Vai trò c ủa pháp lu ật về bảo đảm bí m ật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng Bảo mật thông tin khách hàng trong ho ạt động ngân hàng HĐNH là m ột vấn đề rất phức tạp vì nó
Trang 1Bàn về pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong ho ạt động ngân hàng
1 Vai trò c ủa pháp lu ật về bảo đảm bí m ật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
Bảo mật thông tin khách hàng trong ho ạt động ngân hàng (HĐNH) là m ột vấn đề rất phức tạp vì nó liên quan đ ến lợi ích của khách hàng, nghĩa v ụ của các tổ chức tín dụng (TCTD) và các bên th ứ ba muốn tiếp cận thông tin
đó để đáp ứng các mục đích của họ Chính vì vậy, pháp luật ngân hàng phải
là phương tiện để nhà nước điều hòa lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, bảo đảm cho xã hội phát triển hài hòa và ổn định Pháp lu ật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH ph ải thể hiện được các vai trò dưới đây:
Thứ nhất, phải ghi nhận và bảo vệ quyền riêng tư c ủa khách hàng trong lĩnh vực tài chính
Khi một khách hàng ngân hàng mở một tài kho ản tại TCTD, TCTD b ắt đầu nhận và xử lý thông tin liên quan đ ến khách hàng Nh ững thông tin như v ậy phản ánh nhiều khía c ạnh cuộc sống cá nhân của khách hàng Ví d ụ, ngân hàng biết đư ợc thông tin liên quan đ ến nghề nghiệp, tuổi tác, tình tr ạng hôn nhân của khách hàng, thói quen tiêu dùng.… nh ững thông tin khác như phương án sản xuất kinh doanh, doanh số hoạt động, mối quan hệ kinh doanh với đối tác, kết quả kinh doanh của khách hàng, các d ữ liệu, số liệu
có giá trị khác và các thông tin v ề bí mật kinh doanh… Đây là nh ững thông tin rất quan trọng, nhạy cảm và là vũ khí l ợi hại để đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh khai thác
Thông thường bí mật thông tin của khách hàng là cá nhân và khách hàng là
tổ chức được các TCTD bảo mật bằng những quy định pháp luật như nhau Tuy nhiên, trong m ột số trường hợp thông tin riêng tư v ề tài chính của khách hàng là cá nhân thì nh ạy cảm, dễ bị tổn thương và đáng đư ợc pháp luật bảo vệ đặc biệt hơn Do đó, pháp lu ật ngân hàng cần có những quy định riêng về việc bảo mật thông tin của khách hàng là cá nhân và khách hàng là t ổ chức
Trang 2Pháp luật ngân hàng c ần có những quy định riêng về việc bảo mật thông tin của khách hàng
Thứ hai, thúc đ ẩy hiệu quả kinh doanh c ủa ngân hàng
Thông tin liên quan đến khách hàng được TCTD thu thập và giữ nhằm phục
vụ cho hoạt động kinh doanh c ủa họ Các TCTD không th ể hoạt động hiệu quả nếu không có thông tin đ ầy đủ của khách hàng, nh ững thông tin này được sử dụng ở nhiều khía cạnh trong hoạt động kinh doanh của các TCTD
Một là, thông tin đư ợc sử dụng nhằm phục vụ trực tiếp trong hoạt động
kinh doanh của TCTD Ví dụ, để cung cấp dịch vụ tiết kiệm, TCTD c ần phải biết tên, đ ịa chỉ và các thông tin đ ịnh danh khác c ủa khách hàng
Hai là, thông tin của khách hàng đư ợc TCTD tham khảo để phòng tránh các
rủi ro hoạt động, rủi ro tín d ụng Nghĩa là TCTD c ần phải có kh ả năng phân tích thông tin v ề lịch sử tín dụng của người xin cấp tín dụng để giảm rủi ro của nợ quá hạn và thu h ồi nợ hiệu quả
Ba là, thông tin c ủa khách hàng đư ợc TCTD sử dụng nhằm mục tiêu quảng
bá, tiếp thị các sản phẩm tài chính nhất định một cách dễ dàng, nhanh
chóng và tiết kiệm chi phí Đây là m ột biện pháp hợp lý để các TCTD có
Trang 3thể tồn tại trong th ời điểm cạnh tranh cao như hi ện nay
Như vậy, pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng cũng cần có những quy định bảo đảm rằng không gây sức ép liên quan đến nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, t ừ đó làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các
