1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu ứng ngưỡng quy mô trong tác động của đa dạng hóa thu nhập tới lợi nhuận ngân hàng thương mại nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

19 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu ứng ngưỡng quy mô trong tác động của đa dạng hóa thu nhập tới lợi nhuận ngân hàng thương mại - Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 525,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Nhiều nghiên cứu trên thế giới về hoạt động của ngân hàng thương m ại NHTM cho th ấy, quy mô ngân hàng là m ột nhân tố quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt trong ho

Trang 1

Hiệu ứng ngư ỡng quy mô trong tác đ ộng của đa dạng hóa thu nh ập tới lợi nhuận ngân hàng thương m ại - Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

1 Giới thiệu

Nhiều nghiên cứu trên thế giới về hoạt động của ngân hàng thương m ại (NHTM) cho th ấy, quy mô ngân hàng là m ột nhân tố quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt trong hoạt động của các nhóm ngân hàng quy mô l ớn

so với những nhóm có quy mô nh ỏ hơn Tuy nhiên, ch ủ đề này chưa thực

sự nhận đư ợc nhiều sự quan tâm và khai thác t ừ các nghiên cứu đối với hệ thống NHTM tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào một trong những sự khác biệt quan tr ọng nhất, đó là sự khác biệt trong cơ cấu thu nhập Theo đó, câu h ỏi đặt ra

là: “Tác động của sự đa dạng hóa thu nh ập tới lợi nhuận NHTM khác biệt như thế nào giữa những nhóm NHTM khác biệt về quy mô và cụ thể,

ngưỡng quy mô phân định các nhóm đó là bao nhiêu?” Trong đó, quy mô

được hiểu là tổng tài sản của NHTM

2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

NHTM hoạt động vì l ợi nhuận như các doanh nghi ệp khác Tuy nhiên, đi ểm khác biệt giữa ngân hàng và c ác doanh nghiệp phi tài chính n ằm ở điểm chúng đóng vai trò trung gian tài chính Lý thuy ết trung gian tài chính được đề xuất bởi Leland và Pyle (1977); Diamond (1984) v ới hai trụ cột chính là “thông tin bất cân xứng” và “chi phí giao dịch” đều nhấn mạnh về lợi ích khi quy mô ngân hàng l ớn lên, giúp chúng có thông nhi ều thông tin

từ khách hàng, các h ợp đồng Lợi ích này giúp ngân hàng gi ảm thiểu rủi ro tổng thể theo hàm ý từ lý thuyết danh mục đầu tư vì r ủi ro tổng th ể sẽ nhỏ hơn tổng các rủi ro của từng hợp đồng, do đó, cải thiện lợi nhuận sau điều chỉnh rủi ro, và giúp ngân hàng trang tr ải các chi phí trong vai trò trung gian của mình Đó chính là n ền tảng của lợi thế đa dạng hóa của NHTM Hughes và Mester (2013) cho r ằng, các ngân hàng l ớn ngày nay có hi ệu quả cao theo quy mô vì chúng ngày càng bi ết tối ưu hóa chi phí d ựa vào công nghệ và tận dụng các lo ại chi phí không tăng tương ứng theo quy mô Hàm

Trang 2

ý ở đây là các ngân hàng ngày càng “công nghi ệp hóa” các dòng s ản phẩm

xa rời hoạt động truyền thống như t ín dụng hay huy động vốn để thu lợi nhuận ngoài lãi dựa trên các quy trình s ản xuất thông tin c ứng (Hard

information) hay còn g ọi là thông tin đ ịnh lư ợng Tuy v ậy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn c ầu 2008 đã cho th ấy hậu quả từ sự phát triển nóng của các sản phẩm phi truy ền thống, hay còn g ọi là các phương ti ện đầu tư

có cấu trúc (Structured investment vehicles - SIVs) như các ho ạt động

chứng khoán hóa kho ản vay Sau khủng hoảng, nhiều nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi các sáng tạo tài chính (Financial innovation) này t ới hiệu quả và rủi ro của NHTM như Demirgüç -Kunt và Huizinga (2010); DeYoung và Torna (2013) hay DeJonghe và c ộng sự

