1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn học phần lý luận chung về nhà nước và pháp luật

9 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn học phần lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 23,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ giữa con người đối với pháp luật và sự đánh giả về mức độ công bằng, bìn

Trang 1

Bài Tập Lớn Học Phần Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật

1 Một số vấn đề lý luận về ý thức pháp luật

1.1 Khái niệm, đặc điểm ý thức pháp luật

Trong xã hội hiện nay, việc hình thành nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của con người chịu sự ảnh hưởng của ý thức pháp luật Theo đó, các hành vi pháp luật, các mối quan hệ pháp luật của con người đều được thực hiện trên cơ sở ý thức pháp luật Vậy ý thức pháp luật là gì?

“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ giữa con người đối với pháp luật và sự đánh giả về mức độ công bằng, bình đẳng; tính hợp pháp hay không hợp pháp đổi với các hành vi thực tiễn”1

Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, khi xã hội đạt đến trình độ phát triển nhất định, khi mà các phương tiện điều chỉnh khác không còn đủ khả năng để quản lý xã hội hiệu quả

Về mặt triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, do

đó, nó có đầy đủ những đặc điểm của ý thức xã hội:

Ý thức pháp luật chịu sự quyết định của tồn tại xã hội

Vào các thời kỳ, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, thái độ, nhận thức, quan điểm của con người cũng khác nhau Các Mác đã khẳng định: “Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ, quyết định ý thức của họ” Ý thức xã hội và tồn tại xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng và tác động qua lại lẫn nhau Ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, ngược lại, tồn tại xã hội chi phối, quyết định ý thức pháp luật Khi tồn tại xã hội thay đổi, ý thức pháp luật cũng thay đổi theo

Trang 2

Ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội

Dù chịu sự chi phối, tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng có tính độc lập nhất định

Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội Tồn tại xã hội là cái có trước ý thức pháp luật Bên cạnh đó, tồn tại xã hội có thể mất đi, nhưng ý thức xã hội do nó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại trong một thời gian khá dài Nhiều

tư tưởng, quan niệm, quan điểm trong quá khứ vẫn được nhiều người dân hiện nay

áp dụng Một số trường hợp khác, ý thức pháp luật có thể vượt trước tồn tại xã hội,

có tính định hướng cho tồn tại xã hội

Ý thức pháp luật mang tính kế thừa Trong quá trình phát triển, ý thức pháp luật luôn giữ lại những tư tưởng, quan điểm pháp lý tiến bộ của các thời kỳ trước, đặc biệt là những tư tưởng có giá trị bền vững, khó thay đổi Phát triển từ những tư tưởng tiến bộ giúp pháp luật được hoàn thiện hơn

Ý thức pháp luật luôn tác động qua lại với tồn tại xã hội, các hình thái ý thức

xã hội khác và các hiện tượng của kiến trúc thượng tầng pháp lý Trong đó, sự tác động của ý thức pháp luật đối với tồn tại xã hội không diễn ra một cách trực tiếp

mà thông qua hành vi pháp luật Sự tác động của ý thức pháp luật với ý thức chính trị, ý thức đạo đức, tôn giáo luôn thể hiện ở sự đan xen, tương hỗ lẫn nhau trong quá trình tồn tại và vận động Ngoài ra, ý thức pháp luật chi phối trực tiếp việc hình thành hệ thống cơ quan nhà nước và quá trình thwucj thi quyền lực nhà nước

Ý thức pháp luật luôn là nhân tố tiền đề cho việc xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật

Ý thức pháp luật mang tính giai cấp

Là sản phẩm trực tiếp của giai cấp cầm quyền, ý thức pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc Ý thức pháp luật của giai cấp cầm quyền là tiền đề, cơ sở để xây

Trang 3

dựng các giá trị, chuẩn mực pháp lý đối với xã hội, hình thành thế giới quan pháp

lý chính thống trong xã hội

1.2 Các loại ý thức pháp luật

Căn cứ nội dung, tính chất của hệ tư tưởng và tâm lý pháp luật, có thể phân

ý thức pháp luật thành ý thức pháp luật thông thường, ý thức pháp luật mang tính

lý luận và ý thức pháp luật chuyên ngành Trong đó, ý thức pháp luật thông thường biểu hiện ở khả năng phản ánh các hiện tượng pháp lý, khả năng nhận thức pháp luật còn có những hạn định, bên ngoài, phiến diện và riêng rẽ Cấp độ ý thức này chỉ mang tính phổ thông Ý thức pháp luật lý luận thể hiện sự nhận thức về pháp luật và các hiện tượng pháp lý một cách sâu sắc, toàn diện cả về bản chất, nội dung

và hình thức Cấp độ ý thức này thường đi liền với ý thức và hoạt động khoa học

Ý thức pháp luật chuyên ngành là dạng ý thức được nhận diện theo từng lĩnh vực nghề nghiệp Xét về nội dung và yêu cầu, loại ý thức này vừa mang những đặc điểm của ý thức pháp luật nói chung vừa những đặc điểm riêng biệt của từng chuyên ngành cụ thể Ý thức pháp luật chuyên ngành thể hiện mức độ chuyên sâu

về sự hiểu biết, phân tích, đánh giá về những đối tượng thuộc lĩnh vực đó,

Nếu căn cứ vào chủ thể, ý thức pháp luật có thể tồn tại các dạng ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật xã hội

