Công nghệ Blockchain đã đư ợc các ngân hàng trên th ế giới nghiên cứu và ứng dụng trong hoạt động TTQT Công nghệ hỗ trợ các ngân hàng trong quá trình qu ản lý vận hành h ệ thống và nâng
Trang 1CÔNG NGHỆ SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QU ỐC TẾ TẠI
NGÂN HÀNG
Với những bước tiến liên t ục và mang tính đột phá, công ngh ệ đang trở thành tâm điểm chú ý của thế giới và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong lĩnh v ực ngân hàng
Công nghệ Blockchain đã đư ợc các ngân hàng trên th ế giới nghiên cứu và ứng dụng trong hoạt động TTQT
Công nghệ hỗ trợ các ngân hàng trong quá trình qu ản lý vận hành h ệ thống
và nâng cao ch ất lư ợng dịch vụ, đồng thời tạo nền tảng cho sự ra đời các sản phẩm dịch vụ mới Từ những ứng dụng công nghệ phổ biến dựa vào mạng Internet, ngày nay, công ngh ệ đã có những bư ớc phát triển vư ợt bậc
Là hoạt động ngân hàng liên quan đ ến các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, thanh toán qu ốc tế (TTQT) chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố công nghệ
Bài viết nghiên cứu về công nghệ số trong hoạt động TTQT t ại các ngân hàng - một vấn đề mang tính thời sự, góp phần tạo ra những thay đ ổi tích cực trong ho ạt động TTQT nói riêng và ho ạt động kinh doanh ngân hàng nói chung Từ đó, đưa ra bức tranh tổng thể về những công ngh ệ đã và đang được các ngân hàng trên toàn c ầu ứng dụng trong quá trình thực hiện các giao dịch TTQT Bên c ạnh đó, đánh giá th ực trạng ứng dụng công ngh ệ số trong hoạt động TTQT tại các ngân hàng thương m ại (NHTM) Việt Nam và đưa ra một số gợi ý liên quan đến việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động TTQT tại ngân hàng
1 Đặt vấn đề
Đối tượng khách hàng chủ yếu sử dụng dịch vụ TTQT của ngân hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán giúp các doanh nghi ệp giải quyết khâu thanh toán cho các h ợp đồng ngoại thương đ ể hoàn tất thương vụ Nhìn chung, s ản phẩm TTQT của các ngân hàng tương đối giống nhau, bao gồm các sản phẩm cơ bản như chuyển tiền, nhờ thu, thư tín d ụng (L/C) và các s ản phẩm khác (Hình 1) Quá trình cung cấp các sản phẩm TTQT của ngân hàng rất cần sự hỗ trợ của công nghệ Công nghệ giúp các bên liên quan, nh ất là các ngân hàng, xóa nhòa
sự trở ngại về khoảng cách đ ịa lý để có thể trao đổi thông tin và th ực hiện các giao d ịch TTQT một cách nhanh chóng, thu ận tiện, an toàn và b ảo mật
Trang 2
Trong xu th ế hiện nay, khi nhu c ầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng cao thì các ngân hàng c ần nâng cao chất lượng dịch
vụ để duy trì và phát tri ển quan hệ khách hàng Công ngh ệ là chìa khóa để ngân hàng c ải tiến chất lượng dịch vụ, giúp khách hàng ti ếp cận các dịch
vụ TTQT một cách thu ận tiện, tiết kiệm chi phí và th ời gian giao d ịch Bên cạnh đó, sự thay đổi mô hình hoạt động TTQT của ngân hàng cũng đ ặt ra yêu cầu đổi mới công nghệ sao cho phù h ợp với sự vận hành của hệ thống
Một vấn đề khác của thương m ại và TTQT là vi ệc chuyển giao chứng từ giữa các bên tham gia M ặc dù các công cụ và kỹ thuật mới đã đư ợc phát triển theo hư ớng số hóa các chứng từ thương m ại như phương th ức Nghĩa
