Trong bài báo Những cuộc tranh luận về tự do báo chí, C.Mác cho rằng, chế độ dân chủ Phổ chỉ được thể hiện trong lời lẽ ba hoa của các đại biểu không có quyền quyết định những vấn đề qu
Trang 1
TIỂU LUẬN:
VỀ VIỆC TẠO RA BƯỚC CHUYỂN MẠNH
MẼ TRONG XÂY DỰNG NỀN ĐẠO ĐỨC
MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 2Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tự nó đã đòi hỏi một nền đạo đức mới tương thích Vì thế, cùng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế thị trường, việc chủ động xây dựng nền đạo đức mới là một phương diện của sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay Tuy nhiên, trong thời gian qua, những nỗ lực của chúng ta nhằm thực hiện nhiệm vụ này vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn Mặc dù “nhiều nét mới trong giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành Tính năng động và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá nhân được khuyến khích”(1), nhưng, như nhận định mới đây nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội X, hiện nay “tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”(2) Chính vì vậy, một trong các nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 là “tạo chuyển biến mạnh trong việc xây dựng văn hoá, đạo đức và lối sống”(3)
Để tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng đạo đức, cần phân tích một cách khách quan sự biến động của đạo đức trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị
Trang 3đó, các chuẩn mực đạo đức, không kể tốt, xấu, lạc hậu hay tiến bộ, đang đan xen lẫn nhau; mỗi thứ có một phạm vi, một đối tượng điều chỉnh riêng Đồng thời, trong điều kiện toàn cầu hoá, sự xâm nhập của các giá trị, các chuẩn mực đạo đức bên ngoài cũng là một yếu tố góp phần làm phức tạp thêm đời sống đạo đức của xã hội
ta hiện nay Bởi vậy, nếu không tính hết tính phức tạp của quá trình chuyển đổi này
để có những giải pháp thích hợp thì hiệu quả của công tác xây dựng đạo đức sẽ không cao
Thứ hai, cần tính đến tác động có tính hai mặt của thước đo giá trị thích ứng với kinh tế thị trường Kinh tế thị trường (dù là định hướng xã hội chủ nghĩa) luôn chịu
sự chi phối của quy luật giá trị Dưới tác động của quy luật giá trị, hiệu quả kinh tế hoặc lợi nhuận là thước đo giá trị cao nhất, sự thành đạt của một chủ thể kinh tế, dù
đó là doanh nghiệp hay một con người kinh tế cụ thể Sự hình thành và khẳng định một cách phổ quát thước đo giá trị này trong hoạt động kinh tế là cần thiết Nó kích thích việc huy động tối đa các nguồn lực tự nhiên và xã hội vào sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Tuy nhiên, khi chi phối
Trang 4
kinh tế - lĩnh vực hoạt động căn bản nhất của xã hội, thước đo giá trị thông qua lợi nhuận, hiệu quả tất sẽ thâm nhập vào các lĩnh vực khác của xã hội và tạo ra hiệu ứng có tính hai mặt đối với việc đánh giá giá trị nhân cách con người
Việc coi trọng hiệu quả hoạt động kinh tế như thước đo giá trị nhân cách sẽ không chỉ kích thích con người hoạt động một cách có hiệu quả nhằm khẳng định giá trị nhân cách, mà còn làm cho hoạt động, lao động của con người có ý nghĩa thiết thực hơn Giá trị nhân cách cũng như đạo đức được đo và bảo đảm bằng hoạt động có hiệu quả, do vậy, nó trở nên thiết thực hơn, khắc phục được tính chất “nói suông” vẫn ít nhiều thể hiện trong đạo đức truyền thống, đặc biệt là đạo đức của thời bao cấp Đây là đòi hỏi của kinh tế thị trường, nó quy định xu hướng tích cực của sự biến đổi giá trị đạo đức
Tuy vậy, khi tuyệt đối hoá hiệu quả và do đó, tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân thì thước
đo giá trị lại bị biến đổi theo hướng tiêu cực Trong trường hợp này, tinh thần trọng
