1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SIÊU ÂM CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ TÂN UYÊN NĂM 2022

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Siêu Âm Ca Bệnh Sốt Xuất Huyết Dengue Ở Bệnh Nhân Điều Trị Tại Trung Tâm Y Tế Thị Xã Tân Uyên Năm 2022
Tác giả Hồ Minh Tuấn, Đặng Thanh Điền, Lê Thị Hồng Kiều
Trường học Trung Tâm Y Tế Thị Xã Tân Uyên
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thị xã Tân Uyên
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 64,05 KB
File đính kèm số liệu nghiệm thu ks siêu âm SXHD.rar (8 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU Y HỌC 123 DOC TÀI LIỆU Y HỌC 123 DOC KHẢO SÁT SIÊU ÂM CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ TÂN UYÊN NĂM 2022 Hồ Minh Tuấn, Đặng Thanh Điền, Lê Thị Hồng.

Trang 1

KHẢO SÁT SIÊU ÂM CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU

TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ TÂN UYÊN NĂM 2022

Hồ Minh Tuấn, Đặng Thanh Điền, Lê Thị Hồng Kiều.

Trung Tâm Y Tế Thị xã Tân Uyên

TÓM TẮT:

Đặt vấn đề: Sốt xuất huyết – Dengue (SXH-D) đang là vấn đề y tế trầm trọng ở các tỉnh Đông

Nam Bộ, hiện nay chưa có thuốc điều trị SXH-D và chưa có phương pháp nào hữu hiệu để ngăn ngừa vào sốc, do đó ngoài trị số dung tích hồng cầu (DTHC) và tiểu cầu (TC), cần bổ sung các trị số cận lâm sàng khác trong đó có giá trị của SA để tiên đoán sốc trong SXH-D

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định các dấu hiệu “dày thành túi mật”, “dịch dưới bao gan”, “dịch ổ

bụng”, “dịch màng phổi” trên siêu âm và tìm sự liên hệ giữa siêu âm và tiên lượng sốc trong sốt xuất huyết Dengue

Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cúu cắt ngang được thực hiện trên 320 bệnh nhân sốt

xuất huyết Dengue tại Khoa Hồi sức-Cấp Cứu và Khoa Nội-Nhiễm TTYT TX Tân Uyên

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ các dấu hiệu “dầy thành túi mật”, “dịch dưới bao gan”, “dịch trong ổ

bụng” và “dịch màng phổi” là 80 %; 72 %; 72 %; 52 % trong nhóm SXH Dengue nặng(sốc SXH) % Dấu hiệu “ dầy thành túi mật” có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu chưa cao trong tiên lượng vào sốc SXH-D Và 3 dấu hiệu ”, “dịch dưới bao gan”, “dịch trong ổ bụng” và “dịch màng phổi” giúp tiên đoán vào sốc trong bệnh nhân SXH-D cần được khảo sát sớm

Kết luận: 3 Dấu hiệu trên siêu âm : “dịch dưới bao gan”, “dịch trong ổ bụng” và “dịch màng

phổi” giúp tiên đoán vào sốc trong bệnh nhân SXH-D cần được khảo sát sớm

Từ khóa: Sốt xuất huyết – Dengue(SXH-D); sốc trong sốt xuất huyết Dengue; siêu âm.

ABSTRACT

ULTRASONIC DIAGNOSIS OF DENGUE HEMORRHAGIC FEVER

AT TAN UYEN MEDICAL CENTER

Ho Minh Tuan, Dang Thanh Dien, Le Hong Kieu

Background: Dengue hemorrhagic fever (DHF) has increased in the Southeast region Anti

DHF virus drugs and effective methods preventing DHF shock are not available at the present time Beside hematocrite and platelet, ultrasonic features could also be used to predict DHF shock

Objectives: To identify the relationship between ultrasonic signs of thickened gall bladder wall,

pericholecystic fluid, pleural effusion and ascites and DHF shock

Method: This is a cross sectional study of 320 persons with DHF in Emergency department and

Trang 2

Results: The proportion of “thickened gall bladder wall”, “pericholecystic fluid”, “ascites” and

“pleural effusion” were 80 %, 72 %, 72%, 52%, The sign of “thickening of the gallbladder wall” has a high sensitivity but low specificity in the prognosis of DHF shock Ultrasound features of 3 ultrasonic signs : “pericholecystic fluid”, “ascites” and “pleural effusion” can help to predict DHF shock