vụ thanh toán qua ngân hàng (Bank Payment Obligatio ns - BPO), điện tử hóa dữ liệu liên quan đến thương mại như essDOCS ho ặc Bolero, tích h ợp với hệ thống ERP (SWIFT MT798) (Euro Banking Association, 2016),
nhưng cho đến nay, chứng từ bằng văn bản - chứng từ giấy (paper
documents) vẫn đư ợc sử dụng chủ yếu trong ho ạt động TTQT và đư ợc
chuyển giao b ởi các công ty d ịch vụ chuyển phát nhanh Đi ều đó t ốn nhiều thời gian, tốc độ thanh toán chậm, có thể gây ra rủi ro trong khâu chuy ển giao chứng từ và dẫn đến sự chậm trễ trong vi ệc giao nhận hàng hóa, nh ất
là trong những trư ờng hợp bất khả kháng như d ịch bệnh Covid-19, một số quốc gia đóng cửa đường bay Do đó, vi ệc số hóa các chứng từ là cần thiết
để giải quyết những tương tác phức tạp và cồng kềnh của thương mại dựa trên giấy tờ
Trang 3
Hoạt động tài tr ợ thương mại và TTQT liên quan đ ến nhiều bên tham gia Theo Boston Consulting Group (2017), có hơn 20 bên tham gia vào m ột giao dịch tài tr ợ thương mại, vì thế, cần có các gi ải pháp để kiểm soát ch ặt chẽ mọi thông tin liên quan đ ến giao d ịch TTQT c ủa tất cả các bên tham gia nhằm đảm bảo tính minh bạch và hạn chế rủi ro
Như vậy, công nghệ là nhân tố chính, hỗ trợ các ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ TTQT và gi ải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh v ực này Cùng với sự phát triển của thời đại công ngh ệ số, việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới vào ho ạt động TTQT t ại ngân hàng là c ần thiết
2 Công nghệ số trong ho ạt động TTQT t ại ngân hàng
Để thực hiện hoạt động TTQT, các ngân hàng đã sử dụng một số công nghệ
để kết nối các khâu tác nghiệp trong nội bộ ngân hàng Ngoài Core banking
là hệ thống ngân hàng lõi qu ản lý tích hợp mọi hoạt động giao dịch của ngân hàng, mỗi ngân hàng còn thi ết kế những chương trình công ngh ệ riêng phù hợp cho sự vận hành mô hình ho ạt động TTQT Bên cạnh đó, nh ờ sự phát triển của mạng Internet, các ngân hàng đã cho ra đ ời những sản phẩm TTQT giao d ịch trực tuyến, cho phép khách hàng g ửi đề nghị giao dịch và nhận kết quả xử lý trên Internet
Trong quá trình th ực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có nhu c ầu trao đ ổi thông tin v ới các ngân h àng khác trên th ế giới Trong giai đo ạn đầu triển khai hoạt động TTQT, các ngân hàng s ử dụng phương th ức trao đổi thông tin bằng thư tín và đi ện Telex Cả hai phương thức truyền tin này đều bộc
lộ những hạn chế về tốc độ, tính an toàn, b ảo mật và chu ẩn hóa nên không còn được sử dụng phổ biến trong TTQT Năm 1973, 239 ngân hàng t ừ 15 quốc gia đã cùng nhau gi ải quyết một vấn đề chung: Làm thế nào để giao tiếp về thanh toán xuyên biên gi ới (SWIFT, 2020) T ừ đó, SWIFT (The Society for Worldwide Interbank Financ ial Telecommunication - Hiệp hội Viễn thông Tài chính liên ngân hàng toàn c ầu) đã ra đ ời, đặt trụ sở chính tại Bỉ Thành viên c ủa SWIFT là các ngân hàng và m ột số định chế tài chính Các dịch vụ truyền tin c ủa SWIFT bao gồm một nền tảng các bức điện (MT - Message Type) sử dụng cho từng mục đích giao dịch cụ thể, một hệ thống máy tính đ ể xác nhận, định tuyến các bức điện và m ột bộ tiêu chuẩn điện SWIFT để các ngân hàng trao đ ổi thông tin theo m ột “ngôn ngữ chung” với một cấu trúc thống nhất SWIFT đã cung cấp một giải pháp