1.3 Cấu trúc của ý thức pháp luật

Ở góc độ chung, ý thức pháp luật có hai bộ phận lớn hợp thành là hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật

Hệ tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận về pháp luật Hệ tư tưởng pháp luật không đơn thuần là sản phẩm của giai cấp cầm quyền sáng tạo nên mà nó còn hàm chứa các giá trị khoa học được đúc kết, kế thừa từ thực tế của nền văn minh pháp lý nhân loại

Trang 4

Tâm lý pháp luật được hình thành trên cơ sở nhận thức, biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác Tâm lý pháp luật có tính bền vững là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của hệ

tư tưởng pháp luật Mặt khác, tâm lý pháp luật có thể biến đổi khi môi trường kinh

tế, chính trị và pháp lý có sự thay đổi

2 Một số vấn đề lý luận về xây dựng pháp luật

Xây dựng pháp luật có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau “Theo nghĩa rộng, xây dựng pháp luật là hoạt động của tất cả tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình tạo lập pháp luật Quá trình tạo lập pháp luật bao gồm rất nhiều hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyến hoá ý chí nhà nước thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định, đặc biệt là hình thức văn bản quy phạm pháp luật Theo nghĩa hẹp – Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước Kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là làm hình thành nên các quy định pháp luật mới để bổ sung vào hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành hoặc sửa đổi, loại bỏ những quy định pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước Do vậy, xây dựng pháp luật

là hoạt động mang tính sáng tạo, là một quá trình sáng tạo ra các quy định pháp luật”.2

Các hoạt động tạo ra quy phạm pháp luật bao gồm: xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, thừa nhận các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán có khả

2 Xây dựng pháp luật là gì? Phân tích khái niệm xây dựng pháp luật?, ThS LS Phạm Quang Thanh,

Trang 5

năng áp dụng chung, ban hành án lệ (các bản án, quyết định của tòa án có khả năng giải quyết các vụ việc tương tự về sau)

“Vì pháp luật là một hệ thống nên khi ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kì một quy định pháp luật nào cũng cần phải cân nhắc xem xét đến tính hệ thống của nó trong tổng thể của hệ thống quy phạm pháp luật của đất nước, tức là

sự phù hợp, sự tác động, ảnh hưởng của nó đối với các quy phạm pháp luật hiện hành Do sự liên kết chặt chẽ giữa các quy phạm pháp luật, giữa các bộ phận của

hệ thống pháp luật, cho nên một quy phạm pháp luật được bổ sung hay thay đổi có thể dẫn đến sự thay đổi của các quy phạm pháp luật khác, sự thay đổi của các hiện tượng pháp luật khác, vì vậy, không thể tuỳ tiện khi xây dựng các quy định pháp luật”

3 Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật

“Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định

Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động, được tiến hành bằng một thao tác nhất đính nhưng đó cũng có thể là một xử sự có tính thụ động, tức là không tiến hành vượt xử sự bị pháp luật cấm

Có bốn hình thức thực hiện pháp luật:

Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện ở sự kiểm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật Vĩ dụ, không nhận hối lộ, không sử dụng chất ma tuý, không thực hiện hành

vi lừa đảo, không lái xe trong tình trạng say rượu ;

Thỉ hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật

Trang 6

được Ví dụ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, nghĩa vụ lao động công ích, nghĩa vụ nuôi dạy con cái, chăm sóc ông bà, cha mẹ khi già yếu;

Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng khai thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà luật đã dành cho mình Ví dự: công dân có quyền đi lại trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước theo quy định của pháp luật Nét đặc biệt của hình thức thực hiện pháp luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép còn ở hai hình thức trên, việc thực hiện mang tính bắt buộc;

Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí những vấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình”3

4 Vai trò của sự tác động ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật

4.1 Đối với hoạt động xây dựng pháp luật

Trong hoạt động xây dựng pháp luật, ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:

“Trong quá trình hoạt động và phát triển, trên cơ sở ý thức pháp luật, nhận thức, hiểu biết của mình, các chủ thể có thẩm quyền xây dựng pháp luật có thể xác định được quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, mức độ điều chỉnh (bằng luật hay văn bản dưới luật)… Đồng thời, có thể xác định được trình độ phát triển

Trang 7

của kinh tế – xã hội, nhu cầu khách quan của đời sống xã hội để đặt ra các quy định của pháp luật phù hợp với các điều kiện đó

Khi xây dựng pháp luật, trên cơ sở ý thức pháp luật của mình, các chủ thể có thẩm quyền có thể xác định được trong số các quy phạm xã hội đang tồn tại, những quy phạm nào có thể thừa nhận thành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước thì thừa nhận thành pháp luật, những quy phạm nào không phù hợp thì đặt ra các quy phạm mới để thay thế chúng, những quan hệ xã hội nào cần điều chỉnh mà chưa có pháp luật thì đặt ra quy tắc mới… Nhờ vậy mà làm hình thành nên một hệ thống pháp luật

Trong quá trình thực hiện hệ thống pháp luật đã được ban hành, cũng phải trên cơ sở ý thức pháp luật hay trên cơ sở kiến thức, hiểu biết của mình, các chủ thể có thẩm quyền có thể xác định được quy phạm pháp luật nào phù hợp với thực tại khách quan, có tính khả thi thì tiếp tục sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước, quy phạm nào không phù hợp thì ban hành hoặc đề nghị ban hành quy phạm hoặc văn bản mới để thay thế, làm cho hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn

Khái quát lại, vai trò của ý thức pháp luật đối với xây dựng và hoàn thiện pháp luật thể hiện ở các góc độ:

Góp phần nhận thức thấu đáo, đầy đủ đối với chính sách pháp luật và các yêu cầu của việc điều chỉnh pháp luật

Nâng cao khả năng quy phạm hóa các nội dung điều chỉnh pháp luật và xác định các chuẩn mực pháp lý phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế

Bảo đảm cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đúng quy trình kỹ thuật pháp lý, hạn chế được tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau trên thực tế

Trang 8

Bảo đảm hiệu quả, chất lượng hoạt động hệ thống hóa pháp luật, đặc biệt là hoạt động pháp điển quy phạm pháp luật trên thực tế

4.2 Đối với hoạt động thực hiện pháp luật

Ý thức pháp luật là yếu tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong thực tế

Ý thức pháp luật của mỗi người được thể hiện thông qua trình độ hiểu biết pháp luật, thái độ đối với pháp luật (tôn trọng, ủng hộ hoặc coi thường, chống đối)

và hành vi pháp luật thực tế của người đó (hợp pháp hoặc bất hợp pháp) Nếu mọi người trong xã hội đều có ý thức pháp luật cao, tức là đều hiểu biết đúng đắn yêu cầu của các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của mình, đều có thái

độ tôn trọng, ủng hộ các quy định đó nên luôn luôn có các hành vi hợp pháp thì pháp luật sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và tự giác hơn

Ý thức pháp luật là yếu tố bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, chính xác

Trong quá trình áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền thường phải ban hành quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc

Các quyết định áp dụng pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới đối tượng áp dụng,

có thể mang lại cho người ta những lợi ích rất to lớn (Ví dụ: quyết định đề bạt, tăng lương, phân nhà…); song cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề (bị phạt tiền, bị phạt tù, bị kỷ luật…) Do vậy, để bảo đảm công lý, công bằng xã hội, các quyết định đó phải được ban hành một cách đúng đắn, chính xác, vừa thấu tình, vừa đạt lý

Muốn đưa ra được các quyết định áp dụng pháp luật đáp ứng yêu cầu trên thì chủ thể áp dụng phải hiểu rõ các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật để lựa chọn đúng quy phạm pháp luật cần áp dụng, giải thích quy phạm đó phù hợp với trường hợp

Trang 9

cần áp dụng và có ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh quy phạm đó trong quá trình áp dụng, tức là phải có ý thức pháp luật cao

Đặc biệt, ý thức pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng có vai trò quyết định cao hơn đối với tính đúng đắn của các quyết định được ban hành trong quá trình áp dụng pháp luật tương tự Trong quá trình giải quyết các vụ việc theo hình thức áp dụng này, để có thể đưa ra được một quyết định hợp với lòng người, bảo đảm được công lý, công bằng xã hội thì đòi hỏi người áp dụng phải đạt đến trình

độ có thể sử dụng pháp luật một cách có nghệ thuật và kỹ thuật”.4

4 Vai trò của ý thức pháp luật đối với xây dựng và thực hiện pháp luật, ThS LS Phạm Quang Thanh,

Ngày đăng: 31/12/2022, 22:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w