Tác động của đa dạng hóa thu nhập và phân bổ tài sản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam Nghiên cứu này nh ằm đánh giá m ối quan hệ giữa việc đa dạng hóa thu
Trang 1Tác động của đa dạng hóa thu nhập và phân bổ tài sản đến khả năng sinh
lời của các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam
Nghiên cứu này nh ằm đánh giá m ối quan hệ giữa việc đa dạng hóa thu nhập và đa d ạng hóa phân bổ tài sản với khả năng sinh lời của các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam Các tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 32 ngân hàng thương m ại hiện đang ho ạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2017 Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc đa d ạng hóa thu nh ập và đa dạng hóa phân b ổ các tài sản có tác động rất tích cực đến hiệu quả kinh doanh c ủa các ngân hàng thương mại Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu cũng giúp làm sáng
tỏ mối quan hệ giữa một số yếu tố đặc thù c ủa các ngân hàng thương mại với hiệu quả hoạt động kinh doanh c ủa các đơn vị này
1 Giới thiệu
Hoạt động của các ngân hàng thương m ại Việt Nam trong giai đo ạn hội nhập và toàn c ầu hóa hi ện nay khá phong phú và đa d ạng Các s ản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng thương m ại Việt Nam không còn gói g ọn trong nghiệp vụ huy động vốn và cấp tín dụng truyền thống, mà đã m ở rộng sang các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng khác như: bảo hiểm, đầu tư, q uản
lý tài sản, kinh doanh ch ứng khoán,… Thu nh ập từ các dịch vụ tài chính và lợi nhuận từ hoạt động đầu tư ngày càng góp ph ần quan trọng vào tổng lợi nhuận hoạt động kinh doanh c ủa các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam Tuy vậy, các hoạt động đầu tư chứng khoán, đ ầu tư bất động sản hay kinh doanh ngo ại tệ luôn là những hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro đ ối với các ngân hàng thương mại Việt Nam đặc biệt trong điều kiện khung pháp lý chi phối các hoạt động này ở Việt Nam vẫn trong giai đo ạn chưa hoàn thi ện và năng lực quản trị rủi ro của bản thân các ngân hàng thương m ại Việt Nam vẫn còn nhi ều hạn chế
Các nghiên cứu trư ớc đây về mối quan hệ giữa đa dạng hóa hoạt động và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương m ại vẫn còn nhi ều kết quả trái ngược nhau về mối quan hệ giữa 2 yếu tố này Một số nghiên cứu trước cho rằng việc đa dạng hóa ho ạt động kinh doanh giúp cho các ngân hàng thương mại giảm thiểu được rủi ro và gia tăng hiệu quả hoạt động (Nguyen
và cộng sự, 2012; Deng và c ộng sự, 2013) Bên c ạnh đó, việc đa dạng hóa hoạt động còn giúp nâng cao ch ất lượng ngu ồn thu nhập của các ngân hàng
Trang 2thương mại thông qua việc tăng cường vai trò trung gian tài chính và vi ệc giảm thiểu vấn đề bất cân xứng thông tin trong ho ạt động kinh doanh
(Baele và cộng sự 2007; Kohl er, 2014) Trái l ại, cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng không có m ối quan hệ rõ ràng giữa việc đa dạng hóa hoạt động với khả năng sinh l ợi hay mức độ rủi ro c ủa các ngân hàng thương m ại Cụ thể, Cebenoyan và Strahan (2004) ch ỉ ra rằng các ngân hàng thươn g mại có mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh cao thư ờng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn và thư ờng duy trì t ỷ lệ đòn bẩy tài chính cao Đi ều này làm ảnh hư ởng nghiêm tr ọng đến lợi nhuận của các đơn vị này trong trư ờng hợp môi trư ờng kinh doanh có nh ững biến động xấu Bên c ạnh đó, m ột số nghiên cứu khác v ề các ngân hàng thương m ại tại EU và Mỹ cũng cho thấy các ngân hàng thương mại càng triển khai nhiều sản phẩm, dịch vụ tài