Trang 4công nghệ hữu hiệu và sáng tạo, mang lại những tiện ích vượt trội, an toàn, bảo mật, nhanh chóng và tiêu chu ẩn hóa cho việc trao đổi thông tin trong hoạt động TTQT gi ữa các ngân hàng trên toàn c ầu Vì th ế, số lượng thành viên ở khắp các quốc gia tham gia vào h ệ thống này và s ố lượng các bức điện giao dịch ngày càng gia tăng (Bảng 1)
Trải qua quá trình hơn 40 năm hình thành và phát tri ển, SWIFT là công nghệ được sử dụng chủ yếu trong ho ạt động TTQT t ại các ngân hàng trên thế giới Trong quá trình ho ạt động, SWIFT không ng ừng cải tiến và đưa ra các giải pháp công ngh ệ số để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Tháng 9 năm 2014, SWIFT giới thiệu mẫu điện MT 798 - một loại điện xác thực dùng để trao đổi dữ liệu thương mại liên quan đến các giao dịch L/C và bảo lãnh giữa các doanh nghi ệp phi ngân hàng và các ngân hàng thành viên c ủa
tổ chức SWIFT (SWIFT, 2016) Thông thư ờng, các giao dịch L/C và b ảo lãnh ngân hàng ph ải được xử lý bằng các giao di ện ngân hàng khác nhau và khách hàng không n ắm bắt đư ợc thông tin liên quan đ ến giao d ịch mà họ đang thực hiện tại ngân hàng Hơn nữa, việc khởi tạo và xử lý chứng từ liên quan đến các giao dịch này là một thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghi ệp thiếu các quy trình t ự động và tiêu chu ẩn hóa (Michael Fenyk, 2015) V ới MT 798, các giao d ịch L/C và bảo lãnh ngân hàng có thể được xử lý tích hợp thông qua một kênh liên lạc duy nhất Nhờ đó, các doanh nghi ệp có thể kết nối với hệ thống SWIFT đ ể theo dõi toàn diện tất cả các hoạt động và thông tin liên quan đ ến giao d ịch L/C và bảo lãnh ngân hàng, đ ồng thời trao đ ổi với các ngân hàng li ên quan Ngoài
ra, MT 798 còn cho phép các doanh nghi ệp thực hiện các giao dịch tài tr ợ thương mại bằng các phương tiện trực tuyến như nhập đơn đề nghị phát hành/tu chỉnh L/C, nhận thông báo L/C xu ất khẩu, nhập đơn đ ề nghị phát hành bảo lãnh Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời các sản phẩm TTQT trực tuyến của ngân hàng
Trang 5
Công nghệ SWIFT vẫn chưa giải quyết đư ợc vấn đề chuyển giao chứng từ
và đáp ứng nhu cầu kết nối, chia sẻ mọi thông tin trong quá trình th ực hiện giao dịch của tất cả các bên liên quan trong TTQT Quy trình TTQT truy ền thống khiến cho các giao d ịch diễn ra trong thời gian dài, từ đó có thể dẫn đến khả năng xảy ra nhiều sai sót và phát sinh thêm nhiều chi phí Để giải quyết vấn đề này, nhờ vào sự phát triển của công nghệ số, các chuyên gia
về thương mại bắt đầu nghiên cứu việc ứng dụng các gi ải pháp công ngh ệ mới vào hoạt động TTQT Trong đó, s ự ra đời của phương thức thanh toán BPO (Bank Payment Obligations) v ới công ngh ệ so khớp dữ liệu điện tử là một bước tiến trong vi ệc ứng dụng công ngh ệ số vào hoạt động TTQT t ại ngân hàng Theo điều 3 URBPO (The uniform rules for Bank Payment
Obligations - Quy tắc thống nhất về Nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng),