nghĩa, khinh lợi của đạo đức truyền thống bị thay thế giản đơn bằng thước đo trọng lợi khinh nghĩa Đây chính là cơ sở của sự phát triển chủ nghĩa cá nhân trong điều
kiện hiện nay, là nguyên nhân của “không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển…”(4) Nếu không chú ý một cách đầy đủ sự chuyển đổi theo chiều hướng tiêu cực này về mặt thước đo giá trị và khắc phục nó một cách có hiệu quả thì công tác xây dựng đạo đức cũng không thể có được hiệu quả cao
Thứ ba, quá trình đổi mới khởi đầu và dựa trên sự đổi mới trong lĩnh vực kinh tế
Thực chất của sự đổi mới này là điều chỉnh lại quan hệ lợi ích xã hội thông qua sự
đa dạng hoá các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định sự hiện diện và quyền tồn tại của 3 chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài(5)
Sự hình thành nhiều chủ thể lợi ích như vậy, ở mức độ nhất định, là một trở ngại,
một thách thức đối với việc xây dựng hình tượng nhân cách lý tưởng vốn là thành tố
không thể thiếu của đời sống đạo đức xã hội Nó biểu trưng cho trình độ và khát
Trang 5
vọng về sự hoàn thiện nhân cách của một xã hội, một thời đại nhất định Đồng thời,
nó là động lực, là phương tiện để rèn luyện, giáo dục đạo đức Chẳng hạn, người quân tử với nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, với ý chí “giàu sang không thể mua chuộc, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” là một hình tượng nhân cách lý tưởng của đạo đức phong kiến phương Đông Người cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lên trên hết
là hình tượng nhân cách lý tưởng của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Hình tượng nhân cách lý tưởng của đạo đức cách mạng từng giữ vai trò định hướng giá trị rất hiệu quả trước thời điểm đổi mới Nhưng ngày nay, trong bối cảnh quá độ của đạo đức, với sự hình thành nhiều chủ thể lợi ích xã hội, hình tượng nhân cách lý tưởng đó đã không còn sức hấp dẫn mãnh liệt và phổ quát như trước nữa Thay vào
đó, sự “thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn…”(6) đang là một thực tế gây phản cảm về mặt đạo đức trong nhân dân, tác động tiêu cực đến việc xây dựng hình tượng nhân cách lý tưởng Nhận thức đầy đủ sự nghiêm trọng, những căn nguyên của tình trạng này và trên cơ sở đó, khắc phục nó một cách có hiệu quả là một trong những yêu cầu của việc xây dựng đạo đức trong điều kiện hiện nay
Giáo dục đạo đức cũng là một vấn đề nổi cộm trong điều kiện hiện nay Nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống đạo đức, là phương thức trực tiếp để hình thành nhân cách con người Tính quy định của các điều kiện kinh tế – xã hội đối với đạo đức, bằng cách này hay cách khác, bao giờ cũng được thể hiện qua giáo dục Chính vì vậy, ngay từ thời cổ đại, các nhà quản lý xã hội đã chú ý đến việc giáo dục đạo đức nhằm hình thành nhân cách con người theo những chủ đích nhất định Có thể nói, giáo dục đạo đức cũng chính là một hình thức biểu hiện của đời sống đạo đức xã hội Hiệu quả của giáo dục đạo đức là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ đạo đức xã hội
Hiện nay, không ai nghi ngờ về vai trò của giáo dục đạo đức trên bình diện lý luận; nhưng thực tế, trong những năm qua, việc triển khai công tác giáo dục đạo đức ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Giáo dục còn xa rời thực tế, nội
Trang 6
dung chung chung và sáo mòn, hình thức đơn điệu Giáo dục đạo đức trong gia đình