(2014) Các nghiên c ứu này đều ủng hộ giả thuyết mức độ thu nhập ngoài lãi cao sẽ dẫn tới rủi ro cao hơn cho NHTM, tuy nhiên, m ột mức độ đa dạng hóa thu nh ập vừa phải và tập trung vào các d ịch vụ thu phí như môi giới hay các d ịch vụ ngân hàng điện tử, thẻ, bảo hiểm sẽ gia tăng hiệu quả

và sự ổn định thay vì tập trung vào các s ản phẩm chứng khoán hóa và phái sinh nhiều rủi ro Bên cạnh đó, các ngân hàng l ớn khi đa d ạng hóa thu nh ập

sẽ có đư ợc hiệu quả cao hơn, trong khi đi ều này không đúng v ới các ngân hàng nhỏ Nó hàm ý các ngân hàng quy mô l ớn có lợi thế đa dạng hóa về thu nhập (Sản phẩm) hơn các ngân h àng quy mô nh ỏ, do đó, hàm ý ủng hộ lợi thế đa dạng hóa nh ờ quy mô theo lý thuy ết trung gian tài chính v ới điều kiện các dòng sản phẩm của ngân hàng không đư ợc đi quá xa kh ỏi nền tảng truyền thống của chúng Đối với hệ thống ngân hàng Vi ệt Nam, dư ới cách tiếp cận tạo thanh khoản (Liquidity creation), Le (2019) cho th ấy, các hoạt động ngoại bảng đóng vai trò nhỏ trong việc tạo thanh khoản đối với các NHTM Việt Nam, t ức chúng ít tham gia vào các ho ạt động ngoại bảng Nói cách khác, các NHTM Vi ệt Nam vẫn hoạt động chủ yếu tại thị trường hoạt động truyền thống và các hoạt động ngoài lãi có thu phí như dịch vụ ngân hàng điện tử, môi giới, bảo hiểm Ngược lại, chúng ít tham gia vào các hoạt động ngân hàng đ ầu tư và đặc biệt, chưa tham gia vào ho ạt động

chứng khoán hóa, đây là các ho ạt động nhiều rủi ro đã đư ợc cảnh báo b ởi các nghiên cứu trên Vì vậy, nghiên cứu này k ỳ vọng vào kết quả ủng hộ lợi thế đa dạng hóa nh ờ quy mô theo hàm ý c ủa lý thuyết trung gian tài chính đối với trường hợp mẫu nghiên cứu tại Việt Nam Điều này có nghĩa tác động của sự đa dạng hóa thu nhập tới lợi nhuận các NHTM có quy mô lớn vượt ngư ỡng nh ất định sẽ tích cực hơn các NHTM có quy mô dư ới ngưỡng

Trang 3

2.1 Biến phụ thuộc

Nghiên cứu này sử dụng tiêu chí lợi nhuận trước thuế của NHTM trong m ột năm tài chính để đánh giá trực tiếp khả năng sinh lời của ngân hàng

2.2 Các bi ến độc lập

Quy mô NHTM: Trong nghiên c ứu này, quy mô ngân hàng v ừa là biến độc lập, vừa là biến ngưỡng Với vai trò biến độc lập, quy mô đại diện cho tính kinh tế nhờ quy mô (Economies of scale) c ủa NHTM Nhóm ngân hàng quy

mô lớn thường đư ợc cho là có ph ạm vi các dòng s ản phẩm/dịch vụ nhiều hơn, qua đó, có thể đạt được tính kinh tế nhờ phạm vi (Economies of

scope) Điều này có được do lợi thế đa dạng hóa từ nhiều dòng thu nhập không tương quan hoàn hảo với nhau có thể giúp chúng đạt được hiệu quả cao hơn theo cách tiếp cận về danh mục đầu tư Nguyên nhân của điều này

là với quy mô l ớn hơn về thông tin đ ịnh lư ợng trong tập khách hàng c ủa mình, nhóm ngân hàng quy mô l ớn có phát triển nhiều hơn các dòng s ản phẩm sử dụng loại thông tin này v ới chi phí ngày càng r ẻ nhờ hỗ trợ từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin ngày nay Vi ệc cắt giảm đư ợc chi phí cận biên từ chiến lư ợc kinh doanh trên giúp các ngân hàng l ớn duy trì tính kinh tế nhờ quy mô nếu lợi ích này vư ợt qua đư ợc sự phi hiệu quả