chính bên ngoài ho ạt động tín d ụng và huy động vốn thông thư ờng càng phải đối mặt với nhiều rủi ro và có l ợi nhuận biến động bất thường mặc dù mối quan hệ tác động này có thể thay đổi tùy thu ộc vào quy mô, đ ặc điểm
sở hữu và loại hình sản phẩm, dịch vụ tài chính phi lãi mà các đơn v ị này cung cấp cho thị trường (DeYoung và Rice, 2004 ; Stiroh và Rumble, 2006; Lepetit và c ộng sự, 2008)
Để xác định mối quan hệ giữa đa dạng hóa và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, các tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu đư ợc đề xuất bởi Stiroh và Rumble (2006), Goddard và c ộng sự,
(2008), Sanya và Wolfe (2011) Các tác gi ả sử dụng chỉ tiêu ROAA (Return
on Average Assets – Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân) là thư ớc
đo hiệu quả kinh doanh và chỉ số AHHI (Adjusted Herfindahl Hirschman Index - chỉ số Herfindahl Hirschma n hiệu chỉnh) để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nh ập và mức độ đa dạng hóa phân bổ tài sản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Ngoài ra, các tác giả cũng bổ sung vào mô hình nghiên cứu chỉ tiêu tăng trư ởng GDP h ằng năm và tỷ lệ lạm phát hàng năm để kiểm soát những thay đổi vĩ mô của nền kinh tế như một số nghiên cứu thực nghiệm thường áp dụng
Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đa dạng hóa và hi ệu quả hoạt động của ngân hàng thư ờng tập trung l ấy mẫu quan sát ch ủ yếu ở Mỹ
và các qu ốc gia phát tri ển Có rất ít nghiên cứu về vấn đề này tại các nền kinh tế mới nổi và đặc biệt chưa có nghiên c ứu nào đư ợc tiến hành riêng biệt cho các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam Do vậy, đóng góp c ủa nghiên cứu này đó là xác đ ịnh rõ mối quan h ệ giữa việc đa dạng hóa thu nhập và đa dạng hóa phân bổ tài sản đến hiệu quả kinh doanh c ủa các ngân
Trang 3hàng thương mại tại Việt Nam Đây là vấn đề không chỉ liên quan trực tiếp đến bản thân các ngân hàng thương m ại mà đó còn là một đề tài được các
cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng tại Việt Nam hết sức lưu tâm nhằm đưa ra các chính sách định hướng phát triển và đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được rằng việc đa dạng hóa ngu ồn thu nhập và đa dạng hóa phân b ổ tài sản giúp tăng cư ờng khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam
2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về hoạt động của các ngân hàng thương mại vẫn chưa đưa ra được câu trả lời thuyết phục cho câu hỏi rằng
“Các ngân hàng thương mại có nên đa dạng hóa các dịch vụ, sản phẩm tài chính và tăng cường sự hiện diện tại các vùng lãnh thổ và quốc gia khác nhau hay không ?” Trái lại, các nghiên cứu trước đây đưa đến 2 luồng quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương m ại (Berger và cộng sự
2010)
Một luồng quan đi ểm cho rằng việc đa dạng hóa giúp cho các ngân hàng thương mại tăng cường hiệu quả hoạt động và mức độ ổn định Các quan điểm này xuất phát từ lý thuyết hiệu quả kinh tế theo quy mô (Economic of
Trang 4Scale) Theo đó, vi ệc các ngân hàng thương m ại mở rộng hay phát tri ển các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới hay mở rộng phạm vi ho ạt động trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế sẽ giúp cho các đơn v ị này chia s ẻ các chi phí cố định và tận dụng đư ợc năng lực quản lý cho các s ản phẩm, dịch vụ tài chính khác nhau hay cho các chi nhánh t ại các vùng lãnh th ổ và quốc gia khác nhau (Drucker và Puri, 2009) Bên c ạnh đó, việc đa d ạng hóa các sản phẩm, dịch vụ cũng giúp các ngân hàng thương m ại đáp ứng đư ợc tối
đa nhu cầu về các dịch vụ tài chính hay kích thích vi ệc sử dụng các dịch vụ tài chính khác nhau c ủa các khách hàng s ẵn có tại ngân hàng từ đó góp phần gia tăng lợi nhuận cho bản thân các ngân hàng
