Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, Ví điện tử phải được liên kết với tài khoản thanh toán ho ặc thẻ ghi nợ của khách hàng mở tại ngân hàng liên kết... Ngoài các phương tiện TTKDT
Trang 1Tiền di động: Một số vấn đề cần quan tâm
Trong những năm gần đây, dịch vụ Ví điện tử đã được triển khai kh á phổ biến trên thị trường và đã đạt được những kết quả nhất định,
khẳng định những ưu đi ểm về tính năng, s ự tiện lợi, an toàn, nhanh chóng với chi phí hợp lý, tạo lập lòng tin đ ối với khách hàng và ngày càng nhận được sự quan tâm t ừ các ngân hàng và đơn v ị cung ứng dịch
vụ, hàng hóa
Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, Ví điện tử phải được liên kết với tài khoản thanh toán ho ặc thẻ ghi nợ của khách hàng mở tại ngân hàng liên kết Mặc dù vậy, đến cuối năm 2018, t ỷ lệ người trư ởng thành có tài khoản tại Việt Nam đạt khoảng 63,7%; t ỷ lệ còn lại ngư ời dân chưa đư ợc tiếp cận với dịch vụ tài chính, ngân h àng và có nhu cầu thực sự, đặc biệt là các khách hàng ở khu v ực nông thôn, vùng sâu, v ùng xa, những nơi mà hệ
thống ngân hàng chưa thể vươn tới Trong khi đ ó, các doanh nghi ệp viễn thông c ó ưu thế về hạ tầng, mạng lư ới viễn thông, các điểm giao dịch rộng khắp cả nước, tỷ lệ tiếp cận dịch vụ viễn thông và sử dụng điện thoại di động ở mức khá cao Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán di đ ộng hiện đại, góp phần thúc đẩy TTKDTM và đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người dân
Việc nghiên cứu, triển khai thí điểm tiền di đ ộng (Mobile -Money) đ ã được giao cho Ngân hàng Nh à nước (NHNN) làm đầu mối, phối hợp với các cơ quan liên quan xây d ựng văn b ản quyết định về việc thí điểm dùng tài
khoản viễn thông thanh to án cho c ác dịch vụ khác có giá trị nhỏ Để triển khai dịch vụ Mobile-Money tại Việt Nam, m ột số vấn đề cần quan tâm, ch ú ý như sau:
1 Về cơ sở pháp lý
Khoản 2 Điều 17 Luật NHNN năm 2010 quy đ ịnh: Tiền giấy, tiền kim loại
do NHNN phát hành là phương ti ện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã h ội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 2
Nghị định 101/2012/NĐ -CP ngày 22/11/2012 v ề TTKDTM (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định:
- Phương tiện TTKDTM sử dụng trong giao d ịch thanh toán (sau đây g ọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, th ẻ ngân hàng và các phương ti ện thanh toán khác theo quy đ ịnh của NHNN (kho ản 6 Điều 4)
- Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương ti ện thanh toán không thu ộc quy định tại khoản 6 Điều này (kho ản 7 Điều 4)
Ngoài các phương tiện TTKDTM nêu trên, NHNN chưa quy đ ịnh các
phương tiện thanh toán khác, do đó, Mobile-Money không phải là phương tiện thanh t oán và d ịch vụ Mobile-Money chưa đư ợc quy định ở một văn bản pháp lý nào hay n ói cách khác, chưa c ó hành lang ph áp lý quy định về việc cung ứng dịch vụ Mobile-Money c ủa các Doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam
2 Kinh nghi ệm quốc tế về Mobile-Money
a) Bối cảnh chung:
Dịch vụ Mobile-Money đư ợc khởi nguồn và phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia khu vực Châu Phi, Châu M ỹ Latinh nơi hạ tầng ngân hàng, hạ tầng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính chưa có sự phát triển, trong khi đó, hạ tầng mạng viễn thông được đánh giá là một trong các hạ tầng có sự phát triển mạnh mẽ nhất tại các quốc gia n ày Vì vậy, các nhà mạng đã đưa ra sáng kiến tận dụng sự phổ biến của điện thoại di động, mức độ phủ sóng và m ạng lưới phân ph ối rộng khắp của nhà mạng viễn thông đ ể cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng
Theo báo cáo thực trạng ngành di động toàn cầu năm 2018 của Hiệp hội Thông tin Di động toàn cầu (GSMA - Global System for Mobile -Money, với 272 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, số lượng tài khoản Mobile -Money tăng dần qua các năm đạt 866 triệu tài khoản năm 2018 (tăng 20% so v ới
Trang 3năm 2017), giá trị giao dịch xử lý đạt 1,3 tỷ USD mỗi ngày
b) Quan điểm về Mobile-Money:
Tại Báo cáo về thực trạng lĩnh vực Mobile-Money năm 2017, GSMA cho rằng, dịch vụ chỉ được coi là Mobile-Money khi đáp ứng các tiêu chí sau: (i) Là dịch vụ chuyển tiền và thanh toán thông qua đi ện thoại di động; (ii) Phải sẵn sàng cho những ngư ời chưa có tài kho ản ngân hàng (không có tài khoản chính thức tại một tổ chức tài chính); (iii) Ph ải cung c ấp ít nhất một trong những sản phẩm sau: Chuyển tiền trong nư ớc và quốc tế, thanh toán hóa đơn, giải ngân các khoản vay và thanh toán cho người bán hoặc lưu trữ giá trị; (iv) Ph ải có mạng lư ới các điểm giao dịch vật lý bên ngoài các chi nhánh ngân hàng và các ATM, giúp cho t ất cả người dân có th ể tiếp cận dễ dàng; (v) Các dịch vụ ngân hàng sử dụng điện thoại di động chỉ như một kênh khác phụ thêm để truy cập vào một sản phẩm ngân hàng truy ền thống hay các dịch vụ thanh toán liên k ết với sản phẩm ngân hàng truy ền thống không bao g ồm trong thuật ngữ này (Mobile-Money không ph ải là Mobile Banking);
Mobile-Money hi ện đang được triển khai khá ph ổ biến trên thị trường
và đã đạt được những kết quả nhất định
Công ty Tài chính Qu ốc tế (IFC) cho r ằng, Mobile - Money về bản chất là hình thức tiền điện tử (e-money), trong đó các giao d ịch thanh toán và tài chính được thực hiện trên điện thoại di động, có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp gắn kết với tài kho ản ngân hàng Hay nói cách khác, Mobile
Trang 4-Money là kết hợp của tiền điện tử (như th ẻ trả trước, Ví điện tử) và sử dụng nền tảng kỹ thuật di động để thực hiện các giao d ịch tài chính và s ử dụng cơ sở dữ liệu thuê bao di đ ộng để định danh khách hàng
c) Một số mô hình thành công điển hình:
- Kenya: Nh ận thấy 8/10 ngư ời dân Kenya có đi ện thoại di động, năm 2007, nhà vận hành mạng di động Vodafone t ại Kenya (sau đó đư ợc thương m ại hóa bởi công ty con là Safaricom) đã đ ề xuất Ngân hàng Trung ương Kenya (CBK) việc xây dựng và phát tri ển mô hình M -PESA Ban đầu, M-PESA được thiết kế để giúp đỡ người dân hoàn trả các khoản vay bằng điện thoại
di động, giúp giảm chi phí xử lý tiền mặt, từ đó giảm lãi suất Tuy nhiên, sau một thời gian thử nghiệm, M-PESA đ ã được mở rộng để trở thành mô hình chuyển tiền Đến cuối năm 2018, 30 tri ệu khách hàng đã sử dụng Mobile-Money để thực hiện các giao d ịch thanh toán với giá trị giao dịch đạt tới 78,5 tỷ USD; qua đó, nâng tỷ lệ người dân được tiếp cận dịch vụ tài chính lên gần 83% năm 2018
- Philippine: Th ành công c ủa Philippine trên phương di ện thị
trường Mobile-Money là kết quả sự khởi xướng của hai nhà mạng di động hàng đầu của nước này là Smart Communication và Globe Telecon với hai sản phẩm G-Cash và Smart Money Ngân h àng Trung ương Philippine