về quản trị doanh nghi ệp gây nên b ởi tính hành chính và s ự phức tạp trong

bộ máy tổ chức ngày càng lớn dần theo quy mô Cũng vì đó, dư ới các cách tiếp cận tổng hợp khác nhau, có th ể sử dụng mô hình nghiên c ứu, thuật toán, mẫu nghiên c ứu, giai đoạn nghiên cứu hoặc tại các quốc gia khác nhau, các nghiên c ứu thư ờng cho các k ết quả không gi ống nhau về tính kinh tế nhờ quy mô ho ặc tác động của quy mô t ới hiệu quả của NHTM M ột

số nghiên cứu cho thấy, tác đ ộng dương c ủa quy mô đến hiệu quả sinh lời của ngân hàng như Mitchell và Onvural (1996) khi s ử dụng SFA mẫu trong giai đoạn 1986-1990 của các NHTM tại Mỹ có tổng tài sản từ 100 triệu USD trở lên và được phân nhóm theo quy mô; Altunbas và c ộng sự (2001)

sử dụng đồng thời hai phương pháp phân tích phân ph ối tự do (DFA) và phân tích biên ng ẫu nhiên (SFA) cho th ấy với cùng loại hình s ở hữu, các ngân hàng quy mô l ớn có hiệu quả về chi phí hơn các ngân hàng quy nh ỏ với mẫu tại Đức trong giai đo ạn 1989 đến 1996; Shehzad và c ộng sự (2013)

sử dụng mô hình dữ liệu bảng động (Dynamic panel data) v ới bộ dữ liệu hơn 15000 NHTM của hơn 148 quốc gia từ 1998 đến 2010 tìm thấy mối quan hệ dương giữa quy mô và hi ệu quả kinh doanh c ủa các NHTM tại các

Trang 4

nước thuộc khối OECD Dưới cách tiếp cận khác, một vài nghiên cứu lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và m ức độ biến động lợi nhuận như De Haan và Poghosyan (2012 a, b) v ới các mẫu ngân hàng tại Mỹ Cụ thể, các ngân hàng l ớn thư ờng có sự ổn định về hiệu quả kinh doanh hơn các ngân hàng nh ỏ Trước đó, Couto (2002); Albertazzi và Gambacorta (2009) đã chỉ ra rằng, sự biến động mạnh của hiệu quả kinh doanh có th ể dẫn đến suy gi ảm tính b ền vững trong hiệu quả kinh doanh của NHTM thông qua vi ệc làm mất ổn định vốn chủ sở hữu

Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại tìm thấy mối quan hệ âm giữa quy mô và hiệu quả ngân hàng như Ray (2007) khi s ử dụng phương pháp bao d ữ liệu (DEA) để nghiên cứu hiệu quả theo quy mô của các NHTM tại Ấn Độ với

dữ liệu từ năm 1997 đ ến 2003 cho thấy hầu hết các NHTM lớn tại Ấn Độ không có hi ệu quả theo quy mô; Allen và Rai (1996) s ử dụng đồng thời hai phương pháp DFA và SFA, trong đó, thành ph ần phi hiệu quả có phân phối bán chuẩn, với mẫu gồm 194 ngân hàng t ại 24 qu ốc gia trong giai đoạn

1988 đến 1992; Drake và Hall (2003) s ử dụng DEA với mẫu gồm 149

NHTM Nhật Bản năm 1997 cho th ấy, sự thiếu hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng quy mô l ớn bởi vì chúng là nhóm có hi ệu quả kỹ thuật thuần túy thấp nhất, trong khi đó, các ngân hàng qu y mô nh ỏ nhất lại cho thấy tính kinh tế nhờ quy mô Tương t ự là các nghiên cứu của Feng và Serlestis

(2010) khi sử dụng SFA với mẫu các NHTM Mỹ giai đoạn 1998 đến 2005 Pasiouras và Kosmidou (2007) s ử dụng dữ liệu bảng cân b ằng của 584 NHTM tại liên minh Châu Âu giai đo ạn 1995 đến 2001 tìm thấy tác động