Nghiên cứu của Sanya và Wolfe (2011) phân tích m ẫu quan sát g ồm các ngân hàng thương m ại từ 11 nền kinh tế mới nổi trong giai đo ạn từ năm
2000 đến năm 2007 đã chỉ ra rằng đa dạng hóa giúp tăng cường khả năng sinh lời và mức độ ổn định của các ngân hàng thương m ại Tiếp theo,
nghiên cứu của Kohler (2014) v ề các ngân hàng thươ ng mại ở Đức chỉ ra rằng các khả năng sinh l ời và mức độ rủi ro c ủa các ngân hàng theo xu hướng bán lẻ được cải thiện rõ nét khi các đơn vị này tăng cường cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính bên ngoài ho ạt động cho vay truy ền thống Mặt khác, nghiên c ứu của Lee và c ộng sự (2014) v ề cấu trúc tài chính và việc tái cấu trúc c ủa các ngân hàng thương m ại tại 29 qu ốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng cho th ấy các ngân hàng có kh ả năng cải thiện đư ợc hiệu quả hoạt động khi thực hiện đa dạng hóa Ngoài ra, Saghi-Zedek (2016) nghiên c ứu tác động của cấu trúc s ở hữu đến sự đa dạng hóa của các ngân hàng t ại Châu Âu đã cho th ấy rằng các ngân hàng b ị chi phối bởi các ngân hàng khác, các t ổ chức đầu tư hay các doanh nghi ệp công nghiệp có khả năng sinh l ời tốt hơn các đơn v ị khác Ngoài ra, tác gi ả này cũng chứng minh rằng việc đa dạng hóa hoạt động giúp cải thiện khả năng sinh lời, giảm thiểu mức độ biến động của thu nhập và khả năng phá sản của các đơn vị này Bên cạnh đó, nghiên c ứu của Sissy và cộng sự (2017)
sử dụng mẫu quan sát gồm 320 ngân hàng thương m ại tại 29 quốc gia Châu Phi đã nhận thấy rằng các lợi nhuận của các ngân hàng thương mại được cải thiện khi các đơn v ị này mở rộng phạm vi hoạt động xuyên biên gi ới
Cụ thể hơn, nghiên c ứu của Deng và E lyasiani (2008) ch ỉ ra rằng việc các ngân hàng m ở rộng mạng lư ới hoạt động ở các quốc gia khác nhau giúp cho các đơn vị này có cơ hội tiếp cận được các thị trường vốn tại các quốc gia khác nhau và điều này giúp giảm bớt chi phí nguồn vốn và góp phần gia tăng lợi nhuận Mặt khác, nghiên cứu này cũng chứng minh được rằng các ngân hàng đa quốc gia cũng có khả năng giảm bớt gánh nặng về thuế, từ
Trang 5đó, làm gia tăng lợi nhuận cho các cổ đông vì các đơn vị này có thể điều chuyển lợi nhuận từ các quốc gia có thuế suất cao sang các qu ốc gia có mức thuế suất thấp hơn
Trái ngược quan điểm với các nghiên cứu trên, cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm lại chỉ ra rằng việc đa dạng hóa hoạt động làm gia tăng rủi ro và làm suy gi ảm lợi nhuận của các ngân hàng thương m ại Quan điểm này xuất phát từ lập luận cho r ằng các ngân hàng thương m ại thực hiện đa dạng hóa sẽ bị pha loãng l ợi thế so sánh trong công tác qu ản trị vì việc đa dạng hóa làm cho ph ạm vi hoạt động các đơn vị này vư ợt quá lĩnh vực
chuyên môn hi ện tại (Klein và Saidenberg, 1998) M ặt khác, vi ệc đa dạng hóa hoạt động làm cho ngân hàng ph ải gánh chịu thêm các áp lực cạnh tranh từ các lĩnh vực mới (Winton, 1999) Ngoài ra, việc đa dạng hóa cũng làm gia tăng chi phí đại diện trong hoạt động vì ngân hàng phải thực hiện thuê thêm nhân sự để quản lý các m ảng hoạt động kinh doanh m ới phát sinh (Deng và Elyasiani, 2008) C ụ thể, nghiên cứu của Acharya và c ộng
sự (2006) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa việc gia tăng t ỷ trọng thu nhập phi lãi trong t ổng thu nhập với việc suy gi ảm khả năng sinh l ời của các ngân hàng thương mại vì các tác giả này cho rằng việc đa dạng hóa hoạt động làm suy giảm năng lực quản lý và giám sát các kho ản mục tín dụng của ngân hàng (đi ều này dẫn đến các kho ản mục tín dụng không đảm bảo chất lượng và làm suy gi ảm lợi nhuận) Tương tự, nghiên cứu của