bị xem nhẹ Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức chưa đồng bộ và có hiệu quả; chưa kết hợp tốt giữa giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật… Đánh giá tình trạng này, Đại hội Đảng lần thứ X nhấn mạnh: “Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống còn chung chung, kém hiệu quả”(7) Theo chúng tôi, những vấn đề nêu trên là những vấn đề căn bản nhất mà việc đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức hiện nay phải tính đến Điều cần chú ý là, bản thân quá trình chuyển đổi kinh tế, những biến động của xã hội trong quá trình chuyển đổi kinh tế đều có những tác động mang tính hai mặt tới đạo đức Bởi thế, vấn đề đặt ra không chỉ là xác định và tập trung giải quyết những mắt khâu trọng yếu, mà còn phải đặc biệt chú ý đến những tác động có tính hai mặt của những biến động ấy; từ
đó, xác định và thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm phát huy những tác động tích cực, khắc phục triệt để các tác động tiêu cực đến đạo đức hiện nay
Sự phân tích những biến động trên cho thấy, để đẩy mạnh việc xây dựng có hiệu quả nền đạo đức mới với tính cách mục tiêu và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, theo chúng tôi, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp căn bản dưới đây:
Trước hết, cần xác lập nhanh và vững chắc cơ sở khách quan của đạo đức mới Đó
là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiền đề quan trọng hàng đầu của việc xây dựng đạo đức là sự xác lập thể chế kinh tế của xã hội Đạo đức mới chỉ có thể hình thành và phát triển ổn định trên một cơ sở kinh tế vững chắc Nền đạo đức truyền thống của dân tộc ta dựa trên nền kinh tế tự túc Sau khi xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa, cơ sở kinh tế của đạo đức là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mang nặng tính hiện vật Từ năm 1986, thể chế cũ đang từng bước được thay thế bằng thể chế mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sau 20 năm đổi mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta mới bước đầu được xác lập Hơn thế, việc xây dựng thể chế kinh tế đó đang
“… còn nhiều vướng mắc và chưa thật đồng bộ… Quản lý nhà nước đối với từng loại thị trường còn nhiều bất cập Một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm”(8) Chính điều đó dẫn đến sự rối loạn trong điều chỉnh đạo đức như đã nói ở trên; đồng
Trang 7
thời, là một trong những nguyên nhân của tình trạng suy thoái đạo đức, đặc biệt là ở đội ngũ những người có chức, có quyền Do vậy, đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ của kinh tế,
mà còn là nhiệm vụ cơ bản, giải pháp cơ bản trong xây dựng đạo đức hiện nay
Cùng với yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới làm cơ sở để đánh giá và điều chỉnh đạo đức có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Vai trò chế ước về mặt quy phạm của đạo đức phải dựa trên các chuẩn mực phân định đúng – sai, thiện - ác, được các thành viên trong xã hội nhận thức và thừa nhận rộng rãi thì mới có thể thực hiện được Thực chất của sự chuyển đổi đạo đức là sự chuyển đổi về giá trị và chuẩn mực Trên bình diện giá trị, xây dựng đạo đức mới tức là xác định và hình thành những giá trị và chuẩn mực đạo đức mới Nhưng, những giá trị và chuẩn mực này lại bị quy định bởi hệ giá trị và chuẩn mực phổ quát của xã hội
Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới đối với đạo đức, nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ở khu vực Đông Nam
Á (những quốc gia đang đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá xã hội) đã xây dựng bảng
giá trị tinh thần quốc gia làm cơ sở tinh thần và định hướng cho phát triển nói
chung, cho phát triển đạo đức nói riêng
Ở nước ta, ngay từ năm 1996, tại Đại hội VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi việc “hình thành hệ giá trị và chuẩn mực mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại”(9) là một trong những nhiệm vụ của xây dựng văn hoá nói chung, xây dựng đạo đức nói riêng Hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới này sẽ phản ánh, điều chỉnh một cách hài hoà quan hệ giữa lợi ích chung của xã hội và các loại lợi ích đa dạng khác do sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế tạo ra Đó chính