âm từ quy mô ngân hàng đ ến ROAA đối với cả các ngân hàng nư ớc ngoài

và các ngân hàng trong nư ớc

Vốn chủ sở hữu: Một dòng quan đi ểm cho r ằng, nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu giúp tăng kh ả năng chịu đựng khi tổn thất phát sinh từ các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đ ặc biệt là rủi ro tín d ụng, qua đó, có th ể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để thu về lợi nhuận cao hơn (Berger, 1995b) Bên cạnh đó, quan đi ểm về chi phí cho rằng, vi ệc nâng cao t ỷ lệ vốn chủ sở hữu giúp tăng xếp hạng tín nhiệm, qua đó, giúp ngân hàng giảm chi phí vốn, qua đó tăng lợi nhuận (Molyneux, 1993) Các k ết quả ủng hộ quan điểm này như Goddard và cộng sự (2004) khi sử dụng GMM hệ thống với mẫu

665 NHTM t ại 06 nước Châu Âu (1992 -1998); Pas iouras và Kosmidou (2007) sử dụng phương pháp tác đ ộng cố định (FEM) v ới mẫu 584 ngân hàng tại 15 nư ớc Châu Âu (1995 -2001); Athanasoglou và c ộng sự (2008)

sử dụng GMM sai phân v ới mẫu các ngân hàng t ại Hy Lạp (1985 -2001);

Trang 5

Liu và Wilson (2010) khi s ử dụng GMM hệ thống với mẫu 685 NHTM tại Nhật Bản (2000-2007)

Tuy nhiên, lý thuy ết danh mục đầu tư cho rằng, tồn tại mối quan h ệ đánh đổi giữa rủi ro - lợi nhuận kỳ vọng, khi ngân hàng nâng cao t ỷ lệ vốn chủ

sở hữu, rủi ro tổng thể của ngân hàng đư ợc giảm thiểu, qua đó, mức sinh lời kỳ vọng sẽ không cao b ằng trư ờng hợp tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn hay nói cách khác trường hợp ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính lớn hơn (Berger, 1995a) Các nghiên c ứu ủng hộ mối quan hệ âm này gồm Tan và Floros (2012) v ới GMM hệ thống và mẫu gồm 101 NHTM tại Trung Quốc (2003-2009); Goddard và c ộng sự (2007) với GMM hệ thống và m ẫu gồm

4787 NHTM tại các nư ớc Châu Âu; Chronopoulos và c ộng sự (2015) cũng

sử dụng GMM h ệ thống với mẫu 14352 NHTM t ại Mỹ (1984-2010) Tan (2014) với mẫu các ngân hàng tại Trung Qu ốc cho th ấy các ngân hàng có mức vốn chủ sở hữu lớn (đòn bẩy tài chính th ấp) thư ờng có ROE thấp hơn

Nhìn chung, chi ều tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến khả năng sinh l ời của NHTM chưa đư ợc khẳng định rõ ràng từ các lý thuy ết (Dietrich và Wanzenried, 2011), nó ph ụ thuộc vào từng mẫu nghiên cứu và bi ến phụ thuộc sử dụng trong mô hình th ực nghiệm

Rủi ro thanh khoản: Các nghiên c ứu thường sử dụng các tiêu chí đo lư ờng rủi ro thanh kho ản khác nhau Berger và Bowman (2009) xây dựng phương pháp đo lường sản lượng thanh khoản (Liquidity Creation - LC) theo

phương pháp “Cat fat” trên tinh th ần lý thuyết tạo thanh khoản hiện đại, theo đó, đo lường cả các hoạt động ngoại bảng Thông qua đó, rủi ro thanh khoản đư ợc xác định trên sản lượng LC t ạo ra, bởi vì, khi các NHTM t ạo càng nhiều thanh khoản cho nền kinh t ế, chúng càng tr ở nên kém thanh khoản Ngoài ra, các tiêu chí khác thư ờng đư ợc sử dụng như Loan/Deposit Ratio (LDR) như Khan và cộng sự (2018); Saunders và cộng sự (2016); hay Loan/Total Assets Ratio như Liu và Wilson (2010); hay Chronopoulos và cộng sự (2015) Tuy nhiên, nghiên c ứu này sẽ sử dụng tiêu chí FGAP

(Financing gap ratio) để đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng theo Chen và c ộng sự (2018); DeYoung và Jang (2016), được đo lư ờng bằng tỷ

lệ GAP (Dư n ợ trừ số dư tiền gửi khách hàng) trên t ổng tài s ản Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng sử dụng các tiêu chuẩn an toàn thanh kho ản của Basel III như LCR (Liquidity coverage ratio) ho ặc NSFR (Net Stable