Lepetit và c ộng sự (2008) nh ằm tìm hi ểu mối quan h ệ giữa rủi ro và vi ệc đa dạng hóa sản phẩm của các ngân hàng thương m ại Châu Âu trong giai đo ạn năm 1996 đến năm 2002 đã chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại có rủi ro tín dụng cao l ại là các đơn v ị có xu hư ớng tăng cường triển khai các s ản phẩm, dịch vụ bên ngoài hoạt động tín dụng truyền thống Bên cạnh đó, nghiên cứu của Berger và cộng sự 2010 đã cho kết quả là việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và đa dạng hóa vùng lãnh th ổ hoạt động của các ngân hàng tại Trung Qu ốc làm gia tăng chi phí và suy gi ảm lợi nhuận của các đơn vị này Ngoài ra, Delpachitra và Lester (2013) nghiên c ứu việc đa dạng hóa của các ngân hàng t ại Úc giai đo ạn từ năm 2000 đến năm 2 009 cho thấy rằng việc đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng không góp ph ần cải thiện lợi nhuận và cũng không giúp gi ảm thiểu rủi ro hoạt động
Trên thực tế, các vụ phá sản hay khó khăn c ủa các ngân hàng thương m ại tại Mỹ trong những năm gần đây ủng hộ cả 2 quan đi ểm nêu trên Cụ thể, các bằng chứng ủng hộ quan điểm đa dạng hóa góp phần cải thiện lợi nhuận
và giảm thiểu rủi ro như: vi ệc phá sản của ngân hàng Continental Illinoi t ại
Mỹ vào năm 1984, đư ợc xem là vụ phá sản ngân hàng l ớn nhất tại Mỹ tính
Trang 6đến thời điểm bấy giờ, có nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc ngân hàng này tập trung quá mức vào các khoản cho vay trong lĩnh v ực năng lư ợng
Vụ sụp đổ của ngân hàng New England trong gian đo ạn 1989 - 1991 có nguyên nhân từ việc ngân hàng này t ập trung quá n hiều vào các khoản cho vay bất động sản thương mại tại khu v ực New England Trái l ại, những bằng chứng ủng hộ việc đa dạng hóa làm suy gi ảm lợi nhuận và làm tăng mức độ rủi ro của các ngân hàng như: các r ủi ro tín d ụng phát sinh t ừ việc
đa dạng hóa quá nhanh của Bank of America và Credit Lyonnais trong
những năm 1980 G ần nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 có nguyên nhân
từ việc các ngân hàng thương m ại tại Mỹ tham gia quá m ức vào thị trường trái phiếu thứ cấp liên quan đ ến tín dụng bất động sản (Berger và cộng sự 2010)
3 Dữ liệu và m ô hình nghiên c ứu
3.1 Dữ liệu nghiên c ứu
Để xác định mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và đa dạng hóa phân
bổ tài sản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương m ại tại Việt Nam, các tác giả thực hiện thu thập dữ liệu của 32 ngân hàng thương m ại tại Việt Nam trong giai đo ạn từ năm 2000 đến năm 2017 Các ch ỉ số tài chính của các ngân hàng thương m ại được lấy từ nguồn dữ liệu Bankscope, các chỉ số thể hiện các đ ặc điểm vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam được lấy
từ nguồn dữ liệu IMF
3.1.1 Bi ến phụ thuộc trong mô hình
Để đo lường khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại, các tác giả
sử dụng chỉ tiêu ROAA (Return on Average Assets - Tỷ lệ lợi nhuận
ròng/tổng tài sản bình quân) Ch ỉ tiêu này đã đư ợc sử dụng để đo lư ờng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương m ại trong các nghiên c ứu của Berger và cộng sự (2010), Sanya và Wolfe (2011), Nguyen và c ộng sự (2012)
3.1.2 Các biến độc lập trong mô hình
Trang 7
* Các biến giải thích đo lư ờng mức độ đa dạng hóa c ủa các ngân hàng thương mại
Các tác gi ả đo lư ờng mức độ đa dạng hóa ho ạt động của các ngân hàng thương mại ở 2 góc độ khác nhau: sự đa dạng hóa trong thu nhập và sự đa dạng trong việc phân b ổ tài sản
Để đo lường mức độ đa dạng hóa trong thu nhập của các ngân hàng, các tác giả áp dụng phương pháp đư ợc sử dụng trong các nghiên c ứu của Stiroh và Rumble (2006), Goddard và c ộng sự (2008) Theo đó, các tác gi ả tính chỉ
số Herfindahl Hirschman hi ệu chỉnh (AHHI - Adjusted Herfindahl