“BPO là một cam kết độc lập và không hủy ngang của một ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank), sẽ trả tiền ngay hoặc cam kết thanh toán sau và trả tiền khi đáo h ạn cho Ngân hàng ti ếp nhận (Recipient Bank) sau khi xu ất trình tất cả các bộ dữ liệu được yêu cầu bởi dữ liệu cơ sở đã đư ợc thiết lập (Established Baseline) và cho k ết quả so khớp phù h ợp hoặc đã chấp nhận
so khớp không phù h ợp theo đúng quy đ ịnh tại tiểu mục 10(c)” (ICC,
2013) Khác v ới các phương thức TTQT truyền thống trư ớc đây, điểm đặc biệt của phương th ức BPO là cơ chế trao đổi dữ liệu và xuất trình chứng từ điện tử qua hệ ứng dụng so khớp dữ liệu giao dịch (TMA - Transaction Matching Application) Ngư ời mua, người bán và các ngân hàng có thể thiết lập dữ liệu, gửi các chứng từ dưới dạng điện tử qua TMA Tổ chức quản lý, vận hành TMA là TSU (Trade Services Utility) Các ngân hàng muốn sử dụng TMA ph ải đăng ký v ới TSU Toàn bộ quy trình đư ợc tự động hóa, việc so khớp dữ liệu và kiểm tra các chứng từ điện tử được thực hiện bằng máy qua TMA m ột cách nhanh chóng, chính xác, ti ết kiệm thời gian
xử lý giao d ịch hơn so v ới việc giao dịch bằng chứng từ giấy Standard Chartered Bank là ngân hàng đ ầu tiên thực hiện thành công giao dịch BPO vào năm 2012, trước khi URBPO được Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) thông qua Theo báo cáo c ủa SWIFT, hiện nay có 27 tập đoàn tài chính l ớn trên thế giới đã triển khai sử dụng phương thức thanh toán BPO (Đào Minh Tuấn, 2019) Tuy nhiên, đ ến nay, BPO v ới công ngh ệ so khớp dữ liệu điện
tử này dư ờng như không còn đư ợc quan tâm nhiều như th ời điểm mới ra đời mà thay vào đó là công ngh ệ Blockchain
Blockchain là m ột loại công nghệ sử dụng các phương pháp m ật mã để ghi lại các tập hợp giao dịch mới của các “kh ối” đư ợc xác minh trong các
khoảng thời gian c ụ thể Khi một khối mới được xác minh, nó s ẽ được “liên
Trang 6kết” với khối trư ớc đó Các khối được xâu chu ỗi tạo ra một sổ cái phân tán thống nhất Blockchain thư ờng cho phép ngư ời bất kỳ tham gia vào trong khối xác minh các nhóm giao d ịch mới, nhưng vi ệc xác minh cũng có th ể bị giới hạn đối với các bên c ụ thể (Euro Banking Association, 2016)
Blockchain như một sổ cái công khai, nghĩa là nó dễ dàng để truy vấn bất
kỳ trình khám phá kh ối nào… (Melanie Swan, 2015) N ếu như công ngh ệ SWIFT và công ngh ệ so khớp dữ liệu điện tử TMA cho phép hai bên truy ền thông tin và thực hiện các giao dịch TTQT theo t ừng đôi thì công ngh ệ Blockchain cho phép t ất cả các chủ thể cùng tham gia vào m ột “khối” và truyền thông tin, theo dõi, ki ểm soát m ọi giao d ịch vào b ất cứ thời điểm nào Blockchain sử dụng dữ liệu và chứng từ điện tử, khác với giao dịch TTQT truy ền thống, đư ợc thực hiện trên nhi ều hệ thống công nghệ khác nhau và khác v ới giao dịch BPO sử dụng công nghệ so khớp dữ liệu điện