TCTD
Thứ ba, hỗ trợ tư pháp và th ực thi pháp lu ật
Hoạt động tư pháp và th ực thi pháp lu ật trong nhiều trường hợp sẽ không thực hiện được nếu TCTD giữ bí mật thông tin khách hàng c ủa mình Chính
vì vậy mà xu thế thế giới hiện nay là h ạn chế phạm vi bảo mật thông tin khách hàng và sử dụng càng nhiều thông tin tài chính đ ể phục vụ cho hoạt động tư pháp và thực thi pháp luật Việc cung cấp thông tin khách hàng trong trường hợp này nhằm:
Một là, trong hoạt động tố tụng, TCTD có th ể có nghĩa v ụ cung cấp thông
tin khách hàng nh ằm hỗ trợ trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến thừa kế, ly hôn, cung c ấp những chứng cứ giải quyết trong thủ tục phá sản hoặc cung cấp chứng cứ trong tố tụng hình sự… thực hiện điều này
là do vị trí đặc biệt của TCTD trong vai trò trung gian trong các giao d ịch kinh doanh cũng như trong cu ộc sống hàng ngày của các cá nhân Hầu như mọi hoạt động đều được phản ánh, nhi ều hay ít, trong thông tin đư ợc TCTD thu thập nhằm phục vụ hoạt động nghề nghiệp của mình
Hai là, trong những năm gần đây, tình tr ạng tội phạm trong lĩnh v ực ngân
hàng ngày càng gia tăng, mức độ vi phạm đặc biệt nghiêm tr ọng và tinh vi, phức tạp Chẳng hạn, thông qua việc lợi dụng những quy định về bảo mật thông tin khách hàng, b ọn tội phạm đã chuyển những khoản tiền phi pháp
có nguồn gốc từ buôn bán ma túy, tài tr ợ khủng bố, mua bán vũ khí b ất hợp pháp, trốn thuế… vào hệ thống tài chính đ ể biến số tiền đó thành hợp pháp
và từ các khoản tiền đã được “làm sạch” đó l ại tiếp tục cung c ấp cho bọn tội phạm buôn bán ma túy, kh ủng bố… hoặc lũng đoạn nền kinh tế quốc gia với “bàn tay sạch sẽ.”
Ba là, các cơ quan quản lý cũng c ần có thông tin ngân hàng đ ể giám sát
hiệu quả trong một số lĩnh vực Chẳng hạn, giám sát các giao d ịch nội gián
Trang 4hoặc giám sát thông qua h ệ thống thông tin, báo cáo nh ằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn ch ặn và xử lý kịp thời các r ủi ro gây m ất an toàn HĐNH, vi phạm quy định an toàn HĐNH và các quy đ ịnh khác c ủa pháp luật có liên quan
Do đó, quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cần có quy định rõ ràng, c ụ thể về quyền yêu cầu cung cấp hoặc truy cập thông tin khách hàng
Thứ tư, hợp tác qu ốc tế trong vi ệc phòng ch ống tội phạm xuyên qu ốc gia
Quy định pháp luật về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH rất khác nhau ở những khu vực pháp lý khác nhau Ch ẳng hạn, pháp luật Thụy Sĩ, bí m ật thô ng tin khách hàng đư ợc bảo vệ nghiêm ngặt, thậm chí gánh chịu hậu quả là hình ph ạt tù1; nhưng ở một số khu vực pháp lý khác,
ví dụ như Hoa Kỳ, bí mật thông tin khách hàng b ị can thiệp và kiểm tra kỹ lưỡng bởi chính phủ Kỷ nguyên toàn cầu hóa, tự do hóa các thị trường tài chính như hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm tội phạm có tổ chức quốc tế, sử dụng bí mật ngân hàng nư ớc ngoài đ ể che giấu tài sản và tiền thu được bất hợp pháp hoặc để tránh các nghĩa v ụ thuế Đồng thời, kỷ nguyên số hóa với hệ thống thanh toán ti ền điện tử cũng là thách th ức lớn đối với việc quản lý thuế của các quốc gia Các hoạt động bất hợp pháp này chỉ có thể ngăn cản, hạn chế hoặc kiểm soát thông qua h ợp tác, h ỗ trợ quốc
tế giữa các cơ quan th ực thi pháp lu ật Do đó, chia sẻ thông tin cho m ục đích giám sát, ngăn ngừa tội phạm xuyên quốc gia là yêu cầu cần thiết của các cơ quan quản lý nhà nước tại các quốc gia Do vậy, một cơ chế luật pháp về bảo mật thông tin khách hàng hi ệu quả cần phải có khả năng tăng cường hợp tác quốc tế để chống lại tội phạm xuyên quốc gia
