1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ngân hàng số triển vọng và phát triển trong tương lai

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân hàng số - Triển vọng và phát triển trong tương lai
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn P. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 402,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng s ố - Triển vọng và phát tri ển trong tương lai Ngân hàng số NHS tại Việt Nam đang ở giai đoạn hình thành và ti ềm năng phát triển của NHS tại Việt Nam tương đối lớn, xuất phát

Trang 1

Ngân hàng s ố - Triển vọng và phát tri ển trong tương lai

Ngân hàng số (NHS) tại Việt Nam đang ở giai đoạn hình thành và ti ềm năng phát triển của NHS tại Việt Nam tương đối lớn, xuất phát từ nhu cầu thị trường, định hướng phát tri ển của ngành Ngân hàng và h ội nhập tài chính Tuy nhiên, vi ệc phát tri ển NHS tại Việt Nam đang đối mặt với những thách th ức từ những hạn chế của khung khổ pháp lý, các vấn đề nội tại của ngành Ngân hàng, các v ấn đề về bảo mật thông tin t ừ phía người dùng Một số giải pháp đối với tạo lập môi trường cho phát triển NHS, tập trung vào hoàn thi ện khuôn kh ổ pháp lý đ ối với phát triển NHS, cho phép đ ịnh danh khách hàng đi ện tử, khuyến khích sự phát triển của công nghệ tài chính, nâng cao giáo d ục và ph ổ cập kiến thức tài chính sẽ được nhóm tác giả đề xuất trong bài viết này

1 Quan điểm về ngân hàng số

Trong cuốn sách “Ngân hàng s ố: Chiến lược ra mắt hoặc trở thành m ột ngân hàng s ố”, Chris (2014) coi NHS là mô hình ho ạt động của ngân hàng

mà trong đó, các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng và dữ liệu điện tử

và công ngh ệ số, là giá trị cốt lõi của hoạt động ngân hàng Sharma (2016) tiếp cận khái ni ệm NHS là ngân hàng ứng dụng nền tảng công nghệ mới nhất đối với tất cả các chức năng và dịch vụ của ngân hàng, và ở mọi cấp

độ trong hoạt động của ngân hàng Như vậy, NHS được hiểu là một mô hình hoạt động của ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ số Cụ thể hơn,

là cách thức và quá trình ho ạt động của một tổ chức, dựa hoàn toàn trên nền tảng công nghệ tiên tiến, để thực hiện các chức năng c ủa một ngân hàng

Khái niệm NHS có phạm vi rộng hơn và toàn di ện hơn so với các khái niệm ngân hàng trực tuyến (online banking, internet banking), ngân hàng ảo (virtual bank), ngân hàng đi ện tử (e-banking), ngân hàng trực tuyến (direct bank) NHS đề cập tới việc ngân hàng tích hợp số hóa đối với toàn bộ các lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, ứng dụng số hóa trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính và trong c ả các hoạt động tương tác với khách hàng Trong khi đó, các khái niệm còn lại chỉ phản ánh một phần khía cạnh của việc áp dụng số hóa trong lĩnh v ực ngân hàng, như ch ỉ ứng dụng vào một loại dịch vụ (chuyển khoản, thanh toán, tư v ấn tài chính, quản lý tài

khoản), chứ không đòi h ỏi phải tích hợp số hóa đối với toàn b ộ hoạt động

Trang 2

của ngân hàng

Dựa trên nguyên tắc và mục tiêu ho ạt động của NHS, IBM (2015) phân lo ại NHS thành 4 hình thái, bao g ồm: (i) Chi nhánh NHS; (ii) Kênh phân ph ối NHS; (iii) Công ty con NHS; (iv) NHS thu ần túy C ụ thể: xem b ảng 1

