như số lượng bạch cầu, nồng độ CRP, tốc độ máu lắng 1h, đi ngoài phân máu, sút cân …thì chỉ có nồng độ Calprotectin và dấu hiệu đi ngoài phân máu
có giá trị dự đoán IBD (p<0,01)
V KẾT LUẬN
Xét nghiệm Calprotectin trên máy miễn dịch LIAISONXL® của DiaSorin có giá trị tốt trong phân biệt bệnh UC và IBS thể tiêu chảy trên lâm sàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Borghini, R., et al.,, New insights in IBS-like
disorders: Pandora's box has been opened; a review Gastroenterol Hepatol Bed Bench,
2017 10(2): p p 79-89
2 Szałwińska, P., et al., IBS-Symptoms in IBD
Patients-Manifestation of Concomitant or
Different Entities J Clin Med, 2020 10(1)
3 Vicente-Steijn, R., et al., Analytical and
clinical performance of the fully-automated LIAISONXL calprotectin immunoassay from DiaSorin in IBD patients Pract Lab Med,
2020 21: p e00175
4 Khaki-Khatibi, F., et al., Calprotectin in
inflammatory bowel disease Clin Chim Acta,
2020 510: p 556-565
5 Jha, A.K., et al., Optimal cut-off value of
fecal calprotectin for the evaluation of ulcerative colitis: An unsolved issue? JGH
Open, 2018 2(5): p 207-213