Thứ năm, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên thông tin c ủa tổ chức hoạt động ngân hàng
Bên cạnh sự cần thiết phải hợp tác qu ốc tế, bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cũng liên quan đến chủ quyền quốc gia Trong một số trường hợp, lợi ích qu ốc gia có th ể yêu cầu tuân th ủ nghiêm ngặt tính bí m ật thông tin của các TCTD Ch ẳng hạn, dưới nỗ lực không ngừng của nguyên t ắc ngoài lãnh th ổ (Extraterritorial Principle2 - Quyền hay đặc quyền của một nhà nước vận dụng thẩm quyền của mình vượt khỏi các giới hạn lãnh thổ
Trang 5trong những trư ờng hợp nhất định) chủ yếu là Hoa K ỳ, chủ quyền của quốc gia đối với thông tin ngân hàng nằm trong lãnh thổ quốc gia có thể có
những rủi ro
Vì vậy, pháp luật về bảo mật thông tin khách hàn g trong HĐNH c ần đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền kiểm soát thông tin ngân hàng thuộc thẩm quyền riêng c ủa quốc gia
2 Đánh giá quy định của pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
Quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH đã có những nỗ lực trong việc quy định rõ quyền và nghĩa v ụ của các ch ủ thể và mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng C ụ thể:
Một là, quy định pháp lu ật về bảo mật thông tin khách hàng c ủa các TCTD
đã tạo lập được hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia HĐNH thực hiện các quy ền và nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, trong đó đã: i) Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của TCTD, khách hàng và các chủ thể liên quan trong quan hệ pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng; ii) Quy định rõ nguyên tắc cung cấp thông tin khách hàng, các th ủ tục để TCTD cung cấp thông tin khách hàng trong nh ững trư ờng hợp luật định và c ả trách nhiệm liên quan trong quá trình cung c ấp thông tin theo luật định; iii) Quy định về trình tự cung cấp thông tin khách hàng trong những trường hợp luật định; iv) Đã m ở rộng phạm vi thông tin khách hàng c ần đư ợc bảo đảm bí mật giúp bảo vệ tốt hơn quyền được bảo mật thông tin của khách hàng; v) Đã tạo cơ chế nhằm khuyến khích các TCTD ban hành các quy định nội bộ cụ thể hóa các quy định pháp luật nhằm thực thi hiệu quả nghĩa
vụ bảo mật thông tin khách hàng
Hai là, các thiết chế bảo đảm việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đang dần được củng cố và hoàn thiện Thiết chế bên trong bảo đảm thực thi trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng là hệ thống kiểm soát nội bộ3 và kiểm toán nội bộ4 của TCTD và thi ết chế bên ngoài là cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng [5]
Mục đích của hoạt động kiểm soát nội bộ; thanh tra, giám sát ngân hàng
Trang 6nhằm góp ph ần bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra6; bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ
thống các TCTD và h ệ thống tài chính; b ảo vệ quyền và lợi ích h ợp pháp của người gửi tiền và khách hàng c ủa TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đ ối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp ph ần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nư ớc trong lĩnh v ực tiền tệ và ngân hàng.[7]
Ba là, pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đã quy đ ịnh các biện pháp
pháp lý để khách hàng có thể bảo vệ quyền lợi của mình khi bị các chủ thể liên quan làm lộ hoặc cung cấp thông tin khách hàng không đúng th ẩm quyền
Bốn là, pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đã quy đ ịnh các chế tài xử