Funding Ratio) Tuy nhi ên, cũng như phương pháp “Cat fat”, các tiêu

Trang 6

chuẩn an toàn thanh kho ản theo Basel III đòi h ỏi mức độ chi tiết trong dữ liệu, theo đó, chưa th ể tính toán khi ch ỉ dựa trên dữ liệu các báo cáo tài chính của các NHTM Vi ệt Nam hi ện nay

Một số nghiên cứu cho thấy, tác động âm của rủi ro thanh kho ản đến hiệu quả sinh lời của NHTM như Guru và c ộng sự (1999) v ới mẫu các NHTM tại Malaysia (1985-1998) và phương pháp POLS; Saunders và c ộng sự (2016) với mẫu gồm 10341 NHTM t ại Mỹ (2002-2013) và phương pháp FEM & POLS; Chronopoulos và c ộng sự (2015) và Chen và c ộng sự (2018) v ới mẫu NHTM g ồm 14360 quan sát t ại 12 nước phát triển (1994-2006) và phương pháp FEM & 2SLS

Tuy vậy, một số nghiên cứu cho th ấy tác động dương của rủi ro thanh

khoản đến hiệu quả sinh lời của NHTM như Pasiouras và Kosmidou (2007); Kosmidou và c ộng sự (2008) với 32 NHTM tại Anh (1995 -2002) và phương pháp FEM; Khan và c ộng sự (2018) với mẫu 173 NHTM t ại 5 nư ớc ASEAN (1999-2014) và GMM h ệ thống; Sufian (2011) v ới mẫu 29 NHTM t ại Hàn Quốc (1992-2003) và phương pháp FEM & REM

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, nguồn thu nh ập chính c ủa các NHTM v ẫn

từ hoạt động truyền thống thông qua vi ệc tăng trư ởng tín d ụng Vì v ậy, nghiên cứu giả thuyết rủi ro thanh khoản sẽ tác động tích c ực tới lợi nhuận của NHTM một ngư ỡng nhất định, tuy nhiên, r ủi ro thanh kho ản sẽ tác động tiêu cực tới lợi nhuận nếu ngân hàng quá tập trung đẩy mạnh cho vay, trong khi quy mô ngu ồn tiền gửi không đ ủ để cân đối Để kiểm định tác động phi tuyến này, nghiên cứu kiểm soát thêm thành phần bậc 2 của FGAP trong mô hình th ực nghiệm

Rủi ro tín dụng: Nhiều nghiên c ứu cho thấy tác động âm c ủa rủi ro tín dụng tới hiệu quả sinh lời của NHTM, phù h ợp với quan điểm thông thư ờng như Liu và Wilson (2010); Khan và Hanif (2018); Athanasoglou và cộng sự (2006); Sufian (2011); Tan và Floros (2012); Chen và c ộng sự (2018) Tuy vậy, cũng có một số kết quả cho thấy mối quan hệ này là dương như

Chronopoulos và c ộng sự (2015); Sufian và Habibullah (2009)

Nghiên cứu này sử dụng tỷ lệ chi phí d ự phòng rủi ro tín d ụng trên tổng dư

nợ đại diện chất lư ợng hoạt động tín d ụng và do đó, r ủi ro tín dụng của

Trang 7

NHTM Nếu tỷ lệ này tăng cho th ấy lợi nhuận ngân hàng giảm do phải khấu trừ thêm chi phí này Vì v ậy, nghiên c ứu kỳ vọng vào tác động âm c ủa nhân tố rủi ro tín d ụng đến lợi nhuận của các NHTM t ại Việt Nam

Chi phí hoạt động: Chi phí ho ạt động là nhân tố được giảm trừ trong tổng thu nhập hoạt động để tạo thành l ợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của NHTM Một cách trực quan, m ối quan h ệ âm giữa chi phí hoạt động và hiệu quả sinh lời của NHTM thường đư ợc kỳ vọng Tuy nhiên, chi phí ho ạt động cũng có thể tác động dương đến hiệu quả sinh lời, ví dụ trong trường hợp chi phí trả này giúp nâng cao năng su ất vốn nhân lực (Molyneux và Thornton, 1992), nói cách khác, vi ệc phân bổ lương hi ệu quả theo năng suất lao động giúp ngư ời lao động có thêm đ ộng lực làm việc hiệu quả và nhiều hơn, giúp ngân hàng tăng l ợi nhuận Các nghiên cứu thực nghiệm thường cho kết quả về tác động âm của chi phí hoạt động tới hiệu quả kinh doanh của NHTM như Athanasoglou và c ộng sự (2006); Pasiouras và