(BSP) cho phép các ngân hàng ph ối hợp với các các công ty vi ễn thông và các tổ chức liên quan tri ển khai th í điểm dịch vụ (nhà mạng viễn thông và ngân hàng cung c ấp dịch vụ phải là một pháp nhân đ ộc lập, đư ợc BSP quản lý theo một văn bản riêng), đ ồng thời từng bư ớc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý cho d ịch vụ
- Tanzania: Năm 2008, Vodacom Tanzania b ắt đầu giới thiệu sản phẩm M-Pesa, và tiếp đó là công ty Milicom tung ra th ị trường sản phẩm Tigo-Pesa vào năm 2009 Vào cùng năm 2009, Airtel cho ra m ắt sản phẩm có tên
Airtel Money tiếp đến là Zantel giới thiệu Ezy Pesa v ào năm 2010 Qua triển khai d ịch vụ Mobile-Money, từ mức 112 nghìn tài khoản vào năm
2008, lượng tài khoản đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile-Money tăng mạnh lên tới hơn 53 tri ệu tài khoản đăng ký tính đ ến cuối tháng 2/2016 và đã có gần 261 nghìn đ ại lý ở Tanzania tham gia v ới tư cách làm đại lý cho dịch vụ Mobile-Money Nh ằm hỗ trợ cho công tác quản lý thanh kho ản của các đại lý, NHTW Tanzania cho phép các nhà cung ứng dịch vụ Mobile-Money
Trang 5được mở tài khoản ở nhiều ngân hàng thương mại khác nhau căn cứ trên mức độ bao phủ mạng lư ới đại lý của họ
3 Lợi ích khi tri ển khai Mobile-Money
Một là, Mobile-Money s ẽ tận dụng hạ tầng viễn thông, do đó, giúp giảm
các chi phí xã hội để phát triển, mở rộng các dịch vụ thanh to án
Hai là, thị trường sẽ có thêm các nhà cung c ấp dịch vụ thanh to án, góp
phần thúc đ ẩy hoạt động TTKDTM, tăng cư ờng việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính Đồng thời, qua đ ó góp phần thay đ ổi dần thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người dân v ẫn còn khá phổ biến hiện nay
Ba là, Mobile-Money góp phần cung ứng cho nh óm khách hàng không c ó
tài khoản ngân h àng một kênh giao dịch nhanh chóng và thuận tiện Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ 24/7, thanh to án mọi lúc, mọi nơi với thiết bị
di động
4 Một số rủi ro, khó khăn khi triển khai Mobile-Money tại Việt Nam
Thứ nhất, rủi ro trong vi ệc định danh, xác thực (KYC) kh ách hàng: Việc
định danh, xác thực khách hàng do các Doanh nghiệp viễn thông tự thiết lập có thể không đ ảm bảo KYC chính xác khách hàng, đặc biệt trong t ình trạng SIM r ác (sử dụng thông tin không chính danh đ ể đăng ký thông tin thuê bao, kích ho ạt sẵn SIM thuê bao), mua b án SIM k ích hoạt sẵn vẫn còn khá phổ biến tại Việt Nam hi ện nay T ừ đó, dẫn tới các hành vi m ạo danh khách hàng trong vi ệc mở và sử dụng Mobile-Money, thực hiện các giao dịch giả mạo, gian lận, giao dịch bất hợp pháp bằng Mobile-Money
Thứ hai, rủi ro trong công t ác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố:
Rủi ro xảy ra khi nhân viên t ại các điểm kinh doanh c ủa các doanh nghiệp viễn thông thiếu năng lực trong vi ệc phát hiện các dấu hiệu, hành vi rửa tiền, giao d ịch đáng ng ờ, bất thường; dẫn tới việc có thể lợi dụng để che giấu nguồn tiền, hợp pháp hóa các khoản thu bất chính để biến “tiền có nguồn gốc bất hợp pháp” thành “tiền sạch” và làm tăng m ức độ tổn thương
Trang 6về rửa tiền đối với Việt Nam
Thứ ba, rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt: Các doanh nghiệp viễn thông