Trước khi trở thành một mô hình hoạt động của ngân hàng trong thời đại số hóa, NHS cũng đã trải qua nhiều hình thái phát triển IBM (2015) cho rằng khi các ngân hàng truy ền thống bắt đầu áp d ụng máy móc vào cung c ấp các dịch vụ ngân hàng là nh ững viên g ạch đầu tiên cho sự hình thành c ủa mô hình NHS hi ện đại như hi ện nay Khi công ngh ệ ngày càng đư ợc ứng dụng nhiều hơn vào lĩnh v ực ngân hàng, sự phát triển của công nghệ mới, và đặc biệt sự ra đời của công ngh ệ tài chính (Fintech) đã khi ến mô hình hoạt động ngân hàng có bước thay đổi đột phá, hình thành mô hình hoạt động NHS thuần túy Các nhà nghiên c ứu của Học viện thông tin Massachusetts (MIT, 2017) cũng chia quá trình phát tri ển của NHS thành ba giai đoạn: Giai đoạn tăng cường ứng dụng máy móc và công nghệ vào lĩnh vực ngân hàng; Giai đoạn giao thoa NHS; và Giai đoạn NHS thuần túy

Việc ngân hàng chuy ển đổi từ mô hình kinh doanh truy ền thống sang NHS được gọi là số hóa ngân hàng Quá trình chuyển đổi này được nhiều tổ chức, ngân hàng nghiên c ứu và đưa ra các cách ti ếp cận khác nhau, khó có thể đưa ra một định nghĩa tiêu chu ẩn đối với quá trình chuyển đổi của các ngân hàng truyền thống sang một NHS [1] Một số cách tiếp cận phổ biến đối với khái niệm số hóa ngân hàng thường tập trung vào khía cạnh các ngân hàng chú tr ọng nâng cao dịch vụ khách hàng và tr ải nghiệm ngư ời

Trang 3

dùng, dựa trên nền tảng số hóa sự tương tác, kỳ vọng và tr ải nghi ệm của khách hàng trên cơ sở dữ liệu Quá trình chuyển đổi này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kết hợp, bao gồm: Sự lan tỏa và phát tri ển của các thành tựu công ngh ệ nổi bật của Cách mạng công ngh ệ 4.0 (Inte rnet k ết nối vạn vật (IoTs- Internet of Things); D ữ liệu lớn (Big Data); Trí tu ệ nhân tạo (AI-Atificial Intelligence); Công ngh ệ chuỗi khối (Blockchain)); Các m ốc phát triển của các thiết bị điện tử di động (điện thoại di động thông minh, máy tính bảng); Yêu cầu cắt giảm chi phí hoạt động của các ngân hàng truyền thống; Sự phát triển nhanh chóng c ủa công nghệ tài chính; và K ỳ vọng của khách hàng đ ối với các dịch vụ ngân hàng

2 Thực trạng ngân hàng s ố tại Việt Nam

Tại Việt Nam hi ện nay, chưa có NHS thu ần túy, xét theo cách hi ểu về NHS

là mô hình ho ạt động kinh doanh c ủa ngân hàng trong k ỷ nguyên s ố, ứng dụng nền tảng công nghệ mới nhất đối với tất cả các chức năng và d ịch vụ của ngân hàng, và ở mọi cấp độ trong hoạt động của ngân hàng Ngân hàng Timo đang được gọi là NHS duy nhất tại Việt Nam Ngân hàng mẹ của Timo là VPBank, đã tách hẳn kênh phân phối dịch vụ NHS thành một chi nhánh hoạt động độc lập trên n ền tảng số, những sản phẩm và d ịch vụ, chính sách marketing hoàn toàn độc lập với ngân hàng mẹ Ngân hàng

Timo vẫn sử dụng lại hệ thống back-end của ngân hàng mẹ Do đó, mô hình hoạt động của Timo là mô hình ho ạt động NHS chi nhánh, theo phân lo ại hình thái mô hình ho ạt động NHS của IBM (2015), mà không ph ải là mô hình NHS thuần túy