Conclusion: Ultrasound features of 3 ultrasonic signs “pericholecystic fluid”, “ascites” and

“pleural effusion” can help to predict DHF shock

Key words: Dengue hemorrhagic fever (DHF); Dengue hemorrhagic fever shock; ultrasonic. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Sốt xuất huyết Dengue (SXH-D) là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus Dengue gây nên, bệnh

do muỗi Aedes truyền virus từ người bệnh sang người lành [1], [2], bệnh gặp cả ở trẻ em và người lớn, đặc điểm lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue là sốt , xuất huyết và thoát huyết tương,

có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong [3]

Tại Bình Dương, tần suất mắc bệnh SXH-D có khuynh hướng tăng trong những năm gần đây Bình Dương ghi nhận 4.200 ca mắc sốt xuất huyết, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó có 8 trường hợp tử vong Đáng chú ý, có đến 1.800 trẻ em tại Bình Dương mắc sốt xuất huyết, chiếm gần 44% tổng số ca mắc của toàn tỉnh [4]

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh SXH-D và chưa có phương pháp nào hữu hiệu

để ngăn ngừa vào sốc Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào dự đoán được những trường hợp có thể rơi vào sốc trong khi đó dấu hiệu tiền sốc trên lâm sàng thường không phát hiện, đôi khi không phản ảnh trung thực tăng tính thấm mao mạch đang xảy ra trong cơ thể, do đó ngoài trị số dung tích hồng cầu(DTHC) và tiểu cầu(TC), cần bổ sung các trị số cận lâm sàng khác trong đó

có giá trị của siêu âm(SA) để tiên đoán sốc trong SXH-D Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu : Xác định các dấu hiệu “dày thành túi mật”, “dịch dưới bao gan”, “dịch ổ bụng” và “dịch màng phổi” trên siêu âm và tìm sự liên hệ giữa siêu âm và tiên lượng tiền sốc trong sốt xuất huyết Dengue

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Xác định tỷ lệ và thời điểm vào sốc SXH-D.

- Xác định tỷ lệ độ dày thành túi mật và dịch dưới bao gan

- Xác định tỷ lệ dịch ổ bụng và dịch màng phổi

- Xác định mối liên hệ kết quả siêu âm và bệnh SXH-D không sốc (SHX-D có dấu hiệu cảnh báo), trong giá trị tiên lượng tiền sốc SXH-D

-Xác định Tần suất xuất hiện số dấu hiệu siêu âm tiên lượng Sốc SXH-D trong tổng số Bệnh nhân Sốc SXH-D.

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu:

Bệnh nhân điều trị Sốt xuất huyết Dengue Khoa Nội Nhiễm và Khoa Hồi Sức-Cấp Cứu tại TTYT TX Tân Uyên Quí 2 + Quí 3 năm 2022

Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích Phương pháp thu thập số liệu: dựa trên mẫu bệnh án,

số liệu báo cáo của Khoa XN & CĐHA TTYT TX Tân Uyên

Phương pháp chọn mẫu:

- Với tỷ lệ tiên đoán vào sốc SXH-D của các dấu hiệu trên siêu âm là 95% [9] 5% chính là khoảng tin cậy 95% của tỉ lệ được quan sát hoặc còn gọi là sai số ɛ

Nếu muốn sai số ɛ này càng nhỏ thì cỡ mẫu càng lớn và ngược lại Suy ra công thức tính cỡ mẫu

sẽ là:

Chọn ɛ =0,045 thì N=(1,962x0.8x(1-0,8))/0,0452 Ta có cỡ mẫu được tính là 304 bệnh nhân

- Cỡ mẫu thực tế là 320 bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Hồi sức cấp cứu và khoa Nội-Nhiễm Trung tâm y tế TX Tân Uyên

- Cách chọn cỡ mẫu:

Tiêu chuẩn chọn vào mẫu : Bệnh nhân được chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue theo tiêu chuẩn

của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO),Test NS1AG/IgG,IgM (+) và gia đình bệnh nhân đồng ý tham gia

Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo như dịch ổ bụng và/hoặc màng

phổi như suy tim, xơ gan, viêm gan mãn,viêm túi mật , sỏi túi mật , sỏi đường mật hội chứng thận hư, nhiễm khuẩn huyết và thương hàn hay gia đình bệnh nhân không đồng ý tham gia

Phương pháp thu thập số liệu: dựa trên mẫu bệnh án

- Xét nghiệm công thức máu và và Test NS1Ag/IgGIgM (+)

siêu âm bụng được thực hiện tại Khoa XN & CĐHA TTYT TX Tân Uyên

Xử lý kết quả: Bằng phần mềm Microsoft Excel, Nhập và phân tích số liệu theo phần mềm

thống kê SPSS.20.0

Trang 4

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:

Bảng 1: Kết quả khảo sát thời điểm vào sốc SXH-D

Thời điểm vào sốc

Nhận xét: Trong 320 trường hợp khảo sát có 50 trường hợp vào sốc SXH-D (chuyển độ nặng)

Thường bệnh nhân vào sốc vào ngày thứ 4, ngày thứ 5 của quá trình diễn tiến bệnh (chiếm 76

%) Tỷ lệ vào sốc vào ngày thứ 5 cao 46%

Bảng 2: Kết quả khảo sát siêu âm trên 320 ca sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo (không sốc)

48,7

Trang 5

Không 219 68,4

Nhận xét: Các dấu hiệu “dày thành túi mật”, “dịch dưới bao gan”, “dịch ổ bụng” có tỷ lệ cao lần

lượt là : 78,1 % , 51,2 % hay nói cách khác có độ nhạy cao trên siêu âm bệnh nhân SXH-D có dấu hiệu cảnh báo ( không sốc) Các Dấu hiệu “dịch màng phổi”, “dịch ổ bụng” có tỷ lệ thấp 50,3%, 31,6 % hay nói cách khác có độ nhạy không cao trên siêu âm bệnh nhân SXH-D có dấu hiệu cảnh báo ( không sốc)

Dấu hiệu dày thành túi mật

Tỷ lệ dấu hiệu dày thành túi mật ở những trường hợp chuyển độ nặng(sốc) là 80%, và 20% ca không vào sốc

Bảng 3: Mối liên hệ giữa dày thành túi mật và SXH-D

Có sốc ( %) Không sốc( % )

Nhận xét: Tỷ lệ SXH-D có sốc, có dày thành túi mật chiếm tỷ lệ rất cao 78%; và ngược lại tỷ lệ

SXH-D không sốc có dày thành túi mật chiếm tỷ lệ thấp 20% Nhưng Sự khác biệt này không có

ý nghĩa thống kê (p >0,05) Có nghĩa là những bệnh nhân khi SA bụng có dấu hiệu “ dầy thành túi mật ” thì không có nguy cơ vào sốc cao hơn những bệnh nhân không có dấu hiệu này trên

Trang 6

siêu âm bụng.Nên dấu hiệu “ dầy thành túi mật” có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu chưa cao trong tiên lượng vào sốc SXH-D

Dấu hiệu dịch dưới bao gan

Tỷ lệ dấu hiệu tụ dịch bao gan ở nhóm người sốt xuất huyết chuyển độ (sốc SXH-D) là 72 % Bảng 4: Mối liên hệ giữa dịch dưới bao gan và SXH-D

Có sốc ( %) Không sốc( % )

Nhận xét : Những trường hợp SXH-D có vào sốc đa số có dịch dưới bao gan 72 % và ngược lại

SXH-D không sốc có dịch dưới bao gan chiếm tỷ lệ rất thấp 28 % Sự khác biệt giữa 2 nhóm là

có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Có nghĩa là những bệnh nhân khi SA bụng có dấu hiệu “dịch dưới bao gan” thì nguy cơ vào sốc cao hơn những bệnh nhân không có dấu hiệu này trên siêu âm bụng

Dấu hiệu dịch ổ bụng

Tỷ lệ dấu hiệu dịch ổ bụng ở nhóm người sốt xuất huyết chuyển độ là 72 %

Bảng 5: Mối liên hệ giữa dịch ổ bụng và SXH-D

Trang 7

Dịch ổ bụng Sốt xuất huyết P

Có sốc ( %) Không sốc( % )

Nhận xét : Có 72% ca SXH-D vào sốc có dịch ổ bụng và ngược lại chỉ có 28 % những trường

hợp SXH-D không sốc có dịch ổ bụng Sự khác nhau giữa 2 nhóm có sốc và không sốc là có ý nghĩa thống kê(p <0,05) Có nghĩa là ca SXH-D khi SA nếu có dấu hiệu dịch ổ bụng thì nguy cơ vào sốc cao hơn nhóm không có dịch ổ bụng Do đó dấu hiệu “dịch ổ bụng” có giá trị trong tiên đoán sốc

Dấu hiệu dịch màng phổi

Dấu hiệu dịch màng phổi Tỷ lệ dấu hiệu dịch màng phổi ở nhóm người SXH-D chuyển độ là 52

%

Bảng 6: Mối liên hệ giữa dịch màng phổi và SXH-D

Có sốc ( %) Không sốc( % )

Trang 8

Nhận xét: Có 52% ca SXH-D vào sốc có dịch ổ bụng và có 48 % những trường hợp SXH-D

không sốc có dịch ổ bụng Sự khác nhau giữa 2 nhóm có sốc và không sốc là có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Có nghĩa là ca SXH-D khi SA nếu có dấu hiệu dịch ổ bụng thì nguy cơ vào sốc cao hơn nhóm không có dịch ổ bụng Do đó dấu hiệu “dịch màng phổi” có giá trị trong tiên đoán sốc

Bảng 7 Bảng Tần số - tần suất số dấu hiệu siêu âm tiên lượng Sốc SXH-D xuất hiện trong tổng số Bệnh nhân Sốc SXH-D.

SỐ DẤU HIỆU

SIÊU ÂM XUẤT

HIỆN

SỐ CA SỐC SXH-D TRÊN 50 CA SỐC SXH-D

Tỷ lệ %

Nhận xét : Trong 50 ca SXH-D , ta thấy tỷ lệ % bệnh nhân vào sốc SXH-D cao 28% và 40 % thì

tỷ lệ thuận với số dấu hiệu tiên lượng SXH-D trên siêu âm lần lượt tương ứng là 3 và 4 dấu hiệu ngược lại Tỷ lệ % bệnh nhân vào sốc thấp 8% ,16 % , * % thì lần lượt tương ứng với không có dấu hiệu tiên lượng siêu âm, có 1 dấu hiệu , có 2 dấu hiệu tiên lượng siêu âm Số lượng bệnh nhân vào Sốc SXH-D tỷ lệ thuận với số dấu hiệu tiên lượng Sốc SXH-D trên siêu âm

KẾT LUẬN

- Thời điểm vào sốc SXH-D thường vào ngày thứ 4, ngày thứ 5 của quá trình diễn tiến bệnh

(chiếm 76 %) Tỷ lệ vào sốc SXH-D vào ngày thứ 5 cao 46%

- Các dấu hiệu “dày thành túi mật”, “dịch dưới bao gan” có tỷ lệ cao lần lượt là : 78,1 % , 51,2 %

hay nói cách khác có độ nhạy cao trên siêu âm bệnh nhân SXH-D có dấu hiệu cảnh báo ( không sốc) Các Dấu hiệu “dịch màng phổi”, “dịch ổ bụng” có tỷ lệ thấp 50,3%, 31,6 % hay nói cách khác có độ nhạy không cao trên siêu âm bệnh nhân SXH-D có dấu hiệu cảnh báo ( không sốc)

- Tỷ lệ dấu hiệu “dày thành túi mật” trong lô nghiên cứu là 78,1% Trong đó dấu hiệu này ở nhóm SXH-D không chuyển độ là 20%, so với nhóm SXH-D chuyển độ là 80 % Dấu hiệu “ dầy thành túi mật” có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu chưa cao trong tiên lượng vào sốc SXH-D

- Tỷ lệ dấu hiệu “dịch dưới bao gan” trong lô nghiên cứu là 51,3 % Trong đó dấu hiệu này ở

Trang 9

- Tỷ lệ dấu hiệu “dịch ổ bụng” trong lô nghiên cứu là 50,3 % Trong đó dấu hiệu này ở nhóm SXH-D không chuyển độ là 28%, so với nhóm SXH-D chuyển độ chuyển độ là 72%

- Tỷ lệ dấu hiệu “dịch màng phổi” trong lô nghiên cứu là 31,6 % Trong đó dấu hiệu này ở nhóm SXH-D không chuyển độ là 48%, so với nhóm SXH-D chuyển độ là 52 %