là cơ sở để hình thành nên những giá trị, những chuẩn mực đạo đức mới trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể, các quan hệ cụ thể giữa người và người Tuy nhiên, cho
đến nay, chúng ta vẫn chưa xác định được một cách cụ thểhệ giá trị và chuẩn mực
xã hội của đất nước Bởi vậy, xúc tiến việc xác định và chủ động, tích cực giáo dục
hệ giá trị và chuẩn mực xã hội là một yêu cầu, một giải pháp cơ bản của công tác xây dựng đạo đức hiện nay
Trang 8
Một trong những yêu cầu của việc xây dựng đạo đức hiện nay là chuyển hoá lý
tưởng đạo đức thành thực tiễn đạo đức Xây dựng đạo đức xã hội chủ nghĩa theo tư
tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu lý tưởng của chúng ta; nhưng, nếu không xác định được những cách thức hữu hiệu để biến lý tưởng thành hiện thực thì hiệu quả công
tác xây dựng đạo đức sẽ không cao Như chúng ta đã biết, dư luận xã hội có vai trò
to lớn trong việc chuyển hoá các giá trị, các chuẩn mực đạo đức thành thực tiễn đạo đức; bởi vậy, cần chú trọng đề xướng và hướng dẫn dư luận về các giá trị, các chuẩn mực cần được xây dựng Dư luận vừa là cơ chế kiểm tra, giúp các thành viên của xã hội đánh giá các hiện tượng đạo đức và tự đánh giá những hành vi của mình; vừa là cơ chế để phổ quát hoá các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, làm cho đạo đức mới thâm nhập sâu rộng vào quảng đại quần chúng, nghĩa là chuyển hoá lý tưởng đạo đức thành hiện thực đạo đức
Cùng với điều đó, tăng cường nêu gương hình tượng nhân cách đạo đức thông qua
những con người cụ thể là rất cần thiết Sự nêu gương này cần được chú trọng đối với cán bộ, đảng viên, những người được rèn luyện nhiều về đạo đức, những người được giao trọng trách của xã hội Cần yêu cầu và khuyến khích sự nêu gương, sự ràng buộc ở họ lý tưởng và các nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoá trong điều kiện hiện nay để quần chúng đông đảo học tập và tiếp nhận, làm cho
lý tưởng đạo đức chuyển hoá thành thực tiễn đạo đức Bên cạnh đó, cũng cần thiết khích lệ việc nêu gương để giáo dục lẫn nhau trong tất cả các thành viên của xã hội
Về vai trò của hình thức này, trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh; hơn thế, Người còn tạo ra một phong trào quần chúng rộng rãi - học tập gương người tốt, việc tốt, coi đó như một biện pháp thiết thực để giáo dục đạo đức trong phạm vi toàn xã hội
Đạo đức tuy được sinh thành trong dư luận, được hướng dẫn nhờ nêu gương, nhưng muốn cho nó thực sự trở thành quy phạm để xã hội có thể tiếp thu rộng rãi thì cần được cụ thể hoá Trong điều kiện hiện nay, để chuyển hoá từ lý tưởng thành hiện thực, cần xác định và giáo dục các chuẩn mực đạo đức cụ thể Bên cạnh các nguyên tắc, các chuẩn mực chung của đạo đức xã hội, cần xác định và giáo dục các chuẩn mực đạo đức gia đình, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức môi trường… Do tính đặc thù
Trang 9
của mình, mỗi lĩnh vực đạo đức đều có những chuẩn mực riêng phản ánh yêu cầu của lĩnh vực đó; đồng thời, chúng là sự cụ thể hoá các nguyên tắc, các chuẩn mực chung của xã hội Sự lĩnh hội, nội tâm hoá các chuẩn mực cụ thể của các lĩnh vực hoạt động người là điều kiện để con người ứng xử về mặt đạo đức trong các tình huống đạo đức cụ thể Thực tiễn đạo đức xã hội chính là tổng thể của các hoạt động
cụ thể của toàn bộ các thành viên của xã hội, được điều chỉnh bởi ý thức đạo đức; trong đó, cốt lõi là các chuẩn mực đạo đức cụ thể Ở nước ta hiện nay, đạo đức gia đình, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức môi trường chưa được quan tâm đúng mức cả ở tầm xã hội, lẫn ở tầm ý thức cá nhân của mỗi con người Bởi vậy, công tác xây dựng đạo đức hiện nay cần phải quan tâm hơn nữa đến các lĩnh vực đạo đức cụ thể