Phần lớn các ngâ n hàng nội địa Việt Nam hi ện tại đều có chi ến lược số hóa, và định hướng phát triển NHS Theo kết quả khảo sát của NHNN vào

tháng 4/2018, hi ện nay toàn hệ thống đã có 94% ngân hàng bư ớc đầu triển khai hoặc đang nghiên c ứu, xây dựng chiến lược chuyển đổi số, chỉ có 6% ngân hàng chưa tính đến việc xây dựng một chiến lược chuyển đổi số tổng thể Trên th ị trường, m ỗi ngân hàng đang có m ột định hướng khác nhau v ề NHS, tùy thuộc vào đối tượng khách hàng c ủa họ Chẳng hạn, NHTMCP Phương Đông (OCB) đẩy mạnh bán lẻ và phục vụ khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa chú tr ọng phát tri ển ngân hàng s ố để đem lại sự tiện lợi và nhiều dịch vụ nhất cho khách hàng N ếu như NHS Timo đi đ ầu cho cách mạng ngân hàng số với chủ trương ít chi nhánh, ít phòng giao d ịch, thì

Trang 4

Ngân hàng T MCP Tiên Phong (TPBank) l ại có chi ến lư ợc hướng đến việc phủ sóng mật độ các cây ATM tự động (LiveBank) Hình 1

Mức độ số hóa của các ngân hàng, ph ần lớn đang ở cấp độ Phi tập trung (Decentralized) và Chia s ẻ dịch vụ (Shared Services) Phần lớn các ngân

hàng nội địa Việt Nam đã triển khai NHS ở cấp độ chuyển đổi về quy trình

và kênh giao tiếp, chỉ có một số ít ngân hàng chuy ển đổi số hóa ở nền tảng

dữ liệu Về mặt quy trình, h ầu hết các ngân hàng t ốp đầu và tốp giữa (như BIDV, Techcombank, Vietcombank, TPBank, VPBank, ) đ ều đã hoàn thiện hệ thống giao dịch tự động, ứng dụng một phần dữ liệu lớn Về mặt kênh giao tiếp, một số ngân hàng đã ứng dụng công nghệ trí thông minh nhân tạo, máy tự học (learning machine) và đưa ra các d ịch vụ tư vấn tự động 24/7, thông qua các hộp hội thoại (chat box) tự động trên website ngân hàng hoặc các kênh m ạng xã hội (MB, Techcombank, ) Đ ối với văn phòng phía trước (front office), các ngân hàng đ ều đang cung cấp các dịch

vụ NHS, như ki ểm tra s ố dư, thanh toán hóa đơn, chuy ển khoản, đặt vé máy bay với giao diện người dùng thân thi ện, dễ sử dụng và không ngừng nâng cấp (iFast c ủa Techcombank, E -mobile banking c ủa Agribank, ) M ột số dịch vụ khác chỉ được 1 số ít ngân hàng cung c ấp như đầu tư (Agribank, Techcombank), mua s ắm trực tuyến (Agribank, Vietinbank), chuy ển khoản qua mạng xã hội (Techcombank),

Các NHTM Việt Nam đã và đang t ập trung đ ầu tư công nghệ, số hóa các nghiệp vụ lõi của ngân hàng nh ằm thay đ ổi hệ thống quản lý, dịch vụ phục

Trang 5

vụ khách hàng, nâng cao kh ả năng cạnh tranh Trong m ột báo cáo m ới đây, Công ty c ổ phần Báo cáo Đánh gi á Việt Nam (Vietnam Report) nh ận định, ngành tài chính đang đối mặt với những thay đổi lớn do các thành tựu công nghệ mang lại Nằm trong nhóm các qu ốc gia đang phát tri ển, Việt Nam đang ở những bước đầu phát triển dịch vụ tài chính trên di động và thị trường còn rất nhiều tiềm năng để khai thác Nắm bắt được xu thế này, nhiều NHTM đã t ập trung đầu tư công nghệ nhằm thay đổi hệ thống quản

lý, dịch vụ phục vụ khách hàng, nâng cao kh ả năng cạnh tranh trong cu ộc CMCN 4.0 Đã có 93% ngân hàng ph ản hồi khảo sát của Vietnam Report cho biết, hiện đang đầu tư đổi mới công ngh ệ và phát tri ển kênh bán hàng qua công nghệ số (internet banking, mobile banking…); 80% cho bi ết đang

số hóa các nghiệp vụ lõi của ngân hàng và thu hút lao đ ộng trong lĩnh v ực công nghệ cao và c ông ngh ệ thông tin