lý vi phạm liên quan khi thông tin khách hàng b ị tiết lộ không đúng th ẩm quyền
Tuy đạt được một số thành công nêu trên, nhưng nhìn m ột cách tổng thể, có thể nói pháp luật ngân hàng vẫn chưa phát huy h ết vai trò đi ều chỉnh của mình trong vi ệc bảo mật thông tin khách hàng, c ụ thể: i) Quy định pháp luật hiện hành v ề bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH v ẫn còn chưa mang tính h ệ thống;8 ii) Ph ạm vi thông tin khách hàng c ần được bảo mật vẫn còn một số trường hợp chưa đư ợc hướng dẫn cụ thể/ làm rõ; iii) Chưa
có hướng dẫn rõ ràng quy định TCTD được phép cung cấp thông tin khách hàng cho TCTD khác; iv) Chưa quy đ ịnh rõ cơ chế xác định trách nhiệm khi có mâu thuẫn trong việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng
Bên cạnh đó, các thi ết chế bảo đảm việc thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng th ời gian qua trong vi ệc phòng ngừa, ngăn ch ặn và phát hiện kịp thời sai ph ạm liên quan đến nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng chưa thực sự
đầy đủ
Ngoài ra, cơ chế giải quyết khiếu nại của khách hàng chưa quy định rõ ràng; chưa quy định cụ thể về hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng cũng như chế tài xử lý
Trang 7
Có thể nhận thấy, pháp luật Việt Nam về cơ bản đã thể hiện vai trò c ủa mình trong vi ệc bảo vệ quyền riêng tư cá nhân c ủa khách hàng, đã có
những quy định thúc đ ẩy hiệu quả kinh doanh ngân hàng; đã th ể hiện đư ợc vai trò trong vi ệc hỗ trợ tư pháp và th ực thi pháp luật, tạo điều kiện cho hợp tác quốc tế trong cu ộc chiến chống tội phạm xuyên quốc gia và các vi phạm về thuế
3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
Hoàn thiện pháp lu ật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH, trư ớc hết cần phải phù h ợp với chủ trương, đư ờng lối, chính sách c ủa Đảng Cộng sản Việt Nam Có thể nói, đư ờng lối chính tr ị của đảng cầm quyền có ý nghĩa chỉ đạo trong việc xây dựng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục pháp luật Pháp luật làm cho đư ờng lối, chính sách c ủa đảng thành ý chí chung, thành ý chí của nhà nư ớc.9 Thực tiễn xây dựng và hoàn thi ện hệ thống pháp luật của Việt Nam trong th ời gian qua đã cho th ấy những chủ trương, đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước làm tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp l uật Cùng v ới việc xây dựng nền kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nhiều văn bản quy phạm pháp lu ật đư ợc ban hành đã t ạo ra khung pháp lý quan trọng cho sự vận hành nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế, tạo lập môi trư ờng pháp
lý an toàn và hi ệu quả cho các hoạt động kinh doanh, trong đó có HĐNH
Hoàn thiện pháp lu ật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH c ần giải quyết được vấn đề hài hòa giữa quyền, lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quan h ệ pháp lu ật bảo mật thông tin khách hàng, b ảo đảm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng an toàn và hi ệu quả cũng như bảo đảm cho yêu cầu đấu tranh, phòng ch ống tội phạm Bởi lẽ nếu vì lợi ích của khách hàng, lợi ích của các TCTD mà nhà nước quy định quá khắt khe về bảo mật thông tin thì s ẽ ảnh hư ởng không t ốt cho hoạt động thực thi pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm có liên quan đ ến HĐNH Ho ặc nếu để phục vụ cho hỗ trợ tư pháp và thực thi pháp lu ật mà quy đ ịnh buộc các T CTD phải cung cấp thông tin khách hàng cho nh ững chủ thể liên quan mà không quy định rõ giới hạn và thủ tục cung cấp thông tin khách hàng thì s ẽ làm ảnh hưởng đến quyền của khách hàng, kéo theo hệ lụy là hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ gặp khó khăn, không bảo đảm được hiệu quả, ổn định của