Kosmidou (2007); Athanasoglou và c ộng sự (2008); Liu và Wilson (2010); Goddard và cộng sự, (2013); Khan và Hanif (2018); Khan và c ộng sự

(2018)

Biến thay đ ổi tác động theo ngư ỡng quy mô (T ỷ lệ đa dạng hóa thu nh ập): Rose (1999) cho r ằng: “Các nhóm ngân hàng có quy mô tương đ ồng thường cung ứng các lo ại dịch vụ giống nhau” Đi ều này hàm ý m ức độ đa dạng hóa về thu nhập từ sản phẩm và dịch vụ giữa các nhóm ngân hàng có quy

mô khác biệt nhau cũng khác nhau Rogers và Sinkey (1999) cho r ằng, thông thường (Conventional wisdom) các ngân hàng l ớn thực hiện nhiều hoạt động phi truy ền thống hơn các ngân hàng nh ỏ và việc các ngân hàng quy mô l ớn đẩy mạnh các ho ạt động phi truy ền thống sẽ thu đư ợc nhiều lợi nhuận hơn, hàm ý l ợi ích mà thu nhập ngoài lãi cận biên mang lại cao hơn thu nhập lãi cận biên đ ối với các ngân hàng này Tương t ự, Berger và

Humphrey (1997) nghiên c ứu tổng quan 133 nghiên c ứu trước đó k ết luận rằng, nhìn chung, các ngân hàng l ớn có hiệu quả hơn các ngân hàng nh ỏ nhờ tiết kiệm chi phí dựa trên tính kinh t ế nhờ quy mô (Economies of

scales) và tính kinh t ế nhờ phạm vi (Economies of scope) c ủa mình Tính kinh tế nhờ phạm vi c ủa các ngân hàng l ớn thể hiện ở việc chúng đạt hiệu quả cao hơn khi tri ển khai các sản phẩm dịch vụ phi truy ền thống và thu được lợi nhuận ngoài lãi cận biên cao hơn Điều này hàm ý các ngân hàng lớn sẽ có lợi thế tương đối từ thu nhập ngoài lãi c ận biên cao hơn là t ừ thu nhập lãi cận biên Chronopoulos và c ộng sự (2015) l ại cho thấy tác động

âm của tỷ lệ thu nh ập ngoài lãi trên t ổng thu nh ập tới ROA của các ngân

Trang 8

hàng tại Mỹ Tuy nhiên, tác đ ộng tiêu cực này tới nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình tương đương nhau, trong khi tác đ ộng âm này v ới nhóm ngân hàng quy mô l ớn chỉ tương đương 1/4 đ ến 1/3 tác đ ộng trên

Tại Việt Nam, m ột số nghiên cứu đã chỉ ra tác động dương của mức độ đa dạng hóa thu nh ập tới hiệu quả của NHTM theo các mô hình tuy ến tính như Sáng (2017); Hậu và Quỳnh (2016); H ồng và cộng sự (2018) Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá tác động của mức độ đa dạng hóa thu nhập tới lợi nhuận NHTM theo các ngư ỡng quy mô (chưa đư ợc phân định trước)

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này không phân nhóm NHTM theo các m ức quy mô đư ợc xác định trước Dựa trên các lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm

đã trình bày tại Phần 2, các ngưỡng quy mô tổng tài sản sẽ được xác định một cách tự động theo sự thay đổi tác động của biến tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập trong mô hình ngư ỡng

Mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu bảng cân bằng (Balanced Panel Data) được thu thập từ Báo cáo tài chính sau kiểm toán của 30

NHTM tại Việt Nam giai đo ạn 2009-2017 Trong mẫu bao gồm đầy đủ các loại hình như nhóm NHTM qu ốc doanh, ngoài qu ốc doanh, nhóm ngân hàng nước ngoài; hoặc các NHTM đã niêm yết và chưa niêm yết Tổng tài sản mẫu chiếm 88.6% t ổng tài s ản hệ thống NHTM Việt Nam năm 2017 Do vậy, mẫu có tính đ ại diện cao cho h ệ thống NHTM Việt Nam, đồng thời giảm thiểu rủi ro về chọn mẫu thiên lệch