Một số vấn đề đặt ra đ ối với phát tri ển NHS tại Việt Nam trong giai đo ạn hiện nay là các vấn đề về hành lang pháp lý, v ấn đề nội tại của hệ thống ngân hàng và ki ến thức người tiêu dùng dịch vụ tài chính Cụ thể:

Khoảng trống trong hành lang pháp lý đ ối với quản lý, tạo điều kiện cho phát triển lĩnh vực công nghệ tài chính nói chung, NHS nói riêng M ột số hạn chế có thể kể tới như: Sự thiếu phù h ợp giữa các quy định về chứng từ điện tử hiện hành và tính chất đặc thù của những chứng từ điện tử phát sinh trong các giao d ịch số; Hệ thống văn b ản quy ph ạm pháp luật đối với các lĩnh vực chứng thực chữ ký số đã được ban hành nhưng còn nhiều hạn chế; Quy định xác định danh tính khách hàng tại quầy khiến tăng rào cản tiếp cận và sử dụng các dịch vụ NHS; NHNN chưa ban hành văn b ản quy đ ịnh chính thức nào cho các s ản phẩm tiết kiệm điện tử cũng như quy đ ịnh pháp

lý cụ thể cho các đ ại lý ủy quyền của ngân hàng; Hành lang pháp lý đ ối với bảo vệ quyền lợi của ngư ời tiêu dùng trong lĩnh v ực tài chính còn yếu kém; Vấn đề bảo vệ tính riêng tư d ữ liệu người dùng v ẫn chưa đảm bảo Thách thức đặt ra đối với cơ quan quản lý khi mà b ối cảnh phát triển của công nghệ tài chính đã vư ợt quá khuôn kh ổ pháp lý hiện hành Trong khi đó, các định chế tài chính và các dịch vụ tài chính truyền thống đang chịu nhiều ràng buộc pháp lý đ ể đảm bảo an toàn hệ thống thì các quy đ ịnh an toàn và pháp luật đối với các công ty Fintech ở Việt Nam còn chưa đ ầy đủ Việc ban hành các quy định luật pháp đối với Fintech nếu không được xem xét kịp thời và phù h ợp, có th ể tạo ra một sân chơi không công b ằng giữa

FinTech và các t ổ chức cung c ấp dịch vụ tài chính truyền thống, mà chủ

Trang 6

yếu là các NHTM

Nội tại hệ thống ngân hàng, các đ ịnh chế tài chính cũng đang ph ải đối mặt với một số vấn đề nhất định, khiến chiến lược phát triển NHS còn gặp trở ngại Mức độ đa dạng hóa lo ại hình d ịch vụ trong ngành Ngân hàng v ốn dĩ

đã không cao, chủ yếu tập trung vào cung ứng các dịch vụ ngân hàng

truyền thống là huy động vốn, cho vay và thanh toán M ột số dịch vụ mới với nhiều tiện ích còn khó tri ển khai do nhi ều lý do như h ạn chế về hạ tầng

kỹ thuật công nghệ, nhận thức của ngư ời dùng, năng l ực tài chính c ủa

NHTM, nguồn nhân lực chưa đáp ứng Hệ thống ngân hàng hi ện nay vẫn tồn tại một số bất cập cần phải giải quyết để lành mạnh hóa ho ạt động kinh doanh, giúp h ệ thống ngân hàng th ực hiện đúng chức trách của một trung gian tài chính trong n ền kinh tế

Mức độ an toàn bảo mật thông tin hi ện nay t ại Việt Nam chưa cao Theo số

liệu thống kê của Hiệp hội an toàn thông tin Vi ệt Nam (VNISA), năm 2017, các tổ chức tín dụng và ngân hàng đ ạt chỉ số an toàn thông tin là 59,9%, trong đó nhóm 25 ngân hàng có ch ỉ số đạt 60,9%, các tổ chức tín dụng khác

là 55,4% [2] Con s ố này vẫn thấp so với yêu cầu về an toàn thông tin

mạng đặt ra, đặc biệt khi trình đ ộ các hacker ngày càng cao X ếp hạng an toàn bảo mật thông tin các qu ốc gia trên thế giới, Việt Nam hiện xếp thứ

100, thuộc diện trung bình y ếu [3]ư Mức đầu tư trung bình cho an toàn, bảo mật thông tin trong các d ự án CNTT c ủa các tổ chức trên th ế giới

chiếm khoảng 15 - 25% thì t ại Việt Nam là 5% Tại Việt Nam, hành lang pháp lý cho vấn đề này còn chưa hoàn thi ện, khuôn kh ổ pháp lý còn ch ậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh và tình hình mới, đã và đang làm giảm cơ hội và tăng nguy cơ rủi ro Bảo mật thông tin cá nhân vẫn chưa đư ợc coi trọng bởi chính ngư ời dùng Internet t ại Việt Nam, đòi hỏi hệ thống ngân hàng ph ải có trách nhiệm xã hội nhiều hơn, quan tâm nhiều hơn đ ến tính an toàn và riêng tư trong thôn g tin của khách hàng và

có cách th ức phòng th ủ mới để bảo đảm an ninh m ạng Việc phát triển NHS trong khi không tăng cư ờng các biện pháp quản lý rủi ro an ninh mạng, năng lực tổ chức quản lý còn hạn chế, chưa am hiểu đầy đủ về đặc tính của

mô hình hoạt động mới sẽ tăng nguy cơ mất an toàn cho khách hàng, ngân hàng và h ệ thống

3 Xu hướng phát triển ngân hàng số trong thời gian tới

Trang 7

Trên toàn c ầu, hệ sinh thái NHS đang có xu hư ớng hình thành vào năm

2025 do những thay đổi từ xu hư ớng tiêu dùng c ủa khách hàng, mô hình

hoạt động, mô hình doanh thu, n ền tảng ngân hàng s ố, dữ liệu ngành Ngân hàng và chu ỗi giá trị ngân hàng (Gasser và c ộng sự, 2017) Các lo ại hình ngân hàng m ới có khả năng hình thành trong h ệ sinh thái NHS g ồm Ngân hàng giao d ịch và lưu ký s ố (Digital custody and transaction bank), NHS tư vấn (Digital advisory bank), NHS sinh thái (Digital ecosystem bank) và NHS chuỗi khối (Digital blockchain bank) Hình 2

Xu hướng hợp tác giữa các tổ chức tài chính và các công ty Fintech trong phát triển NHS sẽ tăng lên Tăng trư ởng về quy mô và số lượng của các

công ty Fintech trên toàn c ầu từ năm 2015 t ới nay đã bu ộc các ngân hàng phải công nhận áp l ực cạnh tranh từ các công ty Fintech, và có nh ững thay đổi trong chiến lược kinh doanh, chuyển hướng sang chú trọng vào các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao hơn Trong tương lai, xu hướng hợp tác giữa các công ty Fintech và ngân hàng đư ợc dự báo tiếp tục gia tăng với ước khoảng trung bình 82% số ngân hàng trên toàn cầu sẽ hợp tác với các công ty Fintech trong vòng 3 đ ến 5 năm t ới Kết quả các cuộc khảo sát của các công ty uy tín trên toàn c ầu như KPMG (2017), PwC

(2017), Capgemini (2018) đều cho thấy sự dịch chuyển trong suy nghĩ của ngân hàng, từ việc coi các công ty Fintech là các đ ối thủ cạnh tranh sang

Trang 8

đối tác phát triển chiến lược

Trong quá trình ch uyển đổi và phát tri ển NHS, d ịch vụ thanh toán số sẽ tiếp tục là một trong các d ịch vụ có tốc độ phát triển mạnh mẽ nhất, đặc biệt tại các quốc gia m ới nổi và đang phát tri ển Nhóm khách hàng sinh ra

trong k ỷ nguyên s ố (những khách hàng sinh sau năm 2000) và những khách hàng am hiểu công nghệ (những khách hàng sinh sau năm 1990) t ạo ra xu hướng sử dụng các dịch vụ NHS trong những năm tới, đặc biệt là dịch vụ thanh toán số Theo Báo cáo v ề xu hư ớng thanh toán do T ập đoàn Tài chính

JP Morgan Chase phát hành t rong năm 2017, ví đi ện tử và thanh toán s ố sẽ

là bước phát triển tất yếu của thế giới Forrester Research Inc ước tính thanh toán di động sẽ vượt mức 142 tỷ USD vào năm 2019, trong đó có vô

số cơ hội cho nền tảng thanh toán di đ ộng như Samsung Pay

Các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán s ố ngày càng đa dạng, với sự tham gia của các ngân hàng, các công ty Fintech, các công ty l ớn trong lĩnh v ực công nghệ Các ngân hàng, công ty thanh toán th ẻ như MasterCard, Visa,

các tập đoàn công ngh ệ lớn như Apple, Go ogle, Samsung cho đ ến mạng lưới công ty Fintech đều chạy đua phát triển ví điện tử và thanh toán số Không chỉ có thể thanh toán bằng điện thoại thông minh mà còn thông qua đồng hồ như Apple Watch hay Samsung Galaxy Gear, Fitbit Ionic Các ngân hàng trên t hế giới hiện cũng đang chu ẩn bị cho quá trình k ết nối các thẻ với NFC vào năm 2020 Các ngân hàng như Barclays và Wells Fargo còn phát tri ển thêm lo ại ví tiền di động cho các dòng đi ện tho ại chạy trên

hệ điều hành Android

Trang 9

Xu hướng phát triển của NHS tại Việt Nam cũng không nằm ngoài những

xu hướng trên Việt Nam có tiềm năng phát triển NHS từ nhu cầu lớn của

thị trường, với các đặc điểm như dân s ố trẻ, nhóm khách hàng s ử dụng điện thoại thông minh hi ện nay hầu hết là những ngư ời trẻ, có kiến thức và sẵn sàng đón nhận và chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ tài chính mới, tỷ lệ dân số sử dụng Internet cao và có t ốc độ tăng trưởng tốt [4] Thanh toán qua điện thoại di động đang trở thành xu hướng trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam Sự tăng trưởng của mảng dịch vụ này tại Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục khởi sắc trong tương lai do tỷ lệ người sử dụng điện thoại thông minh ngày càng tăng và phương thức thanh toán qua điện thoại di động bắt đầu phổ biến, thị trư ờng tiêu dùng bán l ẻ phát tri ển Theo báo cáo thị trường điện thoại di động tại Việt Nam năm 2017 c ủa Appota (nhà cung cấp các n ền tảng trên điện thoại thông minh), t ỷ lệ dân số dùng điện thoại thông minh đã tăng từ 20% trong năm 2013 lên 72% vào năm

2016 Tính đến hết tháng 6/2017, Việt Nam có khoảng 48 triệu thuê bao di động băng rộng gồm cả 3G và 4G Về tốc độ tiêu dùng, Việt Nam nằm trong nhóm 3 điểm đến của các nhà đầu tư tại thị trường bán lẻ châu Á [5] Mặc dù hiện nay vấn đề hợp tác giữa ngân hàng truy ền thống và các công

ty Fintech trong cung c ấp giải pháp tài chính công ngh ệ tại Việt Nam còn khá đơn điệu, nhưng vấn đề này sẽ sớm được cải thiện trong tương lai khi các công ty Fintech phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai và các ngân hàng đang dần thay đổi quan điểm cạnh tranh với công ty Fintech

4 Kiến nghị đối với cơ quan qu ản lý và t ổ chức tín dụng

Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hư ớng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển NHS, đ ồng thời chú tr ọng bảo vệ quyền lợi và lợi ích các bên tham gia th ị trường, trong đó ưu tiên vi ệc xem xét các quy đ ịnh cho phép định danh khách hàng điện tử Nghiên cứu kinh nghiệm của một số

quốc gia trong chính sách qu ản lý và phát triển NHS cho thấy các quốc gia đều có chính sách thân thiện với phát triển NHS (Singapore, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, các qu ốc gia ASEAN, Liên minh châu Âu) Các chính sách tạo lập môi trường cho phát triển NHS g ồm các chính sách t ạo dựng nền tảng thôn g tin, cơ s ở dữ liệu công dân quốc gia, quy đ ịnh về quy trình định danh khách hàng điện tử và hoàn thiện hạ tầng hỗ trợ Ngoài ra, các quốc gia cũng ban hành các chương trình, k ế hoạch hành động khuy ến khích sự phát tri ển của thanh toán trực tuyến, khuyến khích công ngh ệ tài chính Fintech phát tri ển, các chính sách liên quan t ới nguồn nhân lực, bảo