tử, toàn b ộ các bư ớc của một giao d ịch TTQT ứng dụng Blockchain đư ợc thực hiện trên cùng m ột nền tảng duy nhất với sự tham gia của tất cả các bên liên quan (B ảng 2) Trong giao d ịch TTQT trên n ền tảng Blockchain, các bên tham gia s ẽ cùng ký kết một hợp đồng thông minh (smart contract) Hợp đồng thông minh là các mã máy tính t ự thực thi các chức năng sau khi kích hoạt và không thể thay đổi Ví d ụ, nếu một hợp đồng thông minh đư ợc thỏa thuận giữa người mua và ngư ời bán quy định rằng sau khi hàng hóa đã được thông quan, 20% số tiền sẽ được chuyển cho người bán, hợp đồng thông minh sẽ tự động giải ngân thanh toán sau khi xác nh ận đư ợc vào sổ cái phân tán việc cơ quan hải quan đã thông quan hàng hoá (Euro Banking Association, 2016)
Trang 7
Công nghệ Blockchain giúp gi ải quyết các vấn đề chính c ủa TTQT và tài trợ thương mại Thứ nhất, Blockchain vận hành theo cơ ch ế bảo mật dữ liệu bằng mật mã, các thông tin đư ợc lưu trữ trên Blockchain là b ất biến và cho phép các bên tham gia có th ể truy xu ất hoặc xác minh t ại mọi thời điểm bằng quyền truy cập được cấp phép Thứ hai, cấu trúc sổ cái phân tán t ạo
ra tính minh bạch và khả năng truy xu ất các giao d ịch, cho phép t ự động thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thông minh (Lata Varghese và Rashi Goyal, 2017) Nh ờ các tính năng này, quy trình tài tr ợ thương mại và
TTQT dựa trên chu ỗi khối sẽ tiết giảm chi phí giao d ịch, an toàn và minh bạch, hạn chế được các r ủi ro từ việc gian lận hoặc giả mạo chứng từ trong hoạt động TTQT V ới những ưu điểm vượt trội, công nghệ Blockchain đã được các ngân hàng trên thế giới khám phá và ứng dụng trong hoạt động TTQT, chủ yếu trong giao d ịch thư tín dụng Barclays (nư ớc Anh) là ngân hàng đầu tiên sử dụng Blockchain trong một giao dịch L/C giữa Công ty Thương mại Seychelles và Ornua vào năm 2016 Ch ứng từ giao dịch được chuyển giao thành công trên n ền tảng công nghệ chuỗi khối của công ty khởi nghiệp sáng tạo Wave Tháng 5 năm 2018, ngân hàng HSBC cùng v ới ING Bank cũng thử nghiệm thành công công nghệ mới này trên nền tảng Blockchain của Voltron trong m ột giao dịch L/C đư ợc phát hành theo yêu cầu của Cargil l - một công ty nông nghi ệp và thực phẩm Hoa K ỳ Voltron
là một nền tảng công nghiệp mở ứng dụng công nghệ chuỗi khối nhằm tạo
ra, trao đổi, chấp nhận và phát triển tín dụng thư trên Corda, một nền tảng chuỗi khối của công ty công ngh ệ R3 Một số ngân hàng khác trên thế giới
Trang 8cũng đã và đang nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ Blockchain trong hoạt động tài trợ thương mại và TTQT
3 Thực trạng ứng dụng công nghệ số trong ho ạt động thanh toán qu ốc
tế tại các NHTM Việt Nam
Ngay từ khi triển khai nghiệp vụ TTQT, các NHTM Vi ệt Nam luôn xác định công nghệ là chìa khóa để mở cánh cửa hoạt động TTQT Hầu hết các NHTM Việt Nam đều là thành viên c ủa SWIFT và ch ủ yếu sử dụng công nghệ này trong TTQT T ất cả các giao dịch TTQT đều đư ợc ngân hàng th ực hiện bằng cách gửi điện qua hệ thống SWIFT Ngoài ra, m ỗi ngân hàng còn thiết kế những chương trình công ngh ệ riêng nhằm hiện đại hóa quá trình quản lý và vận hành mô hình ho ạt động TTQT Ngoài Core banking, các ngân hàng đã xây dựng được hệ thống công nghệ hiện đại phục vụ hoạt động TTQT như: (i) chương trình k ết nối công việc giữa các Trung tâm TTQT và/hoặc tài trợ thương m ại và kênh phân ph ối; (ii) chương trình kiểm tra hạn mức chuyển tiền cá nhân, hạn mức xác nhận L/C, hạn mức chiết khấu; (iii) ngân hàng tr ực tuyến giúp khách hàng th ực hiện một số giao dịch TTQT online Tuy nhiên, h ệ thống công ngh ệ đôi khi bị trục trặc
do máy ch ủ bị lỗi kết nối hoặc đư ờng truy ền bị nghẽn mạch, làm cho giao dịch TTQT b ị ngưng trệ trên toàn hệ thống Trên cơ sở học hỏi kinh
nghiệm ngân hàng nư ớc ngoài, các NHTM Vi ệt Nam đều thành lập Trung tâm TTQT và/hoặc Tài trợ thương m ại để xử lý tập trung mọi giao dịch TTQT trên toàn h ệ thống và thực hiện các nghiệp vụ TTQT chuyên sâu; kênh phân phối có chức năng trực tiếp tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cho khách hàng Sự thay đ ổi về mô hình hoạt động TTQT đã đặt ra yêu c ầu đổi mới về công ngh ệ Nếu như trư ớc đây, khi công ngh ệ ngân hàng chưa phát triển, việc luân chuyển chứng từ giữa kênh phân phối và Hội sở hoặc giữa các phòng ban nghi ệp vụ được thực hiện bằng các công cụ như Email,
Fax và theo dõi h ồ sơ bằng cách ghi sổ thủ công thì hi ện nay, các ngân hàng đều đã có những chương trình công nghệ giúp luân chuyển chứng từ
và qua đó, có thể trích xuất lại giao dịch, tổng hợp báo cáo trên hệ thống này Bên cạnh đó, các ngân hàng đã ứng dụng công ngh ệ Internet để cung cấp các dịch vụ TTQT trực tuyến như đăng ký giao d ịch chuyển tiền bằng điện T/T (Telegraphic Transfer), đ ề nghị mở L/C, nhận L/C cũng như trực tuyến theo dõi các thông tin liên quan đ ến giao d ịch Tuy so với ngân hàng nước ngoài, các NHTM Việt Nam chưa khai thác tối đa tiện ích của kênh ngân hàng tr ực tuyến nhưng điều đó đư ợc xem như những bước khởi đầu cho việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động TTQT tại các NHTM
Trang 9Việt Nam
Việc ứng dụng các công ngh ệ mới như công ngh ệ so khớp dữ liệu trong phương thức BPO hay công nghệ Blockchain trong hoạt động TTQT tại các ngân hàng Việt Nam còn khiêm t ốn Thực tế, cho đến nay, g ần 10 năm kể
từ khi phương thức tha nh toán BPO ra đ ời với tính năng trao đ ổi cơ sở dữ liệu điện tử, vẫn chưa có một NHTM Việt Nam nào triển khai BPO Trong khi đó, công nghệ Blockchain đang được chú ý ngày càng cao và đã đư ợc thử nghiệm trong các giao d ịch TTQT tại thị trường Việt Nam t ừ năm 2019
Mở đầu cho cu ộc thử nghiệm này là giao d ịch L/C của ngân hàng HSBC chi nhánh Việt Nam đư ợc thực hiện giữa bên mua là Công ty C ổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân c ủa Việt Nam và bên bán là công ty INEOS Styrolution Korea của Hàn Quốc, hai doanh nghi ệp lớn trong ngành sản xuất nhựa Trong đó, HSBC Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng phát hành và HSBC Hàn Quốc đóng vai trò là ngân hàng thông báo và ngân hàng đư ợc chỉ định Giao dịch này đư ợc tiến hành trên Voltron m ột nền tảng của Blockchain
Tháng 9 năm 2020, NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
đã thực hiện thành công giao dịch phát hành L/C xác nhận liên ngân hàng trên mạng lư ới tài chính thương m ại toàn cầu Contour và tr ở thành NHTM Việt Nam đầu tiên ứng dụng công ngh ệ Blockchain trong ho ạt động TTQT Giao dịch này di ễn ra giữa bên mua là Công ty C ổ phần nhựa Opec của Việt Nam và bên bán là m ột tập đoàn l ớn tại Thái Lan v ới sự tham gia của BIDV Việt Nam là ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo và xác nh ận L/C là Standard Chartered Thái Lan với sự phối hợp của Standard
Chartered Việt Nam, ngân hàng b ảo lãnh xác nhận là Ngân hàng Phát tri ển châu Á (ADB) Khác v ới giao dịch L/C sử dụng công nghệ Blockchain đã được thực hiện cách đây một năm của HSBC Việt Nam, đây là giao dịch phát hành L/C đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện giữa các ngân hàng khác hệ thống Ngoài ra, s ự tham gia c ủa ADB trong vai trò ngân hàng b ảo lãnh xác nhận cũng là m ột điểm đặc biệt của giao dịch này so với các giao dịch TTQT sử dụng công ngh ệ Blockchain đã th ực hiện trên thế giới Tiếp theo sau đó, HDBank và Vietinbank cũng chính th ức công bố về giao dịch phát hành L/C đầu tiên của mình trên nền tảng ứng dụng Contour một nền tảng tài trợ thương mại sử dụng công nghệ Blockchain vào tháng 11 năm
2020
Trang 10
Việc ứng dụng công nghệ Blockchain trong ho ạt động TTQT là m ột dấu mốc quan tr ọng thể hiện nỗ lực của các NHTM Việt Nam trong ti ến trình s ố hóa hoạt động tài tr ợ thương mại và TTQT Tuy nhiên, vi ệc ứng dụng công nghệ Blockchain trong ho ạt động TTQT t ại các NHTM Vi ệt Nam có m ột số hạn chế Đó là:
Thứ nhất, số lượng các ngân hàng ứng dụng Blockchain trong TTQT chưa
nhiều Đến nay, m ới chỉ có 03 ngân hàng đang ở giai đoạn thử nghiệm và mỗi ngân hàng chỉ mới thực hiện một giao dịch phát hành L/C Các ngân hàng khác còn đang trong giai đoạn nghiên cứu
Thứ hai, giao dịch mới chỉ được thử nghiệm ở khâu phát hành L/C và chưa
mở rộng thử nghiệm cho toàn bộ quy trình giao d ịch L/C, bao g ồm cả khâu xuất trình chứng từ và thanh toán L/C cũng như chưa ti ến hành thử nghiệm cho các giao dịch chuyển tiền và nhờ thu
Thứ ba, các ngân hàng chưa có quy đ ịnh hư ớng dẫn cũng như quy trình
nghiệp vụ cụ thể cho các s ản phẩm TTQT ứng dụng công nghệ Blockchain Thực tế, nhân viên ở kênh phân phối tại các ngân hàng đã th ực hiện các giao dịch này không n ắm bắt thông tin về sản phẩm để tư vấn cho khách hàng Điều này cho thấy Blockchain còn là một khái niệm khá mới mẻ
trong tâm thức của những người thực hành nghiệp vụ TTQT t ại các NHTM Việt Nam
Thứ tư, mô hình ứng dụng Blockchain trong ho ạt động TTQT đã đư ợc thử
nghiệm tại 03 ngân hàng trên chưa thực sự hoàn thi ện khi chỉ có doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các ngân hàng mà chưa có s ự tham gia c ủa các công ty v ận tải, công ty bảo hiểm, hải quan và các cơ quan có th ẩm quyền cấp phát một số giấy chứng nhận về hàng hóa
Qua trao đổi thông tin với các ngân hàng, sở dĩ công nghệ so khớp dữ liệu điện tử trong phương thức BPO và công nghệ Blockchain chưa được sử dụng rộng rãi tại các NHTM Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân Ở góc độ vĩ mô, cơ sở pháp lý và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại Việt Nam chưa tạo ra các điều kiện cần thiết để các ngân hàng mạnh dạn áp dụng các công nghệ mới này vào ho ạt động TTQT Ở góc độ vi mô, các ngân hàng còn ng ần ngại về vấn đề chi phí khi gia nh ập vào TSU hay ứng