Trang 8HĐNH
Để giải quyết vấn đề này, cần dựa vào nguyên lý công bằng của pháp luật Trước hết, nguyên lý công bằng của pháp luật đòi hỏi việc xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật phải công b ằng, không thiên v ị hay chỉ dựa vào lợi ích của một (hoặc một nhóm) ch ủ thể nào đó, mà phải dựa vào lợi ích toàn cục, phải tối ưu hóa m ọi lợi ích của chủ thể có liên quan Đi ều đó có nghĩa là, pháp luật cần bảo đảm vai trò của mình trong việc tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho v iệc thực hiện bảo đảm quyền lợi của khách hàng và thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của các TCTD Mặt khác, pháp luật cần tạo lập cơ sở pháp lý đ ể phục vụ cho hoạt động tư pháp và th ực thi pháp luật; tạo điều kiện hợp tác qu ốc tế trong cu ộc chiến chống tội phạm xuyên biên giới và các vi phạm quy định về thuế thông qua vi ệc quy định rõ ràng phạm
vi thông tin c ần yêu c ầu cung c ấp, trình tự thủ tục yêu cầu cung c ấp nhằm tránh sự lạm quyền trong yêu c ầu cung cấp thông tin khách hàng làm ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng cũng như hoạt động của TCTD Do đó, trong quá trình xây d ựng và hoàn thiện pháp lu ật về bảo mật thông tin
khách hàng cần có sự tham gia của nhiều chủ thể, phải có cơ ch ế giải trình, kiểm tra, giám sát, đ ảm bảo công khai và minh bạch
Thứ hai, bảo đảm sự phù hợp trong vi ệc điều chỉnh bằng pháp luật đối với bảo đảm an toàn, b ảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH Có ba v ấn đề
cơ bản liên quan đến nội dung này:
i) Pháp luật cần thiết phải xác định cụ thể giới hạn nghĩa vụ bảo mật và các trường hợp mà các TCTD được phép cung cấp thông tin khách hàng; vượt quá giới hạn đó là vi ph ạm và cần xử lý Nói khác đi, là ph ải quy đ ịnh thông qua những quy phạm cấm đoán, nêu rõ nh ững nội dung nào TCTD phải thực hiện và không đư ợc thực hiện, để bảo đảm an toàn, b ảo mật
thông tin khách hàng và ch ế tài cụ thể kèm theo
ii) Xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của khách hàng của các TCTD khi thông tin c ủa họ bị cung cấp không đúng quy đ ịnh của pháp lu ật
iii) Tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng Các gi ải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH bao g ồm
Trang 9những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn thực thi pháp lu ật về
bảo mật thông tin khách hàng; tham kh ảo kinh nghiệm của một số quốc gia
có những quy đ ịnh về vấn đề này, từ đó xây dựng khung khổ pháp lý bảo mật thông tin khách hàng, khi TCTD th ực hiện nghĩa v ụ cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để sử dụng vào mục đích phòng, ch ống rửa tiền; phòng, ch ống khủng bố10, bảo đảm cân bằng lợi ích của khách hàng, lợi ích của các TCTD và lợi ích của quốc gia trong b ối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hi ện nay t ại Việt Nam
Hai là, tiếp tục rà soát các quy đ ịnh hiện hành v ề pháp luật bảo mật thông
tin của khách hàng qua đó s ửa đổi những quy định còn ch ồng chéo ho ặc không còn phù h ợp để hoàn thiện các quy định pháp lu ật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cho đ ồng bộ, nhất quán với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Ba là, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát và c ụ thể hóa các
trường hợp tổ chức, cá nhân được quyền yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng, từ đó cụ thể hóa các trư ờng hợp đư ợc yêu cầu cung cấp thông tin; trường hợp cấm, hạn chế cung cấp thông tin khách hàng nhằm bảo đảm thuận lợi trong vi ệc quản lý và thực thi pháp luật của các TCTD, bảo đảm quyền đư ợc bảo mật thông tin của khách hàng