Hirschman Index) cho t ất cả các quan sát trong m ẫu nghiên cứu theo công thức sau:
AHHINOI = 1 – [(NII/NOI)2 + (NON/NOI)2]
Trong đó:
NOI: Net operation income - Lợi nhuận ròng từ hoạt động
NII: Net interest income - Lợi nhuận ròng từ hoạt động cho vay
NON: Non interest income - Lợi nhuận ròng từ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng không bao g ồm lợi nhuận ròng từ hoạt động cho vay
Chỉ số AHHINOI đo lư ờng mức độ đa dạng hóa trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương m ại Chỉ số này có giá trị biến động trong
khoảng từ 0 - 0.5 Cụ thể, nếu mức độ đa dạng hóa b ằng 0, nghĩa là ngu ồn lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh c ủa ngân chỉ từ một nguồn duy nhất là lợi nhuận ròng từ hoạt động cho vay hay l ợi nhuận ròng từ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng, chỉ số này sẽ có giá trị 0 Ngược lại, khi giá tr ị của chỉ số này bằng 0.5 nghĩa là ngân hàng đã đa d ạng hóa l ợi nhuận hoạt động kinh doanh ở mức cao nhất
Để tăng cường tính chặt chẽ và khách quan cho nghiên cứu, tác giả tiến hành đo lường thêm mức độ đa dạng hóa của các ngân hàng thông qua việc
đo lường mức độ đa dạng trong việc phân bổ tài sản Dựa theo phương
Trang 8pháp đo lường mức độ đa dạng hóa trong việc phân bổ tài sản được sử dụng trong nghiên c ứu của Elsas và cộng sự (2010), các tác gi ả tính toán chỉ số AHHIOEA cho các tài s ản sinh l ời của các ngân hàng thương m ại trong nghiên cứu theo công th ức sau:
AHHIOEA = 1 – {[(LOAN / (LOAN + OEA)]2 + [OEA / (LOAN +
OEA)]2}
Trong đó:
LOAN: tổng dư n ợ tín dụng ròng
OEA: tổng tài s ản sinh l ời của ngân hàng không bao g ồm khoản mục tín dụng
* Các biến giải thích thể hiện những đặc điểm của các ngân hàng thương mại
Tương tự các nghiên cứu Berger và cộng sự (2010), nghiên cứu của Kohler (2014), các tác gi ả cũng đưa vào mô hình nghiên c ứu các biến thể hiện những đặc điểm riêng của các ngân hàng thương m ại có thể ảnh hưởng đến tác động của việc đa dạng hóa đến hiệu quả hoạt động của các đơn vị này Những biến giải thích th ể hiện những đặc điểm của các ngân hàng thương mại như: quy mô t ổng tài sản, tỷ lệ tổng chi phí/t ổng thu nhập, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng/tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng tài sản, tỷ lệ nợ quá hạn/tổng
dư nợ tín dụng
Biến quy mô t ổng tài sản ngân hàng đư ợc xác định bằng Logarith tự nhiên tổng giá trị tài sản của ngân hàng thương m ại Theo lý thuyết hiệu suất theo quy mô thì các ngân hàng có quy mô t ổng tài s ản lớn có thể tiết giảm được chi phí trong hoạt động huy động vốn, tăng cường hiệu quả trong hoạt động cho vay và có thể chia sẻ các chi phí quản lý cố định cho nhiều các sản phẩm dịch vụ khác nhau Do v ậy, các nghiên c ứu của Ioannidis và c ộng
sự (2010), Matousek và Stewart (2009) đ ều cho rằng các ngân hàng có quy
mô tổng tài s ản lớn hơn thì sẽ có khả năng sinh lợi cao hơn các đơn v ị khác
Trang 9
Các tác gi ả sử dụng chỉ số tỷ lệ chi phí/thu nh ập để đo lư ờng mức độ hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương m ại Các ngân hàng có m ức độ hiệu quả hoạt động cao thư ờng có kh ả năng ti ết giảm chi phí và tăng cư ờng chất lượng của các nguồn thu từ các sản phẩm và dịch vụ tài chính và từ
đó, làm gia tăng mức độ an toàn và khả năng sinh lợi của các đơn vị này (DeYoung và Rice, 2004)
Có 2 quan điểm trái ngược nhau về tác động của tăng trưởng quy mô tổng tài sản đến mức độ an toàn và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Một quan điểm cho r ằng, việc tăng trư ởng quy mô t ổng tài s ản quá nhanh tiềm ẩn nhiều rủi ro và có thể làm suy giảm lợi nhuận của các ngân hàng Cụ thể, Fu và cộng sự (2014) cho rằng các nư ớc trong khu vực Đông Nam Á trong m ột thời gian dài áp dụng chính sách m ở rộng tín dụng ngân hàng để kích thích sự phát triển của nền kinh tế Các ngân hàng tại các quốc gia này được sử dụng như một kênh dẫn vốn cho các lĩnh v ực kinh tế