Trang 10

vệ an toàn ngư ời dùng, nâng cao an ninh m ạng Điểm chung là các chính sách hướng tới tạo môi trường thúc đẩy sự phát triển của NHS, trên cơ sở tạo môi trường bình đẳng cho cạnh tranh, khuyến khích đ ổi mới và bảo vệ người tiêu dùng Chính phủ và NHNN nên xem xét và nghiên cứu xây dựng quy định về e-KYC nhằm hỗ trợ cho việc phát triển công nghệ tài chính nói chung, NHS nói riêng Quy đ ịnh tại Nghị định 106/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng ch ống rửa tiền và các văn bản hư ớng dẫn liên quan cần sửa đổi theo hướng cho phép mở tài khoản không bắt buộc phải gặp mặt trực tiếp,

áp dụng quy trình nh ận diện khách hàng đi ện tử (e-KYC) Một số công nghệ có thể cân nhắc áp dụng gồm có công ngh ệ sinh tr ắc sinh học (vân tay/võng mạc) hoặc các thi ết bị điện tử hỗ trợ cho việc nhận dạng và xác thực khách hàng như cu ộc gọi trực tuyến (video call)

Việc triển khai quy trình khai nh ận diện khách hàng đi ện tử có thể được thực hiện theo lộ trình hoặc có những biện pháp khuyến khích khách hàng thực hiện quy trình đ ịnh danh điện tử Một số biện pháp có thể áp dụng như: Quy định về giá trị chuyển khoản tối đa đối với các loại tài khoản đã được định danh và chưa được định danh (Đây là các quy định đang được áp dụng bởi các sàn giao d ịch tiền điện tử trên thế giới) Một biện pháp khác

là áp dụng quy trình đ ịnh danh điện tử được thực hiện đơn giản hơn đối với những khách hàng đư ợc giới thiệu bởi một khách hàng đã đư ợc thực hiện đầy đủ quy trình nhận diện và các khách hàng hiện hữu tại ngân hàng hoặc ngân hàng khác

Thứ hai, NHNN c ần nhanh chóng hoàn thi ện và áp d ụng các cơ chế khuyến khích sự phát triển của công nghệ tài chính, đ ặc biệt là đối với hoàn thi ện

và áp dụng Khung thử nghiệm pháp lý (Regulatory Sandbox) đ ối với phát triển công nghệ tài chính NHNN hiện nay đang trong quá trình xây d ựng

khung pháp lý th ử nghiệm cho công nghệ tài chính (Fintech Regulatory Sandbox) Khung pháp lý th ử nghiệm cần quy định rõ ràng về lĩnh vực phạm vi hoạt động; sản phẩm dịch vụ; lợi ích của người tiêu dùng và n ền kinh tế; mức độ thử nghiệm; quy trình đăng ký báo cáo; th ử nghiệm và giám sát; công b ố sản phẩm dịch vụ thành công và kh ả năng nhân r ộng Các

tổ chức quốc tế hiện nay đang có các h ỗ trợ kỹ thuật hoặc các tài tr ợ tài chính cho hoạt động tiếp cận và triển khai khung th ử nghiệm pháp lý là Aspen Institute, Bill và Melinda Gates Foundation, Cambridge Center for Alternative Finance, CGAP, FSD Africa, Omidyar Network, UNCDF, Ngân hàng thế giới Tại Việt Nam, khung th ử nghiệm pháp lý Sandbox có th ể tập trung trước mắt vào thử nghiệm các hoạt động đổi mới trong quy trình nhận

Ngày đăng: 01/01/2023, 05:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w