Ba dấu hiệu trên siêu âm : “dịch dưới bao gan”, “dịch ổ bụng” và “dịch màng phổi” có giá trị tiên lượng vào sốc ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nhằm theo dõi bệnh sát hơn để có biện pháp chẩn đoán sớm sốc sốt xuất huyết Dengue và điều trị kịp thời Điều này cũng tương tự như những nghiên cứu khác trong và ngoài nước Theo y văn, các tác giả dựa trên độ “dầy vách túi mật”, mức độ “tràn dịch màng phổi”, “dịch ổ bụng”, “dịch tụ dưới bao gan” để đánh giá độ nặng

và chuyển độ nặng vào sốc [7], [8]

KIẾN NGHỊ:

Hiện nay, siêu âm là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh khá phổ biến ở tuyến huyện, tỉnh, thành phố và trung ương Vì vậy, khi đã chẩn đoán là sốt xuất huyết Dengue theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới nên cho làm xét nghiệm, siêu âm bụng Kết quả, nếu phát hiện dịch dưới bao gan, dịch

ổ bụng và dịch màng phổi thì đó là những dấu hiệu tiên lượng vào sốc sốt xuất huyết Dengue Liên hệ thực tế Kết quả nghiên cứu trên góp phần tăng hiệu quả trong công tác điều trị và theo dõi bệnh sát hơn để có biện pháp chẩn đoán sớm sốc sốt xuất huyết Dengue và điều trị kịp thời tại TTYT TX Tân Uyên nói riêng và Tỉnh Bình Dương nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

1 Bộ môn Truyền nhiễm - Học viện Quân y (2008), Bệnh học truyền nhiễm và nhiệt đới, NXB Y học, Hà Nội

2 Bộ Y tế, (2011), “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết Dengue người lớn” QĐ Số

458 ngày 16/2/2011

3 Bùi Đại, Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Hoàng Tuấn (2002), Bệnh Học Truyền Nhiễm, NXB Y học

4 Nguồn Thông Tấn Xã Việt Nam : https://baotintuc.vn/y-te/so-ca-mac-sot-xuat-huyet-khu-vuc-phia-nam-tang-gan-gap-doi-so-voi-cung-ky-2021-20220613210605006.htm

5.QUYẾT ĐỊNH 3705/QĐ-BYT CỦA BỘ Y TẾ VỀ VIỆC BAN HÀNH HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE ngày 22 tháng 08 năm 2019

6.KHẢO SÁT SIÊU ÂM CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT–DENGUE ĐỘ I, II Ở TRẺ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ của Trần Thị Hữu Trí và Phạm Hùng Lực

7 Nguyễn Ngọc Rạng (1996), ״Siêu âm và giá trị tiên đoán vào sốc trong sốt xuất huyết״ ,Thời

sự Y Dược Tp Hồ Chí Minh Hội Y Dược Học Tp Hồ Chí Minh, tr 6-9

Trang 10

8 Nguyễn Ngọc Rạng và cs (1997), ״Mối quan hệ giữa độ nặng lâm sàng và siêu âm bụng trong bệnh SXH-D״ ,Thời sự Y Dược Tp Hồ Chí Minh, Hội Y Dược Học Tp Hồ Chí Minh, tr 2-5

9 Bùi Đại (1997), ״Bệnh học truyền nhiễm״ ,Nhà Xuất Bản Y Học, Trường Đại Học Y Dược Tp

Hồ Chí Minh, tr 299-303

10 Pramuljo HS, Harun SR (1991), ״Ultrasound Findings in dengue Haemorrhagic Fever״ ,Pediatr Radiol, 21, p 101-102

11 Sơn Thị Sophi, Trần thị Hữu Trí và cs (2001), ״Khảo sát các yếu tố có tiên lượng vào sốc ở trẻ sốt xuất huyết Dengue״ ,Hội đồng khoa học công nghệ Sở Y tế, Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ, tr 26

12 Thống kê bệnh viện nhi Đồng Cần Thơ (2003-2005)

13 Thulkar S, Sharma S, Srivastava DN, Sharma SK, Berry M, Pandey RM (2000),

״Sonographic findings in grade III dengue hemorrhagic fever in adults״ ,J Clin Ultrasound, 28, p 34-37

14 Võ Thịnh và cs (2001), ״Mối tương quan giữa dấu hiệu siêu âm và độ nặng lâm sàng trong sốt xuất huyết״ ,Kỹ Yếu hội Nghị Nhi Khoa Khu Vực phía Nam lần IV, Bệnh viện Nhi đồng I –

Tp Hồ Chí Minh, tr 146-153

Ngày đăng: 31/12/2022, 20:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w