ưu tiên của quốc gia Và điều này làm cho quy mô tài sản của các ngân hàng tăng trưởng nhanh chóng Tuy nhiên, đi ều này cũng làm cho các ngân hàng mất đi động lực để xây dựng một chính sách tín d ụng hợp lý và an toàn Kết quả là các đơn v ị này phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng rủi ro tín d ụng và s ụt giảm lợi nhuận Cùng quan đi ểm trên, Abedifar và cộng sự (2013) cho rằng việc tăng trưởng quy mô t ổng tài sản quá nhanh có thể dẫn đến những rủi ro về đạo đức hay làm phát sinh nh ững sự lựa chọn bất lợi trong ho ạt động kinh doanh n ếu các ngân hàng n ới lỏng các tiêu chuẩn đánh giá và giám sát các kho ản cho vay Trái l ại, cũng có quan đi ểm cho rằng việc tăng trư ởng tổng quy mô tài s ản một cách nhanh chóng là biểu hiện của việc tăng cư ờng đầu tư và đa dạng hóa ho ạt động kinh doanh của ngân hàng Và đây là m ột dấu hiệu tốt cho việc tăng cường mức độ an toàn và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng
Chỉ tiêu vốn chủ sở hữu/tổng tài s ản thể hiện năng lực vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Các nghiên cứu của Pasiouras và Kosmidou (2007), Mirzaei và c ộng sự (2013) đ ều chỉ ra rằng nguồn vốn chủ sở hữu dồi dào của một ngân hảng sẽ làm tăng mức độ uy tín của bản thân đơn vị này, góp ph ần giảm thiểu chi phí huy đ ộng vốn, rủi ro phá sản và nâng cao hiệu quả hoạt động
Tỷ lệ tiền gửi/tổng tài s ản thể hiện khả năng thanh kho ản của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu của Wagner (2007) đã chỉ ra rằng chỉ số này
Trang 10có tác động tích cực đến khả năng sinh lời và mức độ ổn định của các ngân hàng
Tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng tài sản thể hiện mức độ ưu tiên của ngân hàng thương mại đối với hoạt động tín dụng truyền thống Các ngân hàng thương mại có tỷ lệ này càng cao thì kh ả năng sinh l ời càng t ốt Tuy nhiên, các đơn vị cũng phải đối mặt với sự gia tăng của rủi ro tín dụng Cụ thể,
Bourkhis và Nabi (2013) ch ỉ ra rằng tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng tài s ản có tương quan nghịch với mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Tuy vậy, Kohler (2014) l ại cho rằng các ngân hàng thươn g mại tập trung nhi ều vào hoạt động tín d ụng sẽ ít rủi ro và có mức độ ổn định tốt hơn các đơn v ị khác
* Các biến giải thích thể hiện các đặc điểm vĩ mô của nền kinh t ế
Trong mô hình c ủa các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng, các tác gi ả thường đưa vào các bi ến kiểm soát thể hiện những đặc điểm vĩ
mô của nền kinh tế như: tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm và t ỷ lệ lạm phát hàng năm Do vậy, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng đưa vào mô hình nghiên cứu 2 biến giải thích là GDP_Gro và InfRa te để thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát hàng năm của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu Bởi lẽ, tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế là 2 yếu tố vĩ mô có tác đ ộng trực tiếp đến khả năng sinh l ợi và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương m ại
3.2 Mô hình nghiên c ứu
Trên cơ sở tham khảo mô hình nghiên cứu của Stiroh và Rumble (2006), Acharya và c ộng sự (2006), Sanya và Wolfe (2011), các tác gi ả thực hiện ước lượng trên mô hình nghiên cứu như sau:
Bank profitability = f (Diversication, Bankspecific, Controls)
Cụ thể hơn, mô hình nghiên c ứu có dạng chi ti ết như sau:
Yit = β1DIVit + β2BSit + β3MACit + εit