Bốn là, quy định rõ ràng, c ụ thể cơ chế bảo vệ quyền lợi của khách hàng
của các TCTD khi thông tin c ủa họ bị cung cấp không đúng quy đ ịnh của pháp luật, chẳng hạn TCTD phải xây dựng một quy trình giải quyết khiếu nại và công bố chính thức trên website c ủa TCTD Quá trình gi ải quyết khiếu nại của khách hàng của các TCTD cũng c ần được giám sát bởi Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng tr ực thuộc Ngân hàng Nhà nư ớc Việt Nam Các th ủ tục khiếu nại nội bộ này đư ợc coi là cơ chế đầu tiên mà khách hàng có th ể áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình Việc giải quyết khiếu nại theo biện pháp đầu tiên nếu thực hiện tốt sẽ cải thiện được mối quan hệ khách hàng, tăng s ự tin tư ởng vào h ệ thống ngân hàng và gi ảm bớt
sự xét xử Trong trư ờng hợp các tranh ch ấp của khách hàng không th ể giải quyết đư ợc theo cơ chế trên, họ có thể khởi kiện tại tòa Việc giải quyết của tòa cũng nên theo cơ ch ế rút gọn để có thể bảo mật đư ợc thông tin c ủa
Trang 10khách hàng, ti ết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nư ớc và đương sự
Năm là, tăng cường tuyên truyền đối với khách hàng trong việc nâng cao ý
thức và trách nhi ệm trong vi ệc bảo mật thông tin của chính mình C ảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân trên các phương tiện thông tin đại chúng, khi giao dịch qua mạng Cần xây dựng một cơ chế phối hợp, đồng thời khuyến khích sự hợp tác giữa các cơ quan chính phủ, cơ quan thanh tra, giám sát c ủa NHNN, Hiệp hội Ngân hàng và các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng trong vi ệc giáo dục tài chính, cung c ấp thông tin và hướng dẫn cho người tiêu dùng nói chung và khách hàng c ủa TCTD nói riêng Đây cũng có th ể là một biện pháp t ốt để tăng cường nhận thức và sự cẩn trọng của khách hàng khi th ực hiện giao d ịch thông qua các dịch vụ tài chính của TCTD
Sáu là, các TCTD c ần chủ động trong việc xây dựng quy chế nội bộ, quy
tắc đạo đức kinh doanh ngân hàng Đây cũng là y ếu tố rất quan tr ọng bảo đảm thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH đư ợc hiệu quả và cũng là cơ s ở pháp lý để cơ quan nhà nư ớc có thẩm quyền áp dụng pháp luật để xét xử kịp thời, đúng pháp lu ật trong trường hợp tổ chức HĐNH, nhân viên tổ chức HĐNH vi phạm pháp luật bảo mật thông tin khách hàng, bảo đảm cho pháp lu ật đi vào cuộc sống
Bảy là, tăng cư ờng cơ ch ế kiểm soát và đi ều chỉnh quá trình th ực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH Để hoạt động thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH đ ạt được hiệu quả, quyền và nghĩa vụ pháp lý c ủa các bên đư ợc bảo đảm, từ đó góp ph ần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thì vai trò của Cơ quan thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nư ớc cần đư ợc phát huy Cần tăng cư ờng thanh tra, kiểm tra, giám sát ch ặt chẽ việc thực thi các văn bản pháp luật của TCTD thông qua các đợt thanh tra định kỳ dưới sự phối hợp của các cơ quan hữu quan, xác định rõ những nội dung thanh tra, giám sát cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, th ời gian ph ải thực hiện và đặc biệt là trách nhiệm pháp
lý khi các cơ quan này vi ph ạm nghĩa vụ phối hợp trong hoạt động thanh tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi ph ạm trong lĩnh v ực cung cấp thông tin và xử lý vi phạm, khiếu nại trong hoạt động bảo mật thông tin c ủa khách hàng m ột cách kịp thời, minh bạch
-