khó có thể kiểm soát chính xác số lượng, giá trị tiền mặt các điểm kinh doanh đã nhận của khách hàng; Rủi ro trong công tác kho quỹ, an toàn kho quỹ đối với các điểm kinh doanh; R ủi ro nh ận tiền giả khi thực hiện giao dịch thu/chi tiền mặt trực tiếp; Rủi ro xảy ra trong trư ờng hợp các không
đủ khả năng chi trả
Thứ tư, rủi ro về kỹ thuật công nghệ, hạ tầng viễn thông, cơ sở vật chất,
công nghệ thông tin không đ áp ứng các điều kiện an toàn, bảo mật, gây l ộ, lọt thông tin của khách hàng, mất tiền trên t ài khoản Mobile-Money c ủa khách hàng
Thứ năm, khả năng dẫn tới cạnh tranh không b ình đẳng giữa tổ chức cung
ứng dịch vụ trung gian thanh toán Ví điện tử và các Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Mobile-Money
Thứ sáu, rủi ro cho khách hàng: việc phát hành và sử dụng Mobile-Money
chưa được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Do đó, khi có bất kỳ một rủi ro x ảy ra đối với khoản thanh toán của khách hàng,
không c ó cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi và đền bù thiệt hại trước những tổn thất, rủi ro của khách hàng
Thứ bảy, khó khăn trong vi ệc kiểm tra, ki ểm soát lượng tiền mặt các điểm
giao dịch đã nhận của khách hàng, có thể lợi dụng để tăng giá trị nạp tiền (làm thay đ ổi tỷ lệ 1:1) dẫn đến khó khăn tro ng việc quản lý lượng tiền lưu thông trong n ền kinh t ế; khó khăn trong công t ác quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp viễn thông cung c ấp dịch vụ
Mobile-Money
5 Một số đề xuất, kiến nghị về phát triển Mobile -Money
Để triển khai có hiệu quả dịch vụ Mobile-Money trong điều kiện chưa có hành lang pháp lý hướng dẫn cụ thể, NHNN đề xuất báo cáo về việc cho phép triển khai th í điểm Mobile -Money, trong đó, đề xuất mô h ình triển
Trang 7khai thí điểm cụ thể như: Các doanh nghi ệp viễn thông (đ ã được NHNN cấp phép dịch vụ trung gian thanh to án) tri ển khai thí điểm cung ứng dịch vụ Mobile-Money trong gi ới hạn phạm vi (ph ạm vi nghiệp vụ, địa lý, hàng hóa và dịch vụ, giới hạn hạn mức giao dịch); yêu c ầu tuân thủ nguyên tắc 1:1 không l àm phát sinh lư ợng tiền tệ; có các biện pháp quản lý, kiểm soát rủi ro đối với việc KYC kh ách hàng, trong đ ó yêu cầu phải giải quyết tình trạng SIM r ác; yêu cầu về công tác phòng, chống rửa tiền; quản lý các điểm kinh doanh, các đơn vị chấp nhận thanh toán; đảm bảo về hệ thống công nghệ thông tin, b ảo vệ quyền lợi khách hàng và tuân thủ quy định của pháp luật về thuế,…
Việc cho ph ép triển khai thí điểm Mobile-Money ph ù hợp với Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, ch ính sách chủ động tham gia cu ộc Cách mạng công nghi ệp lần thứ tư, trong đó yêu cầu cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia v à phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số
Trên cơ sở đó, nên xem xét, cho phép thí điểm dịch vụ Mobile-Money Kết quả triển khai thí điểm sẽ là cơ sở thực tiễn để xây dựng chính sách quản lý phù hợp
Tài liệu tham khảo:
1 Luật Các tổ chức tín dụng 2010
2 Luật Ngân hàng Nh à nước 2010
3 Nghị định 101/2012/NĐ -CP ngày 22/11/2012 c ủa Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt
4 Nghị định 80/2016/NĐ -CP ngày 01/7/2016 c ủa Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 101/2012/NĐ -CP
5 Nghị định 16/2019/NĐ -CP ngày 01/02/2019 s ửa đổi, bổ sung m ột số điều của các Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nư ớc của Ngân h àng Nhà nước Việt Nam
6 Thông tư 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán