Chí Minh: Hồ Chí Minh quan niệm về tôn giáo và những vấn đề của công tác tôngiáo; vấn đề khai thác các giá trị văn hóa và đạo đức từ tôn giáo; nhấn mạnh vềđoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn
Trang 2BÌNH DƯƠNG, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Thị Huệ
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, được thu thập trong quá trình nghiên cứu và không trùng lặp với các đề tài khác
Học viên
Võ Quới Lĩnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Bùi Thị Huệ,chính cô là người đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần và giúp đỡ tôi hoànthành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủ Dầu Một, Lãnh đạo Khoa và các chuyênviên phòng Sau Đại học đã giúp đỡ, tổ chức tốt lớp học cho chúng tôi
Linh mục Gioan B Nguyễn Văn Riễn - Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo
và Linh mục Tadeo Lý Nguyễn Anh Thy - Chánh Văn phòng Tòa Giám MụcGiáo phận Phú Cường đã cung cấp cho tôi tài liệu hỗ trợ công tác nghiên cứu.Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tôi cũng nhận được sự động viên củagia đình, bạn bè và các thành viên của lớp Cao học Lịch sử CH16LS01 Đó làđộng lực để tôi tiếp tục phấn đấu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảmơn
Võ Quới Lĩnh
Trang 5UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bình Dương, ngày 21 tháng 12 năm 2018
NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Họ và tên: Bùi Thị Huệ
Học vị: Tiến sỹ
Chuyên ngành: Lịch sử
Nhiệm vụ: Người hướng dẫn khoa học
Theo Quyết định số 534/QĐ-ĐHTDM, ngày 08 tháng 05 năm 2018 do HiệuTrưởng PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp ký ban hành
Đề tài: “Công giáo tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm
2017” Học viên thực hiện: Võ Quới Lĩnh NỘI DUNG NHẬN
Hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu còn mỏng nên toàn văn luận văn tuy đãđược góp ý, khắc phục song vẫn tồn tại lỗi văn phong, kỹ thuật trình bày văn bảnkhoa học; Kỹ năng kết nối, khái quát hóa vấn đề cần được trau dồi thêm
Kết luận: Luận văn “Công giáo tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2017”
do học viên cao học Võ Quới Lĩnh thực hiện đáp ứng được những yêu cầu cơbản của bậc đào tạo Do vậy, tôi đồng ý cho học viên trình nộp và bảo vệ trướcHội đồng Khoa học Trường để nhận học vị Thạc sỹ
Người hướng dẫn khoa học
TS Bùi Thị Huệ
Trang 6LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Các công trình lý luận về tôn giáo 2
2.2 Các công trình nghiên cứu về đạo Công Giáo 6
3 Mục tiêu đề tài 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của đề tài 11
7 Bố cục của đề tài 12
CHƯƠNG 1:TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 – 2017) 13
1.1 Bối cảnh thế giới 13
1.2 Bối cảnh trong nước 15
1.3 Bối cảnh kinh tế - xã hội Bình Dương (1997 – 2017) 16
1.3.1 Về kinh tế 16
1.3.2 Những chuyển biến về xã hội 19
1.4 Tôn giáo và công tác tôn giáo của Tỉnh giai đoạn 1997 – 2017 21
1.4.1 Tình hình các tôn giáo trên địa bàn Tỉnh 21
1.4.2 Công tác tôn giáo ở Bình Dương 1997 – 2017 24
1.5 Công giáo tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2017 28
1.5.1 Vài nét về Công giáo giai đoạn trước 1997 28
1.5.2 Tình hình Công giáo tỉnh Bình Dương 1997 – 2017 30
Tiểu kết chương 1 33
Trang 7CHƯƠNG 2 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI CÔNG
GIÁO TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 - 2017) 34
2.1 Mối quan hệ trong cơ cấu tổ chức Giáo hội Toàn cầu và Giáo hội tại Việt Nam 34
2.2 Hệ thống tổ chức Giáo hội Công giáo tại tỉnh Bình Dương 38
2.2.1 Giáo phận Phú Cường 38
2.2.2 Giáo hạt 44
2.2.3 Giáo xứ 45
2.2.4 Các cộng đoàn Công giáo 60
2.3 Hoạt động của Giáo hội Công giáo tại Bình Dương (1997 – 2017) 63
2.3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức 63
2.3.2 Phát triển đội ngũ chức sắc và đào tạo 66
2.3.3 Xây dựng trường đào tạo và các cơ sở thờ tự 69
2.3.4 Các vấn đề khác 70
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI KINH TẾ -XÃ HỘI TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 – 2017) 74
3.1 Góp phần ổn định đời sống kinh tế của bộ phận người dân địa phương 74 3.2 Góp phần đảm bảo trật tự an ninh của địa phương 79
3.3 Thúc đẩy sự giao lưu, tiếp biến văn hóa 84
3.4 Góp phần vào phát triển giáo dục, an sinh xã hội 90
3.5 Đánh giá hoạt động của Giáo hội Công giáo tại tỉnh Bình Dương (1997 – 2017) 96
3.5.1 Về ưu điểm 96
3.5.2 Những hạn chế 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH M C CÁC CHỮ VIẾT TẮTCHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
ICOR Incremental Capital Output Raito (hệ số sử dụng vốn)
GRDP Gross Regional Domestic Product (tổng sản phẩm trên địa
bàn)TFP Total Factor Productivity (năng suất tổng hợp)
IPM Intergrated Pest Management (quản lý dịch hại tổng hợp)
Trang 9DANH M C CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 - Cơ cấu tổ chức Giáo hội Công giáo Roma 34
Sơ đồ 2.2 - Tổ chức Giáo hội Công giáo Việt Nam 36
Sơ đồ 2.3 - Cơ cấu Hội đồng Giám mục Việt Nam 37
Sơ đồ 2.4 - Tổ chức và điều hành Giáo phận Phú Cường 39
Sơ đồ 2.5 - Tổ chức của Giáo xứ 47
Sơ đồ 2.6 - Chương trình ơn gọi Linh mục Giáo phận 67
Trang 10DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về lý luận, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người, tôn giáo
và xã hội luôn tồn tại song song không thể tách rời nhau Tôn giáo nắm giữ mộtvai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, ảnh hưởng lớn đến chính trị - xã hộicần được nghiên cứu nhiều hơn nữa; Trên bình diện lý thuyết vấn đề hệ thống tổchức, giáo lý, giáo luật và hoạt động của các tôn giáo lớn gồm cả Công giáo đãđược giới nghiên cứu chuyên ngành tôn giáo đúc kết công bố Tuy nhiên, phạm
vi hoạt động của Công giáo mang tầm quốc tế cho nên ở góc độ từng địa phươngriêng lẻ những vấn đề như trên vẫn rất cần được quan tâm nghiên cứu có hệthống
Tại Bình Dương, Công giáo được du nhập và có lịch sử hoạt động lâu đời.Tiến trình du nhập phát triển của Công giáo tại địa phương là một trong nhữngnội dung đã được chính quyền địa phương quan tâm Thế nhưng, để nghiên cứuCông giáo như một nội dung khoa học là việc cần nhiều sự phối hợp của đội ngũcác nhà khoa học
1.2 Trong thực tiễn đời sống xã hội, ở Việt Nam nói chung và tỉnh BìnhDương nói riêng thì những tác động cả mặt tích cực lẫn hạn chế của tôn giáo,Công giáo là điều không tránh khỏi ngoại lệ, đặc biệt đối với các lĩnh vực kinh
tế, xã hội và cả văn hóa Tôn giáo được xem là nhu cầu chính đáng của công dân,đây cũng là quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề tôn giáo vàđược thể hiện rõ trong Hiến pháp, pháp luật Đảng và Nhà nước rất chú trọngviệc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo hoặc không theobất kỳ tôn giáo nào
Cùng với những tộc người cụ thể, những yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa đặcthù được duy trì, cộng hưởng lan tỏa kèm theo khi sự chuyển dịch địa bàn cư trúdiễn ra - Bình Dương hiện tại là vùng đất năng động với tốc độ phát triển kinh tế
- xã hội ở mức cao so với nhiều địa phương khác trong nước Do vậy, BìnhDương trở thành nơi hội tụ những cộng đồng tộc người đa văn hóa, bao gồmđồng bào theo đạo Công giáo - Sự hiện diện của họ đã góp phần xây dựng Bình
Trang 11Dương trở thành một vùng đất năng động, phồn thịnh Tuy nhiên, bên cạnhnhững đóng góp tích cực của cộng đồng giáo dân sinh sống trên địa bàn Tỉnh cho
sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa địa phương thì không ít những vấn đề bất
ổn phát sinh trong lòng cộng đồng do chịu sự tác động, lợi dụng tôn giáo củanhững thế lực thù địch Vì vậy, vấn đề gìn giữ an ninh, chính trị địa phương đặtcác cơ quan quản lý chức năng của Tỉnh vào trạng thái hoạt động không ngừng
nỗ lực Biện pháp tác nghiệp trong lĩnh vực quản lý an ninh xã hội liên quan đếntôn giáo vốn phức tạp, đòi hỏi các cán bộ phụ trách công tác dân vận, tuyên giáo,tôn giáo phải được chia sẻ trách nhiệm rất cao từ phía người dân Tác giả luậnvăn cũng mong muốn được đóng góp một phần công sức dù nhỏ của mình vì sựbình yên của xã hội, ngõ hầu giúp các cơ quan chức năng có thêm cơ sở khoa học
để tham khảo trong việc hoạch định chính sách, biện pháp quản lý, khắc phụcnhững khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý Với những lý do xuất phát từ
lý luận thực tiễn nêu trên, tác giả luận văn chọn và thực hiện đề tài “Công giáo
tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2017”.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ yêu cầu khoa học và thực tiễn công tác nghiên cứu, hoạch định chính sáchtôn giáo, đề xuất những giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến tôngiáo mà từ nhiều thập kỷ qua các công trình khoa học được công bố Hầu hết đó
là kết quả nghiên cứu chủ yếu từ Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Học viện Chính trịquốc gia và một số ấn phẩm, bài viết trên các tạp chí khoa học là kết quả nghiêncứu từ các trường đại học Nội dung nghiên cứu thuộc lĩnh vực tôn giáo khá đadạng Dưới đây là tóm lược thành tựu, hạn chế của những công trình, ấn phẩm
có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn Các nội dung được kháiquát như sau:
2.1 Các công trình lý luận về tôn giáo
Về mảng nội dung lý luận, trước hết xin kể là công trình nghiên cứu của
nhóm tác giả Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Đức Lữ với nhan đề “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo”, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2003 Công
trình này đã đã nghiên cứu về các vấn về cơ bản của tôn giáo trong tư tưởng Hồ
Trang 12Chí Minh: Hồ Chí Minh quan niệm về tôn giáo và những vấn đề của công tác tôngiáo; vấn đề khai thác các giá trị văn hóa và đạo đức từ tôn giáo; nhấn mạnh vềđoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, sự tồn tại của tôn giáo với xây dựng tổ quốc.Bên cạnh đó còn đề cập đến nền tảng pháp luật và quản lý của nhà nước ta về tôngiáo.
Sách “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, nhà
xuất bản Lý luận Chính trị, năm 2008 của tác giả Đỗ Quang Hưng là công trìnhnghiên cứu tổng hợp và toàn diện về chủ trương, quan điểm, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử cách mạngViệt Nam Những vấn đề được tác giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc là: Tôn giáo
ở Việt Nam trong bối cảnh quốc tế; Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về tôn giáo; Quá trình nhận thức đường lối về tôn giáo của Đảng Cộng sảnViệt Nam và hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Sách “Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, nhà xuất bản Khoa học Xã
hội, năm 2001, của tác giả Đỗ Quang Hưng làm chủ biên đã nêu quan điểm củaMác, Ăng - ghen, Lênin về tôn giáo, mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc với tôngiáo, xu thế chung của Phật giáo nước ta Về vấn đề tôn giáo ở Nam Bộ, tác giả
so sánh Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, xu hướng và niềm tin tôn giáo của ngườidân sống ở thành phố Hồ Chí Minh
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Khiển với sách “Quản lý Nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, nhà xuất bản Công an Nhân dân, năm 2001 đã đề
cập đến quan điểm của Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về tôn giáo, hiện trạng tôngiáo ở nước ta hiện nay, quan điểm của Đảng về công tác tôn giáo, nhữngnguyên tắc trong hoạt động tôn giáo, đề xuất giải pháp thực hiện
Sách “Tôn giáo và xã hội hiện đại – Biến chuyển lòng tin ở phương Tây”, nhà
xuất bản Thuận Hóa, năm 2006 của tác giả Cao Huy Thuần nghiên cứu về tôngiáo trong xã hội hiện đại Công trình nghiên cứu về thuật ngữ và các khái niệm
cơ bản của tôn giáo trong xã hội hiện đại, đưa ra những ví dụ cụ thể về nơi ra đờicủa các thuật ngữ Tác giả còn sử dụng quan điểm của Max Weber để làm rõ các
Trang 13khái niệm về tôn giáo trong xã hội hiện đại, sự chuyển biến đức tin trong đờisống Âu - Mỹ là nội dung khá thú vị Nội dung cuối cùng là vấn đề hậu hiện đạicủa tôn giáo trong xã hội diễn ra ở các nước Âu - Mỹ.
Sách “Tri thức tôn giáo qua các vấn nạn và giải đáp”, nhà xuất bản Tôn giáo,
năm 2005, tác giả Jonh Renard do Lưu Văn Hy dịch trình bày về sức mạnh lantỏa của tôn giáo, các truyền thống tôn giáo bắt nguồn ở Trung Đông, các truyềnthống tôn giáo bắt nguồn ở Nam Á, các truyền thống tôn giáo bắt nguồn ở ĐôngÁ
Sách “Triết học tôn giáo”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2004 của
Mel Thomson do Đỗ Minh hợp dịch Sách nói về những nội dung được quan tâmhiện nay là tôn giáo và khoa học, tôn giáo và đạo đức Tác giả còn làm rõ nhữngvấn đề khác trong đạo Chúa, các quan điểm và các chứng minh về Chúa, ý Chúa
và phép màu, đau khổ và cái ác
Công trình “Nhà nước và Giáo hội”, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2003 của tác
giả Đỗ Quang Hưng đã nghiên cứu về lý luận chung của tôn giáo ở Việt Namthông qua những nghiên cứu về một số tôn giáo lớn như Công giáo, Phật giáo,Tin Lành Ở công trình này, tác giả đã giúp người đọc mở rộng sự hiểu biết, cáchtiếp cận tôn giáo khoa học hơn qua việc đối sánh các tôn giáo giữa một số quốcgia trong khu vực và trên thế giới
Các công trình nghiên cứu quan trọng về lý luận tôn giáo của GS Đặng
Nghiêm Vạn “Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, đặc điểm tín ngưỡng và
hệ thống tôn giáo dân tộc Việt Nam”, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 1996
và công trình “Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam”, nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, năm 1998 Các công trình đã nói đến phương pháp nghiêncứu tác phẩm của Mác, Ăng - ghen, Lênin và Hồ Chí Minh, góp phần làm rõ cácđịnh nghĩa về tôn giáo, lý giải sự xuất hiện của tôn giáo dưới góc độ kinh tế
Sách “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, tái bản năm 2005 của tác giả Đặng Nghiêm Vạn, là côngtrình nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn của tôn giáo Tác giả đãdày công nghiên cứu về lý luận tôn giáo, trình bày khá đầy đủ về đặc điểm và vai
Trang 14trò của tôn giáo trong xã hội, đề cập đến những chính sách tôn giáo của Đảng vàNhà nước.
Công trình nghiên cứu “Về tôn giáo và Tôn giáo ở Việt Nam”, nhà xuất bản
Tôn giáo, năm 2004 của tác giả Nguyễn Thanh Xuân tổng hợp những vấn đề tôn
giáo của các nhà nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo từ năm
1999 đến năm 2003 Những vấn đề được tác giả quan tâm bao gồm: Nghiên cứucác vấn đề lý luận về tôn giáo và nghiên cứu về các tôn giáo ở Việt Nam
Nhà nghiên cứu tôn giáo Nguyễn Thanh Xuân với công trình “Một số tôn giáo
ở Việt Nam”, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2005 đã trình bày khái quát về lịch sử
hình thành, phát triển, giáo lý, nghi lễ, cơ cấu tổ chức của Phật giáo, Công giáo,Tin Lành, Hồi Giáo, Cao Đài Công trình cũng nghiên cứu về một số tổ chức tôngiáo quốc tế, dẫn chứng nguồn tài liệu nghiên cứu tin cậy về tôn giáo ở Việt Nam
và trên thế giới
Công trình “Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam”, nhà
xuất bản Tôn giáo, năm 2005 do tác giả Nguyễn Đức Lữ chủ biên là tổng hợp của
9 bài nghiên cứu đặc điểm và vai trò xã hội của tôn giáo ở nước ta của Cônggiáo, Phật giáo, Tin Lành, Nho giáo, Đạo giáo, Hồi giáo, Cao Đài
Tác giả Lê Diên biên dịch quyển “Xã hội học tôn giáo” của Sabino
Acquavina, đây là công trình nghiên cứu khá đặc biệt vì nghiên cứu tôn giáodưới góc độ xã hội học Sách trình bày những lý thuyết về tôn giáo với xã hội,thuyết chức năng tôn giáo của Durkheim, đạo đức và kinh tế của Max Weber, tácgiả cho rằng tôn giáo cũng là một nhân tố tác động làm biến đổi xã hội
Sách “Tìm hiểu tôn giáo”, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 1998, của Cục Dân
vận và tuyên truyền đặc biệt thuộc Tổng cục Chính trị, đề cập đến 6 tôn giáo lớntại Việt Nam, sách nói về những quan điểm, nhiệm vụ, chính sách của Đảng vàNhà nước đối với công tác tôn giáo
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội soạn thảo
năm 2004, quy định về việc hoạt động tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng
Sách “Mối quan hệ thời đại dân tộc tôn giáo”, nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
năm 2002 của tác giả Bùi Thị Kim Quỳ đã trình bày học thuyết của Mác,
Trang 15Thomas, Tellard de Chardin Qua công trình trên, tác giả đã đưa ra những nhậnđịnh về tình hình tôn giáo trong bối cảnh hiện đại, cơ hội và thách thức đối vớicác dân tộc trong quá trình phát triển, những vấn đề về tôn giáo ảnh hưởng đến
sự phát triển hiện nay
Sách “Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam”, nhà
xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2004 của tác giả Nguyễn Hồng Dương đề cậpđến Phật Giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Tin Lành, Công giáo, các tôn giáo nội sinh,vai trò của lễ nghi tôn giáo, tác động của đạo Bà La Môn, Phật giáo và Hồi giáođối với văn hóa người Chăm ở Việt Nam
Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã
có những công trình lớn: “Vấn đề về Dân tộc và Tôn giáo ở Sóc Trăng”, năm
2002, “Nam Bộ, Dân tộc và Tôn giáo”, năm 2005, “Tôn giáo – tín ngưỡng của
các cư dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, năm 2005 Các công trình này
nghiên cứu đa dạng các vấn đề: Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng; Văn hóadân gian của người Khmer Nam Bộ; những vấn đề dân tộc, tín ngưỡng củangười Phù Nam, của các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm làm rõ nhiều sự khácbiệt giữa các tôn giáo nội vùng và liên vùng
Những công trình nghiên cứu trên đã đóng góp quan trọng về lý luận tôn giáo,cho người đọc một cái nhìn tổng thể về các tôn giáo ở Việt Nam Các tác giảcũng đã nêu được hiện trạng, đặc điểm và đưa ra những định hướng trong tươnglai Các công trình chỉ dừng lại ở mức lý luận chung hoặc đưa ra những đặc điểm
cơ bản nhất của các tôn giáo Tuy nhiên, đó cũng là nguồn tài liệu tham khảo tincậy và cần thiết để nghiên cứu thêm những vấn đề khác trong tôn giáo
2.2 Các công trình nghiên cứu về đạo Công Giáo
Tại địa phương Bình Dương đã có công trình luận văn tốt nghiệp đại học
“Bước đầu tìm hiểu về Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1889 đến năm
1945” của tác giả Phạm Thị Vân Anh được công bố vào năm 2014 Nội dung
chính của công trình nghiên cứu sự du nhập của Công giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một
từ năm 1889 đến 1945 Tác giả nhận định rằng sự du nhập đạo Công giáo vàoThủ Dầu Một – Bình Dương khá sớm, công trình còn đề cập đến sự ra đời
Trang 16của các Giáo xứ hoặc họ đạo, những đóng góp về lịch sử phát triển kinh tế - xãhội vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương.
Luận văn cao học “Sự du nhập và phát triển Thiên Chúa giáo tại Bình
Dương” của tác giả Lê Văn Long, năm 2008 Trong công trình của mình tác giả
đã viết về sự du nhập đạo Công giáo vào Bình Dương và những tác động đến đờisống xã hội, tập trung chủ yếu nói về mối quan hệ giữa Công giáo với các tôngiáo khác, nêu lên tính chất xã hội của Công giáo; Tác giả cũng cho rằng Cônggiáo ở Bình Dương có những tác động đến kinh tế trên nhiều phương diện khácnhau nhưng chưa đi sâu vào phân tích cụ thể từng lĩnh vực kèm theo đề xuất một
số giải pháp đối với công tác tôn giáo với chính quyền sở tại Nhìn chung, tác giảnghiên cứu Công giáo Bình Dương trong giai đoạn khá dài nên chủ yếu khái quáhóa, chưa thể hiện được đặc điểm nổi bật của từng giai đoạn, chưa làm rõ nhữngtác động mà Công giáo mang lại
Bộ sách “Địa chí Bình Dương” gồm 4 tập xuất bản năm 2010 tập hợp nhiều
vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội,… đã đề cập đến vấn đề tôn giáo - Công trình
đã có những đóng góp quan trọng làm rõ vấn đề du nhập và phát triển của đạoCông giáo ở Bình Dương
Tập hợp một số công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng bài viết về Công
giáo ở Nam bộ như “Cư dân Thiên Chúa giáo tại thành phố Hồ Chí Minh và đô
thị hóa” của Nguyễn Văn Nghị, bài viết “Do đâu mà có việc cấm đạo Thiên Chúa giáo trong thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX?” của tác giả Huỳnh Lứa,
bài viết “Người Việt Nam Thiên Chúa giáo ở miền Nam nước ta từ thế kỷ XVII
đến thế kỷ XIX” của tác giả Mạc Đường, bài viết “Tín đồ Thiên Chúa giáo ở thành phố trong bước chuyển biến đi lên chủ nghĩa xã hội” của tác giả Bùi Thị
Kim Quỳ,…Những bài viết nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ các vấn đề có liênquan đến đạo Công giáo ở Nam Bộ nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng
Sách “Thiên Chúa giáo ở thành phố Hồ Chí Minh”, nhà xuất bản Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh, 2007 Đề cập đến những vấn đề sự kiện – nhân vật nổibật trong lịch sử phát triển của giáo đoàn Thiên Chúa giáo ở thành phố Hồ ChíMinh từ thế kỷ XVII đến năm 2007
Trang 17Sách “Cấu hình xã hội: Cộng đồng Công giáo Bắc di cư tại Nam Bộ: Từ kích
thước cộng đồng đến kích thước cá nhân” của tác giả Nguyễn Đức Lộc Nội dung
chủ yếu của công trình nghiên cứu vấn đề cộng đồng và cá nhân – Quan điểm lýthuyết, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; tổng quan về cộng đồngCông giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ: Hố Nai và Cái Sắn; bộ máy quản lý nhànước và cấu trúc quyền lực trong vùng dân di cư; xu hướng lựa chọn nghềnghiệp của giáo dân Công giáo; những chiến lược sống của người Công giáo di
cư trong bối cảnh xã hội đương đại
Sách “Hôn nhân và nếp sống đạo trong gia đình người Việt Công giáo: Tiếp
cận nhân học qua nghiên cứu Giáo họ Nỗ Lực, tỉnh Phú Thọ”, nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin, năm 2012 của tác giả Lê Đức Hạnh Nội dung cơ bản đề cập đếnvấn đề hôn nhân của người Việt Công giáo ở họ đạo Nỗ Lực thuộc tỉnh Phú Thọ;Nếp sống sinh hoạt trong gia đình của người Công giáo; Một số vấn đề đặt ratrong đời sống hôn nhân của những người Công giáo: Sinh hoạt đời sống, giữđạo và giáo dục con cái
Công trình nghiên cứu khoa học “Đồng bào Công giáo với chính sách dân số
-kế hoạch hóa gia đình”, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 1998 của
tác giả Trần Cao Sơn Nội dung chính yếu của công trình là tập hợp các kết quảđiều tra xã hội học để nghiên cứu về việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạchhóa gia đình của người Công giáo ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, công trìnhchứng minh đồng bào Công giáo là những tấm gương điển hình trong công tác
kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu khoa học về Công giáo của tác giả Trương Bá Cần
gồm: Thứ nhất là sách “Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam” (tập 1 và 2) đề
cập đến sự phát triển Công giáo ở Việt Nam, trình bày nội dung về công cuộc
truyền giáo và việc phát triển Công giáo ở Đàng Trong; thứ hai là sách “Công
giáo Đàng Trong: Thời giám mục Pigneau 1771 – 1799”, nhà xuất bản thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1992 có nội dung chủ yếu nghiên cứu sâu về sự phát triển đạoCông giáo dưới thời Giám mục Pigneau
Trang 18Công trình “Nếp sống đạo của người Công giáo Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Hồng Dương, đề cập đến những vấn đề đời sống của người Công giáo ởViệt Nam, tác giả nhận định rằng nếp sống của người Công giáo đã góp phần
phát triển văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, công trình “Linh mục Phạm Bá
Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)” còn đề cập những đóng góp của đạo
Công giáo đối với cách mạng Việt Nam
Sách “Công giáo Việt Nam: Thời kỳ triều Nguyễn (1802 – 1883)”, nhà xuất
bản Tôn giáo, năm 2009 của tác giả Nguyễn Quang Hưng đã đề cập đến quátrình du nhập và phát triển của Công giáo ở Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802– 1883) Trên nguồn tư liệu châu bản triều Nguyễn, tác giả đã mô tả lại quá trìnhtruyền bá Công giáo ở Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII Tác giả cho rằng lễ nghiCông giáo là một trong những lý do cơ bản của chính sách cấm đạo dưới triềuNguyễn Tác giả còn nêu lên chính sách tôn giáo dưới các triều đại Gia Long,Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức
Ngoài ra, còn những kỷ yếu quan trọng về vấn đề Công giáo ở Bình Dương:
“Kỷ yếu Giáo xứ Lái Thiêu” đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của
họ đạo Lái Thiêu: thời kỳ khai mở Giáo xứ, quá trình di cư của những cư dânđầu tiên đến sinh sống Tác giả nhận định đây là nơi cư trú an toàn của nhữngngười Công giáo di cư đến vào thế kỷ XVIII Phần nội dung quan trọng đượctrình bày bao gồm quá trình hình thành, phát triển của họ đạo, các đời Linh mụcquản túc, những lần xây dựng lại nhà thờ Kỷ yếu còn trình bày vai trò của họđạo Lái Thiêu trong việc truyền giáo cho những cư dân ở vùng lân cận
“Kỷ yếu 40 năm giáo phận Phú Cường 1965 – 2005”, nhà xuất bản Tôn giáo,
năm 2005 là công trình quan trọng nghiên cứu về Công giáo và Giáo phận PhúCường trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 2005 Phần đầu sơ lược lịch sửGiáo hội toàn cầu, giới thiệu một cách tổng quát về lịch sử phát triển Giáo hộitrên thế giới Phần thứ hai nói về Giáo hội ở Việt Nam, lịch sử phát triển củaCông giáo ở Việt Nam - nhấn mạnh về cơ cấu tổ chức Phần thứ ba trình bày vềquá trình phát triển của Giáo phận Phú Cường trong giai đoạn từ năm 1965 đến
Trang 19năm 2005 Kỷ yếu còn khái quát về tổ chức Giáo hội từ trung ương đến các cấp
cơ sở, nêu một cách có hệ thống về các cộng đoàn Công giáo đang hoạt độngtrong Giáo phận Phú Cường
Đề tài nghiên cứu khoa học “Tôn giáo ở Bình Dương – Thực trạng và giải
pháp” (Ban tôn giáo – Ban dân tộc tỉnh Bình Dương) - Vấn đề nghiên cứu của
tác giả bao gồm: Đặc điểm cộng đồng dân cư tôn giáo ở Bình Dương, những vấn
đề nhân khẩu học và vấn đề tôn giáo, hôn nhân giữa những người không cùngtôn giáo, tôn giáo giữa các thế hệ, thành viên trong gia đình, mức sống của các hộtôn giáo; Hiện trạng các tôn giáo ở Bình Dương, quá trình du nhập và truyền bácác tôn giáo, hoạt động của các tôn giáo; Một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứutôn giáo ở Bình Dương; Kiến nghị và giải pháp
Các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của các tôn giáo nóichung và Công giáo nói riêng tại Bình Dương, chủ yếu tập trung làm rõ quá trình
du nhập và hiện trạng của tôn giáo Tuy nhiên, việc đi sâu vào nghiên cứu vềCông giáo còn nhiều hạn chế do nguồn tư liệu rất ít mà những vấn đề chưa đượcnghiên cứu lại rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay, đó là những tác động củaCông giáo đến kinh tế - xã hội Dẫu vậy, những tác phẩm trên sẽ là nguồn tài liệutham khảo đáng tin cậy, là cơ sở cho nghiên cứu vấn đề khác đặc biệt là nội dung
“Công giáo tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2007” mà tác giả thực hiện
Trang 204 Đối tư ng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tư ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào các vấn đề cơ cấu tổ chức củaGiáo phận Phú Cường, hoạt động của Giáo hội Công giáo Bình Dương, tác động
từ hoạt động của Giáo hội Công giáo Bình Dương đến đời sống kinh tế - xã hộicủa cộng đồng địa phương (1997 – 2017)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: tỉnh Bình Dương hiện nay
Phạm vi thời gian: từ năm 1997 đến năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận tác giả luận văn dựa vào lập trường lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo để nghiên cứu đề tài.Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và logic để giảiquyết nội dung cơ cấu tổ chức, hoạt động của Giáo hội Công giáo Bình Dương(1997 – 2017) Ngoài ra, để làm rõ hơn các vấn đề tác động từ hoạt động củaGiáo hội Công giáo đến đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng dân cư địa phươnghoặc những nội dung liên quan đến tôn giáo thì các phương pháp liên ngành dântộc học (điền dã diện, điền dã điểm) được vận dụng nhằm so sánh, phân tích sâuhơn để có thể khái quát hóa, đúc rút thành nhận định riêng hoặc đạt được nhữngminh chứng xác đáng, thuyết phục cho đề tài
Trang 217 Bố cục củ đề t i
Ngoài lời cam đoan, mục lục, bảng chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, mởđầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các công trình nghiên cứu có liênquan, luận văn gồm ba chương và phần kết luận
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO BÌNH DƯƠNG (1997 - 2017) Toàn chương 1 tác giả khái quát về bối cảnh thế giới và trong nước trong thờiđại chuyển biến mạnh của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tác động đến tìnhhình Công giáo thế giới và cả Việt Nam Đó là những yếu tố khách quan, chủquan ảnh hưởng đến tình hình các tôn giáo trên địa bàn Tỉnh
CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘICÔNG GIÁO TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 - 2017)
Nội dung chương 2 trình bày về cơ cấu tổ chức Giáo hội từ trung ương đếncấp cơ sở, trình bày chức năng của các cơ quan trong tổ chức Công giáo Làm rõhoạt động của tổ chức Giáo hội Công giáo tỉnh Bình Dương thông qua việcnghiên cứu hoạt động của tổ chức về xây dựng cơ cấu, phát triển đội ngũ chứcsắc, đào tạo giáo sĩ, xây dựng trường đào tạo và cơ sở thờ tự
CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI KINH
TẾ - XÃ HỘI TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 – 2017)
Trình bày đóng góp và ảnh hưởng của Công giáo đến kinh tế, chính trị, anninh - xã hội, văn hóa truyền thống và nghệ thuật Công giáo với các vấn đề xãhội như: giáo dục, y tế, từ thiện, dân số kế hoạch hóa gia đình
KẾT LUẬN
Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả rút ra nhận định về những ưu điểm, hạn chế, từ
đó đưa ra biện pháp khắc phục, nhất là về công tác quản lý tôn giáo của Nhànước trong giai đoạn hiện nay
Trang 22CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO TẠI BÌNH DƯƠNG (1997 – 2017)
Bối cảnh thế giới và trong nước trong thời đại chuyển biến mạnh của cuộccách mạng công nghệ 4.0 đã tác động đến tình hình Công giáo thế giới và cả ViệtNam Đó là những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến tình hình các tôngiáo trên địa bàn Tỉnh
Các thuật ngữ liên quan đến đạo Công giáo trước khi đi sâu vào giải quyết nộidung chương 1, 2, 3 xin được thống nhất như sau: Trong luận văn này, tác giả
đề cập khái niệm “Công giáo” (hay còn gọi là Giáo hội Công giáo Roma là mộtthuật ngữ được sử dụng để nói về tổ chức Giáo hội thuộc Kito giáo) Mặt khác,
Tổ chức Giáo hội Công giáo tại Bình Dương có cơ cấu tổ chức là Giáo phận PhúCường
ở Châu Phi, ở châu Á số dân Công giáo tăng 20% trong khi mức tăng dân số chỉ9,6% (nghĩa là số tín đồ Công giáo tăng gấp đôi so với mức tăng dân số), ở Bắc
Mỹ và Nam Mỹ là 11.7%, ở châu Âu là 2% và ở châu Đại Dương là 15.9% Sở
dĩ số dân Công giáo tăng nhanh như vậy là do nhiều yếu tố tác động, trong đóyếu tố thúc đẩy lớn nhất là xu thế toàn cầu hóa
Những yếu tố làm cho Công giáo phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các nước đang phát triển và chậm phát triển thể hiện với những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, là sự tăng lên mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, trong khi đem
lại cho các quốc gia, dân tộc cơ hội để hội nhập thì cũng đặt ra nhiều thách thức
Trang 23khó khăn Toàn cầu hóa còn làm tăng lên áp lực của nguy cơ đồng hóa cưỡngbức về mặt văn hóa Điều này đã làm cho các quốc gia yếu thế hơn phải tìm mọicách bảo vệ văn hóa truyền thống của họ, trong đó lễ nghi tôn giáo là một thành
tố quan trọng
Thứ hai, xã hội hiện đại nhưng con người vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề
đáng lo ngại: Nguy cơ xảy ra chiến tranh với vũ khí công nghệ cao; nạn ô nhiễmmôi trường; những căn bệnh nan y; sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội; thúcđẩy con người tìm đến một sự che chở tâm linh
Thứ ba, sự tác động của chính trị thế giới đến đông đảo người dân về lý
tưởng và tương lai cuộc sống Nhân loại luôn hướng đến cuộc sống hòa bình Vìthế nhiều người đã tìm đến tôn giáo Họ xem tôn giáo là lối thoát tinh thần cho
sự bế tắc trong cuộc sống
Thứ tư, các thế lực phản động quốc tế tìm cách lợi dụng tôn giáo làm công cụ
gây chiến hoặc để tự vệ Các thế lực cực đoan, khủng bố sử dụng tôn giáo nhưmột vũ khí lợi hại chống lại con người và sự tiến bộ của xã hội loài người
Công giáo trên thế giới hiện nay không chỉ tăng nhanh số lượng tín đồ, mởrộng địa bàn hoạt động, phạm vi ảnh hưởng mà còn theo xu thế cộng tác Hộinghị thế giới của các Giáo hội và các tôn giáo lớn được tổ chức tại Vatican từngày 25 đến ngày 28 tháng 10 năm 1999, với sự có mặt của 230 đại biểu các tôngiáo lớn như: Công giáo, Chính thống giáo, Tin Lành, Phật giáo, Ấn Độ giáo, DoThái giáo, đạo Sikh và một số tôn giáo địa phương Hội nghị tuyên bố: “sự cộngtác giữa các tôn giáo khác nhau phải được dựa trên việc khước từ tuyệt đối chủnghĩa quá khích, cực đoan và thù địch chống cự nhau”[68,1] Nhìn chung, các tôngiáo hoạt động khá ôn hòa, theo chiều hướng tích cực và tránh gây ảnh hưởngđến nhau
Trong những năm gần đây, Giáo hội Công giáo đang đẩy mạnh công cuộctruyền giáo vào các nước đang phát triển và chậm phát triển Sự mở rộng nàykhông diễn ra cách suôn sẻ mà thực sự là cuộc đấu tranh phức tạp và không kémgay gắt Là quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo ở Việt Nam cũng chịu những tácđộng của thời đại Xu hướng thế tục hóa làm cho các tín đồ sinh hoạt ngày càng
Trang 24tăng, tham gia ngày càng nhiều các hoạt động xã hội về chính trị, y tế, giáo dục,xóa đói giảm nghèo,
1.2 Bối cảnh trong nước
ỞViệt Nam, nhờ thành tựu của công cuộc đổi mới mà sinh hoạt tôn giáo cóthêm điều kiện thuận lợi Chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và khôngtín ngưỡng của nhân dân được Đảng và Nhà nước Việt Nam nghiêm chỉnh thựchiện làm cho đồng bào có đạo phấn khởi, yên tâm giữ đạo, hăng hái hơn trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Vatican là mối quan hệ kép: giữa hai quốc gia– nhà nước (giữa một quốc gia và một chủ thể tôn giáo xuyên quốc gia), mà cơbản nổi trội là giữa thể chế chính trị của Việt Nam và hệ thống thể chế của Giáohội Công giáo Việt Nam và Vatican chia sẻ lợi ích dài hạn trong việc thiết lậpquan hệ ngoại giao chính thức
Có thể khẳng định rằng Việt Nam nhận được những lợi ích rất lớn từ việc thiết lập ngoại giao với Vatican:
Thứ nhất, bản chất là một quốc gia tôn giáo, Vatican vừa là tổ chức Giáo hội
thế giới cũng vừa là một nhà nước độc lập Quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Tòathánh Vatican sẽ giúp Việt Nam có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc tham giagiải quyết các vấn đề tôn giáo của thế giới đặc biệt là Công giáo Việt Nam mộtcách hiệu quả
Thứ hai, quan hệ ngoại giao với Vatican sẽ giúp tăng thêm uy tín của Việt
Nam trên trường quốc tế Nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Âu – Mỹluôn tôn trọng và đánh giá cao Tòa thánh Vatican Vì thế đã có hơn 200 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới đã đặt quan hệ ngoại giao với Vatican Ngoại giaogiữa Việt Nam và Vatican cũng là sự thể hiện mức độ mở cửa, mức độ tự do vàquyền con người của Việt Nam đến các nước khác trên thế giới
Thứ ba, quan hệ ngoại giao với Vatican sẽ góp phần phát huy sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc, xây dựng và củng cố tinh thần đoàn kết toàn dân giữa ngườitheo tôn giáo và người không theo tôn giáo, tranh thủ sự đóng góp xây dựng củangười Công giáo đối với đất nước
Trang 25Thứ tư, việc thiết lập mối quan hệ giữa Việt Nam và Vatican phần nào mang
lại lợi ích cụ thể cho tín đồ công giáo người Việt Nam từ Giáo hội Vatican vềcác vấn đề y tế, giáo dục
Như vậy trong thời gian qua, bằng việc xác lập mối quan hệ ngoại giao vớiVatican mà Công giáo đã có những tác động rất tích cực đối với Việt Nam
Bối cảnh trên đã tác động không nhỏ đối với tình hình Công giáo trên thế giớinói chung và tại Việt Nam nói riêng Quá trình này đã làm tăng nhanh chóng sốlượng tín đồ Công giáo Việc gia tăng mối quan hệ với tổ chức Công giáo mà đạidiện là Vatican có một ý nghĩa chiến lược, bởi lẽ Việt Nam cũng là quốc gia có
số lượng tín đồ Công giáo khá đông Như vậy Việt Nam cũng chịu sự tác khôngnhỏ từ các vấn đề tôn giáo trên thế giới Cụ thể ở đây là Công giáo
1.3 Bối cảnh kinh tế - xã hội Bình Dương (1997 – 2017)
1.3.1 Về kinh tế
Bình Dương được đánh giá là một trong những địa phương có tốc độ pháttriển mạnh nhất vùng Đông Nam Bộ Kinh tế trong những năm qua luôn tăngtrưởng nhanh Đóng góp kinh tế của Bình Dương được Chính phủ khẳng định làmột trong những địa phương có nền kinh tế dẫn đầu cả nước, mức độ phát triểnkinh tế luôn ở mức cao
Bình Dương đã sớm trở thành một trung tâm kinh tế của vùng, được xemnhư tứ giác hạt nhân phát triển của vùng Đông Nam Bộ Bình Dương tập trungphát triển công nghiệp, chú trọng phát triển theo hướng tăng lượng sản phẩmcông nghiệp có hàm lượng công nghệ và giá trị cao, sử dụng ít lao động, giảmthiểu ảnh hưởng đến môi trường Mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp lớn,
có trình độ sản xuất ở tầm quốc gia và khu vực, sản phẩm có khả năng cạnh tranhcao trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế
Là một trong số ít địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tếnhanh và ổn định Cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch đúng định hướng, tăng dần
tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, giảm tỷ trọng nông nghiệp Chấtlượng tăng trưởng của Bình Dương ngày càng cải thiện thể hiện qua năng suấtlao động tăng cao, hệ số ICOR “được giữ vững ở mức cao (lớn hơn 5)”[18,54]
Trang 26trong bối cảnh ICOR cả nước tăng mạnh Thu nhập bình quân đầu người caohơn bình quân của cả nước Những lợi ích từ hội nhập quốc tế được khai tháchiệu quả.
Bình Dương nâng cao chỉ số GRDP cho vùng Đông Nam Bộ, “năm 2017tổng sản phẩm trong tỉnh Bình Dương GRDP tăng 9,15% so với năm2016”[67,1] Chỉ số GRDP của tỉnh Bình Dương luôn ở mức cao là dấu hiệu tốtcho nền kinh tế Đông Nam Bộ và cả nước, chứng tỏ tiềm năng phát triển ổn định
và lâu dài của tỉnh
Năm 1997, “cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệpvới tỉ lệ tương ứng 50,45% - 26,8% - 22,8%”[70,1] so sánh với năm 2017 tươngứng là 63,99% - 23,68% - 3,4% và 8,59% thuế nhập khẩu
Bình Dương ứng dụng thành tựu công nghệ mới nhất để phát triển kinh tế địaphương, nhất là các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thông tin, y tế, tàinguyên môi trường, Đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng kinh tếđược đánh giá thông qua chỉ số yếu tố năng suất tổng hợp – TFP ngày càng cao
“Trong những năm 2010 - 2011 đóng góp của chỉ số này vào tăng trưởng kinh tếdưới 20%, đến năm 2015 - 2016 đã tăng lên 30%”[73,1] Chỉ số TFP tăng thể hiện
sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ của Bình Dương
Công nghiệp: Bình Dương có hạ tầng khu công nghiệp được đầu tư bài
bản để phục vụ thu hút đầu tư Điều đó đã tạo nên sự thành công cho Bình
Dương, đưa công nghiệp Bình Dương phát triển nhanh và ổn định Đây là bàihọc kinh nghiệm quý báo của tỉnh trong thực hiện chủ trương và định hướngphát triển công nghiệp Bình Dương đã trở thành điểm sáng trong tốp đầu thu hútđầu tư, vốn FDI vào tỉnh ngày càng tăng, trở thành địa phương hấp dẫn các nhàđầu tư nước ngoài Tính hiệu quả này có sức lan tỏa thiết thực trong bài học pháttriển công nghiệp
Trong thời gian qua, tình hình sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển mạnh,các doanh nghiệp duy trì tốt các hoạt động kinh doanh, giữ vững tốc độ tăngtrưởng, tích cực thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng
và hạ giá thành sản phẩm, phát triển thị trường “Kết quả, chỉ số phát triển công
Trang 27nghiệp tăng 10,98% năm 2017”[61,1] có 23/25 sản phẩm công nghiệp chủ yếutăng so với cùng kỳ và có 11 nhóm tăng trên 10% Về hoạt động khu côngnghiệp, cụm công nghiệp: Toàn Tỉnh hiện có 29 khu công nghiệp, với diện tích12.798 ha, trong đó có 26 khu công nghiệp đi vào hoạt động, với tỉ lệ thuê đạt72,2% và 12 cụm công nghiệp, với diện tích 815 ha, tỉ lệ cho thuê đạt khoảng64,8%.
Thương mại, xuất nhập khẩu: Hoạt động thương mại tiếp tục phát triển
trong thời gian qua, công tác xúc tiến thương mại được đẩy mạnh thực hiện trong
và ngoài nước, hàng hóa dồi dào, nguồn cung được bảo đảm Là một trong số ítnhững địa phương “có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 28,533 tỷ USD năm 2017,tăng 18,2% so với năm 2016”[67,1], Bình Dương là tỉnh có thặng dư thươngmại cao nhất trong cả nước và khu vực Bình Dương sẽ là địa phương đóng vaitrò chủ lực trong việc xúc tiến thương mại quốc tế trong vùng, những địaphương lân cận sẽ tranh thủ được cơ hội và là điều kiện thúc đẩy cho việc tăngtrưởng xuất khẩu cho toàn vùng Đông Nam Bộ
Nông nghiệp: đã có những thay đổi quan trọng, thực hiện định hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn “Lĩnh vực trồng trọt tậptrung vào các loại cây trồng có hiệu quả cao, cung cấp nguyên liệu cho sản xuấtcông nghiệp và xuất khẩu”[5,18] Lĩnh vực chăn nuôi do sự thay đổi của cơ cấucông nghiệp, chính sách đầu tư ngày càng hợp lý nên chăn nuôi phát triển cả về
số lượng và chất lượng Lâm nghiệp từng bước ổn định, quản lý và bảo vệ rừngtốt, diện tích rừng ngày càng được mở rộng với cơ chế khoán đất rừng cho các
hộ dân quản lý và trồng mới Ngư nghiệp có sự phát triển liên tục với tốc độnhanh về giá trị sản xuất, diện tích và sản lượng, phá vỡ thế độc canh trong trồngtrọt và chăn nuôi, tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu nông nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp: có nhiều sự thay đổi tích cực, đa dạng hóa về
ngành nghề và sản phẩm, chất lượng được cải tiến, thị trường được mở rộngnhưng có nhiều thách thức: cạnh tranh từ nước ngoài, nhiều sản phẩm có nguy
cơ mai một
Trang 28 Tài chính: Thu ngân sách tỉnh Bình Dương luôn đạt mức cao của cả nước.
“Năm 2017, ước thu ngân sách đạt 46.000 tỷ đồng, tăng 14% so với năm2016”[66,1] góp phần cho Đông Nam Bộ trở thành vùng có đóng góp ngân sáchlớn nhất cả nước Nguồn thu ngân sách khổng lồ của Bình Dương vừa thể hiện
sự đóng góp cho nền kinh tế vùng vừa thể hiện vai trò quan trọng của BìnhDương đối với cả nước
Đô thị hóa: Bình Dương hiện đang được xem là một trong những tỉnh có
tốc độ đô thị hóa nhanh nhất cả nước Từ một địa phương có mức độ đô thị hóa
chỉ 20% (năm 1990), “đến năm 2015 đã đạt từ 60% đến 70%”[69,1] Đô thị Thủ
Dầu Một (thuộc tỉnh Bình Dương), Vũng Tàu (thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu),Biên Hòa (thuộc tỉnh Đồng Nai) đạt tiêu chí đô thị loại I trực thuộc tỉnh, đóng vaitrò là các cực phát triển trong hệ thống đô thị của vùng Đông Nam Bộ và cả vùngkinh tế trọng điểm phía Nam
Bình Dương đang thực hiện xây dựng thành phố mới Bình Dương với hàngloạt công trình vào năm 2014 Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh đã đượcđưa vào hoạt động, tạo hiệu ứng tích cực cho tiến trình phát triển - hội nhập,thành phố mới Bình Dương đang hiện diện hàng loạt công trình trên nhiều lĩnhvực: nhà hàng, khách sạn, phố thương mại, tài chính – ngân hàng, khu nhà ở caocấp, trường đại học, bệnh viện, khu công viên vui chơi giải trí, nhà thi đấu thểthao, tạo nên quần thể kiến trúc đô thị văn minh, hiện đại
Nói tóm lại, từ năm 1997 đến năm 2017 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ cácngành công nghiệp của Tỉnh Tỉ trọng công nghiệp tăng dần trong cơ cấu kinh tế.Ngành công nghiệp đã phát huy hiệu quả lợi thế của địa phương về vị trí, điềukiện tự nhiên – xã hội, chính sách mở cửa thu hút đầu tư Các ngành công nghiệpchế biến, khai khoáng và vật liệu xây dựng được tăng cường đầu tư và đổi mớicông nghệ Các thành phần kinh tế khác đều có sự phát triển vượt bậc
1.3.2 Những chuyển biến về xã hội
Kinh tế phát triển nhanh, đóng góp của các thành phần kinh tế vào ngân sáchlớn nên Bình Dương có điều kiện để thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xãhội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cho người dân, nhiều mặt về văn
Trang 29hóa – xã hội có bước phát triển nhảy vọt, đời sống tinh thần của nhân dân theo
đó tiếp tục được nâng cao
Công tác đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết việc làm và đào tạo nghề:
Công tác đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kếtquả cao Bình Dương đã huy động được nhiều nguồn lực để chăm lo cho các đốitượng chính sách, xã hội và thực hiện các biện pháp xóa đói giảm nghèo bềnvững Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và trẻ em, thực hiệnbình đẳng giới, phòng chống các tệ nạn xã hội tiếp tục có những chuyển biến tíchcực Năm 2017, “đã chi gần 948 tỷ đồng cho hoạt động chăm sóc người có công
và các hoạt động an sinh xã hội khác”[61,6] Giải quyết việc làm mới, tổ chứccác phiên giao dịch việc làm, tư vấn giới thiệu việc làm Tổng thu bảo hiểm ướcđạt 17.600 tỷ đồng, tăng 11,4%, Tỉnh đã có chính sách hỗ trợ mức đóng bảo hiểmcho học sinh sinh viên, hộ gia đình, hộ nông - lâm nghiệp
Giáo dục – đào tạo: Ngành giáo dục đào tạo có những bước đổi mới, nâng
cao chất lượng giảng dạy và học tập, chú trọng phát huy toàn diện năng lực, đạo
đức và kỹ năng sống cho học sinh - sinh viên Cơ sở vật chất và trang thiết bịđược chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa Toàn ngành hiện có 600 trường, tỉ
lệ trường công lập lầu hóa đạt 70,4%, tỉ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia là65,1% Trên địa bàn có 8 trường đại học, 8 trường cao đẳng, 13 trường trungcấp, về cơ bản đáp ứng việc đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, chất lượnggiáo dục ngày càng được cải thiện
Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân: Công tác bảo vệ và chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân được tăng cường, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lựcngành y tế được quan tâm đầu tư Tạo điều kiện xã hội hóa, phát triển cơ sởkhám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Toàn Tỉnh có 3 bệnh việntuyến tỉnh, 9 trung tâm y tế tuyến huyện, 19 phòng khám đa khoa khu vực, 91trạm y tế, 11 bệnh viện tư nhân, 14 trạm y tế doanh nghiệp, 40 phòng khám đakhoa tư nhân, 451 phòng khám chuyên khoa và 1.855 cơ sở hành dược Ngành y
tế đã chủ động triển khai đồng bộ các hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở cáctuyến (Duy trì hoạt động các đội cơ động phòng chống dịch, đảm bảo cơ số hóa
Trang 30chất phòng dịch và tuyên truyền phòng chống các bệnh dịch truyền nhiễm), tiếpnhận chuyển giao nhiều kĩ thuật mới từ các bệnh viện đầu ngành trong khámchữa bệnh Tập trung nguồn lực ngăn chặn dịch bệnh, đề phòng lây lan Công tácđảm bảo vệ sinh an toàn và phòng chống ngộ độc thực phẩm được triển khainghiêm túc, thường xuyên kiểm tra và tập huấn kiến thức cho các cơ sở chế biến.
Văn hóa, thể thao và du lịch: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tổ
chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ kỉniệm lớn Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì Hoạt động quảng
bá du lịch được chú trọng, các điểm, khu du lịch ngày càng được đầu tư phục vụcho nhu cầu hoạt động vui chơi, giải trí của khách tham quan
Thông tin, truyền thông – Khoa học, công nghệ: Tăng cường công tác
quản lý hoạt động báo chí và phát ngôn, tạo điều kiện cho báo chí tiếp cận nắmbắt thông tin nhằm kịp thời phản ánh, tuyên truyền các chủ trương, chính sách vềchính trị, kinh tế, văn hóa, đến các tầng lớp nhân dân Hạ tầng viễn thông đượcđầu tư, phát triển mạnh, nhất là thông tin di động, triển khai có hiệu quả và trảkết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu điện công ích Hoạt động nghiên cứu,chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ được chủ động triển khai, cácnhiệm vụ đề ra đảm bảo với tiến độ và chất lượng, từng bước liên kết các tổchức khoa học với doanh nghiệp Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới quytrình, công nghệ cải tiến thiết bị máy móc, tạo ra sản phẩm mới Tăng cường hoạtđộng sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ
1.4 Tôn giáo và công tác tôn giáo của Tỉnh gi i đoạn 1997 – 2017
1.4.1 Tình hình các tôn giáo trên địa bàn Tỉnh
Hiện nay, Bình Dương có đủ các tôn giáo lớn của cả nước như: Công giáo,Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo và Hòa Hảo, các tôn giáo có số lượng tín
đồ khác nhau Có thể nhận định rằng, Bình Dương đã đón nhận trong tiến trìnhlịch sử phát triển của hầu hết các tôn giáo mang tính thế giới và cả tôn giáo bảnđịa
Một trong những tôn giáo có mặt rất sớm ở vùng đất Bình Dương là đạo Phật.Theo các tư liệu lịch sử ghi nhận, từ xa xưa Phật giáo đã có những ảnh hưởng
Trang 31nhất định đến cộng đồng dân cư bản địa ở Bình Dương Các hệ phái bao gồm:
Cổ truyền, Lục Hòa Tăng Việt Nam, Tịnh độ cư sĩ; Phật học Việt Nam, Thiênthai giáo quán tông; Giáo hội Tăng già Khuất sĩ Việt Nam sinh hoạt trong 162 cơ
sở Hệ thống chùa chiền, tịnh xá và tịnh thất được phân bố rộng rãi khắp cáchuyện thị trong Tỉnh Tính đến năm 2005, các hệ phái Phật giáo ở Bình Dương
có tất cả 430 tu sĩ (223 nam, 207 nữ) và khoảng hơn 126.000 tín đồ
Mặc dù có nhiều hệ phái Phật giáo, song dưới sự lãnh đạo của Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam tỉnh Bình Dương, các tu sĩ, phật tử ngoài việc hoạt động vì Phậtpháp còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội Trong thời gian qua, giới tu
sĩ và tín đồ đã làm tốt công tác từ thiện, giải quyết tốt các sinh hoạt văn hóa Sự
đa dạng về hệ phái cũng góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa địaphương Cùng với sự phát triển của đất nước, các tu sĩ và phật tử cũng đã chungsức xây dựng vùng đất Bình Dương ngày càng giàu mạnh
Đạo Tin Lành: Được du nhập khá sớm vào vùng đất Thủ Dầu Một Ban đầu,
chỉ có khoảng 30 hộ tín đồ đạo Tin Lành hoạt động tín ngưỡng tại xã ChánhHiệp, huyện Châu Thành Những năm sau đó, số lượng tín đồ tăng nhanh do sựkiện các giáo sĩ thuộc Hội Liên hiệp Cơ Đốc và Truyền giáo thành lập Hội thánhTin Lành Đông Pháp “Theo đó, vào khoảng năm 1928, dưới sự lãnh đạo củaMục sư Nguyễn Văn Hải, các tín đồ Tin Lành chuyển đến khu vực cầu Ông
Đành xây nhà nguyện”[6,96] Đến năm 1952 mục sư và tín đồ Tin Lành quyết
định chuyển nhà nguyện từ khu vực cầu Ông Đành về khu vực cầu Bà Hên thuộcphường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một để hoạt động
Là tôn giáo có số lượng tín đồ tương đối ít, phân bố chủ yếu ở thành phố ThủDầu Một, huyện Thuận An và Bến Cát, thành phần tín đồ đa số là người Việt,một số ít là người Stiêng Năm 2005, trên địa bàn Tỉnh có 3 nhà thờ, 1 điểmnhóm, 1.236 tín đồ phân bố như sau: “Thành phố Thủ Dầu Một có 703 tín đồ hệphái Tin Lành miền Nam Việt Nam; huyện Thuận An có 330 tín đồ hệ phái TinLành miền Nam Việt Nam; huyện Dĩ An có 19 tín đồ Liên hữu Cơ đốc, 15 tín đồLiên hiệp truyền giáo, 20 tín đồ Báp típ, 9 tín đồ An Bình Hạnh Phúc; huyện BếnCát có 96 tín đồ hệ phái Tin Lành miền Nam Việt Nam, huyện Tân Uyên có 97
Trang 32tín đồ hệ phái Tin Lành miền Nam Việt Nam, 25 tín đồ Tin Lành Trưởnglão”[6,98] Các tín đồ Tin Lành phân bố không đều trên địa bàn Tỉnh, tập trungchủ yếu ở Thủ Dầu Một và Thuận An.
Tin Lành ở Bình Dương là một tôn giáo có Giáo hội chính thức, được Nhànước công nhận Vì vậy, chính quyền địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để các mục sư và tín đồ đạo Tin Lành thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tự dotôn giáo Các tín đồ và mục sư tôn giáo Tin Lành ở Bình Dương luôn tuân thủluật pháp, chấp hành đúng các quy định của Nhà nước, tham gia tích cực cáchoạt động xã hội, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam,góp phần chung tay xây dựng và phát triển nền kinh tế - văn hóa Tỉnh nhà
Đạo Cao Đài: Được du nhập vào vùng đất Thủ Dầu Một từ sau năm 1926, cáctín đồ Cao Đài bằng nhiều lý do đã đến Thủ Dầu Một, Bình Dương để lậpnghiệp Những năm sau đó, tại Bình Dương xuất hiện nhiều cơ sở thánh thất CaoĐài Theo điều tra năm 1997, toàn tỉnh Bình Dương có khoảng 3.700 tín đồ và
214 vị chức sắc, lãnh đạo tinh thần của bộ phận giáo dân Cao Đài gồm có 30 tu sĩgồm 20 nam và 10 nữ Bình Dương hiện có 14 cơ sở tôn giáo của đạo Cao Đàigồm: 4 cơ sở thánh thất ở Thuận An, 1 cơ sở thánh thất và điện thờ ở Dĩ An, 2 cơ
sở thánh thất ở Tân Uyên, 1 cơ sở thánh thất và 1 điện thờ ở Bến Cát
Các tín đồ và chức sắc của đạo Cao Đài hàng năm đều tổ chức long trọng cácngày lễ lớn trong tôn giáo Đặc biệt là các ngày lễ quan trọng như: Diêu TrìThánh Mẫu, rằm tháng 8, ngày vía Đức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng
Theo thống kê của Ban Tôn giáo – Dân tộc tỉnh Bình Dương năm 2005, trênđịa bàn tỉnh Bình Dương có 4 hệ phái: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Tiên Thiên,Cao Đài Chơn Lý, Cao Đài Ban Chỉnh với tổng số tín đồ là 3.584 người; 10 cơ
sở thánh thất và 3 điện thờ
Đạo Islams: Islam là tôn giáo gắn liền với cộng đồng tộc người Chăm sinhsống và phần bố chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, một số tỉnh miền ĐôngNam Bộ trong đó có Bình Dương Người Chăm đến vùng đất Thủ Dầu Một lậpnghiệp từ khá lâu đời, vào khoảng những năm đầu của thế kỷ XX Thống kê năm
1926, có 453 người Chăm ở Thủ Dầu Một Khi Bình Dương được tách ra từ tỉnh
Trang 33Sông Bé cũ cũng vì thế mà số lượng người Chăm thuộc địa bàn tỉnh còn khá ít.
Họ sống tập trung chủ yếu ở xã Minh Hòa thuộc huyện Bến Cát với khoảng 33
hộ, 167 người Theo thống kê của Ban Tôn giáo – Dân tộc tỉnh năm 2005, BìnhDương có 801 tín đồ Islam, 50 tín đồ ở huyện Dĩ An, 301 tín đồ ở huyện DầuTiếng, 1 Giáo cả Hakim, hai Giáo phó cả Naep và 1 tiểu Thánh đường ở xã MinhHòa thuộc huyện Dầu Tiếng
Mặc dù chiếm số lượng ít trong tổng tín đồ thuộc các tôn giáo ở Bình Dương,song từ cách sinh hoạt, các tập tục, lễ nghi của người Chăm theo đạo Islam vẫntuân thủ những quy định của Nhà nước đã góp phần làm phong phú, đa dạng đờisống văn hóa của cộng đồng cư dân tỉnh Bình Dương
Ngoài những tôn giáo trên, hiện nay Bình Dương còn có một số ít tín đồ đạoHòa Hảo Ở Bình Dương không có cơ sở thờ tự của đạo Hòa Hảo Những tín đồHòa Hảo đến đây chủ yếu để sinh sống và lập nghiệp Nhiều tín đồ từ các tỉnhmiền Tây Nam Bộ đến các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo mua đất lập nghiệp hoặc
“làm việc tại các khu công nghiệp ở Thuận Giao, Thuận An và Thủ DầuMột”[2,44] Đa số tín đồ Hòa Hảo là dân nhập cư, đang có xu hướng tăng lên về
số lượng
ỞBình Dương, “trong một thời gian dài tôn giáo là chỗ dựa về mặt tinh thầncho những người đi khai hoang mở đất và cho đến nay vẫn là một nhu cầu tinh
thần của một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân”[6,101] Trong giai đoạn từ
năm 1997 đến năm 2017, các tín đồ và hàng ngũ chức sắc tôn giáo đã tích cựcđẩy mạnh những hoạt động mang tính xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựngquê hương Bình Dương và vì sự tiến bộ của xã hội một cách thiết thực
1.4.2 Công tác tôn giáo ở Bình Dương 1997 – 2017
Kết quả thực hiện chính sách tôn giáo ở Bình Dương trong thời gian qua đó lànhờ váo sự đổi mới về lãnh đạo công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước Nhìnchung, tình hình chính trị vẫn ổn định, kinh tế xã hội tiếp tục phát triển toàn diện,các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong đó có chínhsách về tôn giáo được đại đa số đồng bào, chức sắc và tín đồ các tôn giáo đón
Trang 34nhận với tinh thần phấn khởi, tin tưởng vào đường lối của Đảng và Chính phủ.Kết quả đạt được thể hiện qua các mặt dưới đây:
Đời sống vật chất văn hóa của đồng bào có đạo: Qua 20 năm triển khai thựchiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, đờisống của các tín đồ theo các tôn giáo được từng bước cải thiện, bộ mặt nôngthôn, đô thị được đổi mới, nhà cửa của đồng bào và nơi thờ tự được trùng tu xâydựng khang trang hơn, sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo ngày càng tuân thủ phápluật, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, đời sống tâm linh của các tín đồ có đạo đượcđảm bảo, đáp ứng tốt hơn Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể phát động nhữngphong trào về văn hóa xã hội (xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa,giúp nhau xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nuôidưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, làm công tác từ thiện xã hội, ), được cácchức sắc và tín đồ tích cực tham gia, Ủy ban nhân dân đã nhiều lần khen thưởngcho những cá nhân và tập thể đạt thành thích xuất sắc trong phong trào thi đua,tạo ra sự đoàn kết phấn khởi trong nhân dân
Thái độ và ý thức chính trị chấp hành chính sách pháp luật của chức sắc vàcác tín đồ tôn giáo: Khi Chỉ thị 37 của bộ chính trị “về công tác tôn giáo trongtình hình mới”[7,1] được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đạichúng đã khẳng định một lần nữa về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng ta
là xác định tôn giáo còn tồn tại lâu dài, sinh hoạt tôn giáo là nhu cầu tinh thần củamột bộ phận nhân dân có đạo, được Nhà nước đảm bảo bằng Hiến pháp và Phápluật Trong thời gian qua, đại đa số chức sắc và các tín đồ các tôn giáo đón nhậncác chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thái độ nghiêm túc tuânthủ chấp hành Đặc biệt, khi Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị được ban hành cùng vớiviệc cụ thể hóa bằng “NĐ 26 của Chính phủ”[10,1] thì các chức sắc, tín đồ củacác tôn giáo xem đây là một bước đổi mới chưa từng có từ trước tới nay, làmcho đồng bào các tôn giáo yên tâm sống “tốt đời đẹp đạo” Cùng với sự quan tâmhướng dẫn của các cấp chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc sinhhoạt tôn giáo, thúc đẩy mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa các chức sắc tôn giáo
và chính quyền địa phương
Trang 35Chính sách đoàn kết giữa đồng bào có đạo và không có đạo: Một trong nhữngcông tác quan trọng trong công tác tôn giáo là việc thực hiện đoàn kết giữa nhữngngười theo tôn giáo và những người không theo tôn giáo Thời gian qua, đồngbào các tôn giáo trong tỉnh đã đoàn kết và hăng hái tham gia các phong trào, phấnđấu vì mục tiêu chung (dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh), gópphần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh nhà Trong các hoạt động từthiện xã hội, đều không có sự phân biệt giữa đồng bào theo tôn giáo hay khôngkhông theo tôn giáo, giữa chức sắc và tín đồ các tôn giáo khác nhau luôn có mốiquan hệ tốt đẹp Những ngày lễ lớn, các tôn giáo đều mời đại biểu tôn giáo bạntham gia thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau “Cho đến nay, tỉnh Bình Dương chưa cóbiểu hiện gì phức tạp trong mối quan hệ giữa đồng bào có đạo và không cóđạo”[2,87] Những lần gặp gỡ giữa chức sắc với lãnh đạo Tỉnh, các chức sắc đạidiện các tôn giáo đã bày tỏ niềm vui của các tôn giáo đối với chính sách củaĐảng và Nhà nước và thể hiện lòng biết ơn trước sự quan tâm của chính quyềnđịa phương.
Những năm qua, các cấp ủy Đảng, Mặt trận tổ quốc, chính quyền, và các đoànthể trong tỉnh tiếp tục triển khai, quán triện và tổ chức NQ24/NQ-TW (Nghịquyết số: 24/NQ- TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công táctôn giáo trong tình hình mới) “Chỉ thị 37/CT-TW của Bộ Chính trị về tăngcường công tác tôn giáo trong tình hình mới – thực hiện NĐ69/HĐBT”[11,1] củaChính phủ quy định về các hoạt động tôn giáo và các chủ trương giải pháp củađịa phương Các chủ trương, chính sách được ban hành thể hiện đường lối đổimới của Đảng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là về vấn đề tôn giáo.Trong “Nghị quyết 25”[4,1] và Pháp lệnh tôn giáo có hiệu lực ngày15/11/2004 đã mở rộng thêm một số lĩnh vực trong tổ chức và hoạt động tôn giáonên được đa số các chức sắc và tín đồ các tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vànghiêm chỉnh thực hiện Đồng bào tôn giáo rất phấn khởi trước tình hình kinh tế
- xã hội trong Tỉnh ngày càng phát triển, đời sống nhân dân không ngừng đượcnâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã hội được bảo đảm
Trang 36Bên cạnh đó, dù chính sách mới của Đảng về tín ngưỡng – tôn giáo được banhành nhưng vẫn có một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ nhận thức thiếu đúng đắnnhư xây dựng một số công trình sai quy định, thực hiện thái quá vấn đề nhiều lễnghi, huy động quá sức đóng góp của tín đồ, đòi lại một số đất đai do chínhquyền đang quản lý dẫn đến vi phạm quy định của nhà nước Ngoài ra, vấn đềcần lưu ý hơn là một số ít cán bộ Đảng viên do nhận thức chưa thấu đáo cácchính sách về tôn giáo nên còn làm sai công tác, thậm chí bỏ Đảng để theo đạo.Việc thực hiện các tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo đôi lúc còn chưađược phân biệt rõ ràng dẫn đến khó khăn vướng mắc trong quá trình xử lý Cácthế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo để gây ra các hoạt động chống phá.Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra vụ việc nào nghiêm trọng.
Công tác tôn giáo ở tỉnh Bình Dương được xem là một nhiệm vụ chính trịđặc biệt vì thành phần chức sắc và các tín đồ các tôn giáo là dạng quần chúng đặcbiệt “Vì vậy công tác tôn giáo cũng phải mang tính đặc biệt do cả hệ thống chínhtrị thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng”[2,89] Chính quyền địa phương đã cóchủ trương chính sách và đường lối lãnh đạo hết sức khôn khéo Chính sách tự
do tín ngưỡng tôn giáo được ban hành nhất quán từ trước đến nay được nhândân tin tưởng và nghiêm chỉnh chấp hành Song song đó, chính quyền địaphương tỉnh Bình Dương trong những năm qua đã quán triệt quan điểm củaĐảng, đã thực hiện triển khai ngày càng tốt về chính sách tôn giáo, chăm lo đờisống nhân dân nói chung và đồng bào theo đạo nói riêng, giải quyết kịp thờinhững vấn đề chính đáng hợp pháp của các tôn giáo, tuyên truyền cảnh giác cácthế lực phản động có thể lợi dụng tôn giáo để chống phá Khi có vụ việc xảy ra,cấp ủy Đảng luôn nhanh chóng nắm bắt và chỉ đạo kịp thời thông qua Ban chỉđạo công tác tôn giáo Các cơ quan chức năng luôn phối hợp đồng bộ thống nhấtphương án giải quyết hợp tình hợp lý, theo đúng chính sách nên được nhân dânđồng tình, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát hiện và kịp thời
xử lý các vi phạm đã tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần giữ vững anninh chính trị, đưa tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển toàn diện
Trang 37Tuy nhiên, trong việc thực hiện công tác tôn giáo vẫn còn một số vấn đề cầnđược rút kinh nghiệm: trong ban hành các chính sách có liên quan đến tôn giáocần có sự đồng thuận thống nhất giữa các bên liên quan; cần giải quyết hiệu quảvấn đề Đảng viên có đạo và Đảng viên theo đạo; tăng cường kiểm tra và xử lýnhững vi phạm trong hoạt động tôn giáo; phòng ngừa và ngăn chặn việc lợi dụngtôn giáo của các thế lực chống phá sự nghiệp cách mạng.
1.5 Công giáo tỉnh Bình Dương gi i đoạn 1997 – 2017
1.5.1 Vài nét về Công giáo gi i đoạn trước 1997
Quá trình du nhập: Cộng đồng dân cư những người Công giáo “lác đác đếnđây lập nghiệp tại vùng ven sông Như vậy, số người Công giáo tới đây đã theođạo rồi chứ không phải tới đây mới theo đạo”[15,143], thời gian các tín đồ Cônggiáo di cư đến sinh sống tại vùng đất Thủ Dầu Một, Bình Dương hiện chưa cótài liệu nào ghi chép rõ, chỉ biết rằng, vào khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷXVII, “nhiều thương nhân theo đạo cùng giáo sĩ phương Tây đã đến Việt Nam
để thám hiểm, buôn bán và vùng Lái Thiêu được coi là cái nôi của Công giáoNam Bộ”[43,100] Như vậy, giáo dân Công giáo trong quá trình di cư đã mangtheo đạo của mình và sinh sống tại vùng đất Thủ Dầu Một từ khá sớm
Theo nguồn tài liệu của Ban Quản lý di tích và danh thắng tỉnh Bình Dương,khoảng giữa thế kỷ XVIII, tại vùng Lái Thiêu, Họ Gò đã xuất hiện do ông PhippeNguyễn Văn Tấm và bà Marie Nguyễn Thị Y sáng lập và truyền giáo Vì thế, cóthể xác định họ đạo Lái Thiêu được hình thành trước năm 1747 Bởi vì “từ năm
1747, Lái Thiêu đã nằm trong danh sách 11 họ đạo của vùng Trấn Biên”[37,363],với 400 tín đồ và có 2 dòng, “bao gồm dòng Tên và dòng Phanxico”[35,49] Đếnnăm 1771, Đức cha Bá Đa Lộc cho các giáo hữu lập bàn thờ tại Cây Me (LáiThiêu) Đến năm 1789 lại cho chuyển 40 Chủng sinh và Chủng viện từChantaburi (Thái Lan) về tại Lái Thiêu và cử thừa sai Boisserand làm Giám đốccoi quản Vì vậy, “Riêng Lái Thiêu vẫn được coi như cái nôi của Công giáoNam Bộ”[35,49], nơi có Chủng Viện, Thừa Sai, Chủng sinh và các giáo dânCông giáo
Trang 38Trong nửa đầu thế kỷ XIX, số lượng giáo dân Công giáo có mức tăng độtbiến khi Cha Jean Baptiste Taberd được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận TâyĐàng Trong cho đến khi Giáo phận Đông Đàng Trong được thành lập (Năm
1844, Đức Cha Grerito XVI chia đôi Giáo phận Tây Đàng Trong thành Giáophận Đông Đàng Trong và Giáo phận Tây Đàng Trong) Lúc đó ở vùng đất ThủDầu Một, Bình Dương xuất hiện nhiều cơ sở Thiên Chúa giáo, điển hình là Giáo
xứ Lái Thiêu, Giáo xứ Thala, Giáo xứ Brolam Đến năm 1888 xuất hiện thêmGiáo xứ Búng
Trong khoảng thời gian từ năm 1862 đến năm 1945, quá trình phát triển đạoCông giáo ở Bình Dương gắn liền với cuộc viễn chinh xâm lược của thực dânPháp ở Việt Nam Điều này được thể hiện rõ nét hơn kể từ sau năm 1897, khi haitrung tâm nghiên cứu cao su của Pháp thành lập tại Ông Yêm – Bến Cát và 3công ty cao su lớn nhất của Pháp lập đồn điền tại Thủ Dầu Một Như thế, cácgiáo sĩ phương Tây đã cho xây dựng nhà thờ, truyền bá đạo và làm tăng nhanhchóng số lượng giáo dân Công giáo
Cùng với những sự kiện trên, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chiến dịch mộphu bắt dân di cư vào làm việc tại các đồn điền Suốt từ giữa thế kỷ XIX đến đầuthế kỷ XX, nhân dân từ nhiều miền đất nước đổ về Thủ Dầu Một trong đó có kháđông giáo dân Công giáo, “chính số lượng tín đồ này đã bổ sung cho các xứ đạotại Thủ Dầu Một Đến năm 1936, ở vùng đất Thủ Dầu Một có khoảng 11 Giáo xứ
và 13.799 giáo dân”[35,50], số giáo dân Công giáo tăng trong giai đoạn này chủyếu do di cư
Cuối năm 1954, Mỹ - Diệm đưa vào Thủ Dầu Một hơn 100.000 đồng bàoCông giáo từ miền Bắc di cư vào miền Nam Phần lớn những giáo dân này được
“bố trí thành từng cụm dân cư lớn ở khu vực Khánh Vân, Bà Đã, Bàu Cá Trê, AnLạc, Váng Hương, Thị Tính, Phó Bình, Phước Vĩnh, Phước Sang, nhất là dọc
theo quốc lộ 13, 14 ”[6,94] Vì thế các xứ đạo ở Thủ Dầu Một còn tăng thêm
một lượng lớn giáo dân trong khoảng thời gian này
Đến ngày 14 – 10 - 1965, Phocolovi cắt 5 tỉnh Tây Ninh, Bình Long, BìnhDương, Phước Thành, Hậu Nghĩa thuộc Giáo phận Sài Gòn (Năm 1924, Giáo
Trang 39phận Tây Đàng Trong đổi tên thành giáo phận Sài Gòn) để thành lập một Giáophận mới – Giáo phận Phú Cường do đức cha Giuse Phạm Văn Thiên làm Giámmục, với 715.000 dân, 6 Giáo hạt, 39 Họ đạo, 43 Linh mục, 106 Thánh đường, 1Tiểu Chủng viện, 1 trung tâm bác ái”[35,50] Có thể khẳng định, Giáo phận PhúCường là một trung tâm Công giáo lớn ở miền Đông Nam Bộ, thu hút đượcnhiều giáo dân đến sinh hoạt.
Các tín đồ Công giáo trong giai đoạn 1954 – 1975 bị phân hóa theo 2 hướngchính: Một số ít bị chính quyền Sài Gòn lợi dụng, biến họ thành lực lượng xungkích trong mưu đồ chia cắt đất nước Phần đông các tín đồ còn lại tham gia tíchcực vào phong trào chống Mỹ cứu nước, đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đấtnước, góp phần to lớn vào chiến thắng mùa xuân 1975
Sau năm 1975, số lượng tín đồ Công giáo tăng mạnh ở tỉnh Sông Bé – BìnhDương, nhiều cư dân trong cả nước di cư đến làm ăn sinh sống khi đất nướcthống nhất, trong đó có cả những tín đồ Công giáo Theo số lượng thống kê củaBan Tôn Giáo, sau ngày giải phóng, toàn tỉnh có 48.327 tín đồ, chiếm 7,02% dân
số toàn tỉnh, trong đó, tập trung đông nhất ở huyện Tân Uyên (18.970 tín đồ),huyện Thuận An (13.164 tín đồ), huyện Bến Cát (11.017 tín đồ) và thị xã ThủDầu Một (5.276 tín đồ) Lãnh đạo tinh thần và là người coi quản là Đức Giámmục Giuse Phạm Văn Thiên cùng với 41 tu sĩ, 33 Linh mục và 4 trưởng nữ dòngtu
Giai đoạn 1993 – 1995, đức cha Louis Hà Kim Danh về Giáo phận PhúCường làm Giám mục thay Đức Cha Giuse Phạm Văn Thiên Từ năm 1995, Linhmục Micae Lê Văn Khâm tiếp quản Giáo phận với chức vụ Giám quản đến 1998
1.5.2 Tình hình Công giáo tỉnh Bình Dương 1997 – 2017
Hoạt động Công giáo trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2017 là thời kỳnăng động, phong phú và được tổ chức rất chặt chẽ Các hoạt động đều chấphành tốt các quy định của chính quyền, có mối quan hệ tốt với chính quyền cáccấp và tham gia tốt phong trào xã hội tại địa phương nhất là công tác từ thiện
Từ năm 1996 đến năm 1998 là giai đoạn Giáo phận Phú Cường chưa có Giámmục, các công việc đều do Linh mục Giám quản điều hành Những sinh hoạt tôn
Trang 40giáo, lễ trọng phải mời Giám mục từ Giáo phận khác tới làm chủ tế nên có phầnhạn chế.
Đến tháng 1/1999, Giám mục mới được bổ nhiệm là Đức cha Phero Trần Đình
Tứ đã triển khai kế hoạch “tiền Năm Thánh” và đường hướng mục vụ là kiện toànHội đồng tư vấn, Hội đồng mục vụ, các Linh mục quản hạt, bổ nhiệm thêm chức vụtham mưu cho Giám mục Những công tác quan trọng bao gồm: bổ nhiệm; thuyênchuyển các Linh mục; thiết lập các Giáo điểm lên Giáo họ và Giáo họ lên Giáo xứnhằm đẩy mạnh việc truyền giáo; phát triển tín đồ, củng cố đức tin, chuẩn bị hướngtới Năm Thánh 2000 Các hoạt động được diễn ra khá sôi nổi và phức tạp, TòaGiám Mục tăng cường các hình thức sinh hoạt truyền bá Phúc âm gắn với việc tổchức các lễ Ngân Khánh, Bổn mạng, khánh thành nhà thờ,
Để đào tạo đội ngũ kế thừa, Tòa Giám Mục đưa một số Linh mục đi đào tạonước ngoài (Cộng hòa Liên ban Đức, Cộng hòa Pháp) và đưa các Chủng sinh điđào tạo tại Đại Chủng viện Thánh Giuse (thành phố Hồ Chí Minh) Bên cạnh đó
là hoạt động phong chức cho các tu sĩ, các Chủng sinh, tổ chức cho các tu sĩnhiều lượt xuất cảnh tham quan và học tập kinh nghiệm truyền giáo Trong tổchức Giáo hội, Tòa Giám Mục đã nâng cấp và cho hoạt động 9 Giáo điểm lênthành Giáo họ Sau đó Giám mục đề nghị chính quyền cho phép bổ nhiệm cácLinh mục ở các điểm nói trên
Tính đến năm 2005, trong toàn tỉnh có 76 cơ sở Công giáo “Thị xã Thủ DầuMột có 6 Giáo xứ, 8 cộng đoàn và dòng tu, 1 Tòa Giám Mục, 1 nhà Chung, 1Giám mục, 11 Linh mục dòng, 18 Linh mục triều, 40 tu sĩ nam, 55 tu sĩ nữ và9.961 tín đồ Huyện Dĩ An có 4 Giáo xứ, 1 dòng tu, 4 cộng đoàn, 6 Linh mụcdòng, 5 Linh mục triều, 2 tu sĩ nam, 16 tu sĩ nữ và 9.132 tín đồ Huyện Thuận An
có 6 Giáo xứ, 1 trung tâm hưu dưỡng, 7 cộng đoàn, 2 Linh mục dòng, 11 Linhmục triều, 63 tu sĩ nữ và 7.973 tín đồ Huyện Bến Cát có 2 Giáo xứ, 4 Giáo điểm,
1 dòng tu, 2 cộng đoàn, 2 Linh mục dòng, 3 Linh mục triều, 5 tu sĩ nam và 8.874tín đồ Huyện Tân Uyên có 8 nhà thờ, 2 nhà nguyện, 2 đền thánh, 2 tượng thờ, 8Linh mục, 16 tu sĩ, 5 chủng sinh và 8.215 tín đồ Huyện Dầu Tiếng có 3 Giáo xứ,
2 Giáo điểm, 1 cộng đoàn, 1 Linh mục dòng, 3 Linh mục triều, 2 tu sĩ nữ và