Phương pháp ước lượng: Nghiên cứu sử dụng phương pháp Hồi quy ngưỡng

dữ liệu bảng (Panel Threshold Regression - PTR) theo Hansen (1999) & Wang (2015), để xác định giá trị ngưỡng và ước lượng mô hình ngưỡng Việc xác định ngư ỡng đư ợc thực hiện dựa trên sự hỗ trợ của phương pháp Bootstrap, th ống kê đư ợc sử dụng để xác định sự tồn tại của các ngư ỡng là thống kê tỷ lệ Likelihood (Likelihood ratio - LR) PTR có thể xem như phương pháp ước lượng mở rộng của phương pháp tác động cố định (Fixed effect method - FEM) theo nhi ều cơ chế tuyến tính đư ợc phân định bằng các ngưỡng Tương tự Hansen (1999), nghiên cứu sử dụng các biến giả năm

Trang 9

(Year Dummy) thay th ế các biến có tác động chung t ới các NHTM hàng năm như cấu trúc ngành hay các biến kinh tế vĩ mô và các nhân tố có dữ liệu dạng chuỗi thời gian khác Điều này cho phép kiểm soát t ốt hơn sự thay đổi trong các tác động gộp hàng năm của các biến dạng chuỗi thời gian tới biến phụ thuộc, giảm thiểu rủi ro mô hình thi ếu biến nghiêm trọng cũng hiện tượng hồi quy giả mạo Kết quả ước lượng mô hình ngưỡng được thực hiện với sai số chuẩn mạnh (robust standard error) đ ể khắc phục các hiện tượng phương sai sai s ố thay đổi hoặc tự tương quan (n ếu có) Phương pháp này vẫn sử dụng đư ợc trong trư ờng hợp các khuy ết tật trên không x ảy

ra

Theo đó, mô hình ngưỡng thực nghiệm với giả định tồn tại hai ngưỡng có dạng:

(Mô hình 1)

Trong đó: Biến phụ thuộc PBT là lợi nhuận trước thuế của các NHTM; DI (Diversification) đại diện cho mức độ đa dạng hóa thu nhập là biến thay

Trang 10

đổi tác động theo ngưỡng; X là vector các biến độc lập gồm Quy mô (S);

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (EA); FGAP; FGAP bình phương; T ỷ lệ chi phí dự phòng r ủi ro tín d ụng (LLP); T ỷ lệ chi phí ho ạt động (OEA); D.Year là các biến giả năm (trừ năm cơ s ở 2009) Ngoài ra, các ch ỉ số: (i) đại diện cho mỗi đơn vị chéo (NHTM); (m): ch ỉ số của biến độc lập; (t) chỉ số đại diện cho mỗi năm; U(.) là hàm ch ỉ thị nhị phân nhận giá trị bằng 1 nếu biểu thức trong ngo ặc thỏa mãn, ngược lại nhận giá tr ị 0; và λ đại diện cho giá trị ngưỡng tổng tài sản; µi là thành ph ần tác đ ộng cố định và εit là sai s ố đặc trưng của mô hình

Căn cứ hàm ý từ lý thuyết trung gian tài chính và các nghiên c ứu thực

nghiệm tại Phần 2, mô tả các biến cùng giả thuyết tác động trong Mô hình

1 được trình bày tại Bảng 1

4 Kết quả nghiên cứu

Kiểm định đa cộng tuy ến: Nhằm kiểm tra hi ện tư ợng đa cộng tuyến cao xuất hiện trong Mô hình (1), nghiên c ứu sử dụng ma trận hệ số tương quan cặp và ư ớc lư ợng hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF) Theo thông l ệ nghiên cứu, nếu các hệ số tương quan c ặp của các biến độc lập không vượt quá 0.8, đồng thời các hệ số VIF không vượt quá 10 (một số quan điểm chặt hơn cho rằng là 5) thì Mô hình 1 không b ị đa cộng tuyến cao

Kết quả tại Bảng 2 và Bảng 3 cho thấy các h ệ số tương quan c ặp nào đều nhỏ hơn 0.8, trong khi t ất cả hệ số phóng đại phương sai (VIF) đ ều nhỏ hơn

5 Điều này cho thấy không có hiện tương đa cộng tuyến cao trong Mô hình

Ngày đăng: 01/01/2023, 05:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w