và quan trọng này
Có thể coi những tình huống nêu trên là những tình huống vấn đề quan trọng nhất của đạo đức và công tác xây dựng đạo đức hiện nay Chủ động và tích cực giải quyết những tình huống đó sẽ tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, có tính đột phá trong việc xây dựng nền đạo đức mới của chúng ta r
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Trưởng phòng Đạo đức học và Mỹ học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ năm khoá
VIII Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.42
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.172 – 173, 187
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khoá VIII Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 46
(5) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.83
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam Sđd., tr.263 – 264
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam Sđd., tr.269
Trang 10
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd., tr.168
(9) Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.113
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA C.MÁC QUA THỰC TIỄN ĐẤU TRANH TRÊN BÁO CHÍ NHỮNG NĂM 1842 - 1843
Hoàng Đình Cúc (*)
Khẳng định bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa và từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật qua thực tiễn đấu tranh trên báo chí của ông trong những năm 1842 – 1843, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải một số cống hiến lý luận, luận điểm triết học được C.Mác trình bày trong các tác phẩm báo chí của ông Đó là tư tưởng về mối quan hệ lẫn nhau giữa triết học, tôn giáo và chính trị, về lợi ích kinh tế của các giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp
và giữa các giai cấp với nhà nước, về khía cạnh vật chất trong đời sống xã hội
Những năm 1842 - 1843 được coi là giai đoạn thứ hai trong sự hình thành tư tưởng triết học của C.Mác Đây là thời kỳ C.Mác hoạt động cho “Báo sông Ranh” V.I.Lênin coi các bài viết của C.Mác cho Báo sông Ranh là cột mốc đánh dấu bước chuyển biến của ông từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa Nghiên cứu sự hình thành những tư tưởng triết học của C.Mác ở thời kỳ này được nhiều người quan tâm, bởi đây được coi là thời kỳ quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển triết học Mác Không chỉ thế, nghiên cứu tư tưởng triết học của C.Mác ở thời kỳ này còn có
ý nghĩa đấu tranh chống lại sự xuyên tạc của một số nhà triết học duy tâm cố thổi phồng những luận điểm chưa chín muồi trong các tác phẩm thời trẻ của C.Mác để
“chứng minh” cho lập luận không đúng rằng có sự “đối lập” giữa C.Mác thời trẻ và C.Mác khi trưởng thành; rằng, chủ nghĩa Mác trước 1848 là “chân chính”, còn chủ nghĩa Mác sau 1848 đã “bị bóp méo” v.v
Trang 11
Điểm giống nhau giữa C.Mác và phái Hêghen cánh tả là đều xuất phát từ Hêghen
và đều rút ra những kết luận cách mạng từ triết học Hêghen Thế nhưng, hai quá trình đó lại khác hẳn nhau Các kết luận mà những đại biểu Hêghen cánh tả đưa ra
là kết quả sự tiến triển theo lôgíc của triết học Hêghen Những suy luận của họ dựa trên các tài liệu lịch sử được xem xét qua “kính tam lăng” của triết học Hêghen, mặc dù triết học này lôgíc hơn các hệ thống triết học duy tâm khác Còn C.Mác, khác hẳn với phái Hêghen cánh tả, theo cách nói của Ph.Ăngghen, đã xuất phát từ những “sự kiến bướng bỉnh”, nghĩa là nghiên cứu hiện thực khách quan theo quan điểm cách mạng và đối lập với toàn bộ triết học Hêghen
Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động và chuyển biến tư tưởng qua thực tiễn đấu tranh trên báo chí của C.Mác là bài đăng trên Tạp chí Biên niên Đức, ngày
10 – 2 – 1842 - Nhận xét bản chỉ thị mới nhất về chế độ kiểm duyệt của Phổ
Những yêu sách cách mạng của C.Mác trong cuộc đấu tranh bảo vệ tự do báo chí khác hẳn với các yêu sách của phái dân chủ tư sản Đức Trong bài viết này, C.Mác
đã vạch rõ pháp lệnh về chế độ kiểm duyệt của chính phủ Phổ dựa trên quan niệm
về sự bất bình đẳng giữa các giai cấp; đồng thời chỉ rõ tình trạng quan liêu, lộng hành và hành động không dựa vào tiêu chuẩn khách quan trong đội ngũ viên chức nhà nước, khi họ được Nhà nước đặt lên vị trí cao nhất trong một xã hội đã bị tước quyền tự do sử dụng báo chí Từ đó, C.Mác đã rút ra kết luận rằng, cách chữa trị căn bệnh này một cách có hiệu nghiệm và triệt để là thủ tiêu nó, bởi bản thân chế độ kiểm duyệt đó là vô dụng(1) Những quan điểm của C.Mác trong bài viết này về tự
do báo chí cũng khác hẳn với quan điểm của Hêghen Tuy C.Mác không nói đến Hêghen, nhưng lập trường của ông so với lập trường của Hêghen đã có sự khác nhau sâu xa về vấn đề tự do báo chí Hêghen coi tự do báo chí là cái có thể chấp nhận được, nếu nó không trái với lợi ích nhà nước Dĩ nhiên, ở đây, Hêghen không nói tới nhà nước chung chung, mà chỉ nói tới nhà nước “hiện thực” và “hợp lý”, tức
là nhà nước Phổ Hêghen đã biện hộ và bảo vệ chế độ chính trị của nhà nước cảnh sát Phổ Ngược lại, C.Mác đòi phải có tự do báo chí và cho rằng, việc nhà nước hạn chế quyền này là không phù hợp với quan niệm về tự do và đó chẳng qua chỉ là một thứ bạo lực tinh thần Những tư tưởng dân chủ cách mạng do C.Mác trình bày trong
Trang 12
bài viết này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cũng như
sự chuyển biến tư tưởng của ông
Sự phát triển tư tưởng dân chủ cách mạng của C.Mác diễn ra trong thời kỳ ông trở thành biên tập viên và đóng vai trò là linh hồn của “Báo sông Ranh” Nói về hoạt động của C.Mác thời kỳ này, V.I.Lênin cho rằng, qua những bài viết đăng trên “Báo sông Ranh”, “ta thấy Mác chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản”(2)
Trong bài báo Những cuộc tranh luận về tự do báo chí, C.Mác cho rằng, chế độ dân
chủ Phổ chỉ được thể hiện trong lời lẽ ba hoa của các đại biểu không có quyền quyết định những vấn đề quan trọng; rằng sự bất đồng ý kiến ở Hội nghị dân biểu khoá 6 tỉnh Ranh đã cho thấy thái độ của các giai cấp về một vấn đề chính trị quan trọng là tự do báo chí; rằng việc hạn chế tự do báo chí là một mối nguy hại cho văn hoá nhân loại; rằng chế độ kiểm duyệt chỉ xác nhận tự do của một nhóm người có đặc quyền nhưng lại chuyên chế đối với nhân dân Nguyên nhân của sự bóp nghẹt
tự do báo chí là do chế độ nhà nước Phổ, do chính sách của chính phủ Phổ nhằm bảo đảm đặc quyền cho một bộ phận của xã hội Từ thực tiễn đó, C.Mác kết luận rằng, để có tự do báo chí thực sự, để báo chí trở thành của nhân dân thì phải giải phóng báo chí khỏi chế độ kiểm duyệt, bao hàm cả kiểm duyệt tinh thần lẫn kiểm duyệt vật chất, tức là những phương tiện tài chính Muốn vậy, theo ông, quyền đại diện của nhân dân trong nghị viện phải được đặt lên hàng đầu và lợi ích của toàn thể xã hội cần phải được thừa nhận trong nghị viện, bởi nhân dân các địa phương
“đòi hỏi… tiếng nói của đại biểu các đẳng cấp phải biến thành tiếng nói công khai, đâu đâu cũng nghe được”(3).C.Mác khẳng định: Không thể có đời sống chính trị tự
do nếu không có quyền đại diện của nhân dân, quyền đó cũng cần thiết cho con người Quan điểm này cho thấy, ngay trong bài báo đó, C.Mác đã xa rời triết học Hêghen và khi đối lập với quan điểm của Hêghen về nhà nước, ông coi nhà nước Phổ
là một chế độ bóp nghẹt quyền tự do và do vậy, ông đòi phải có quyền đại diện của nhân dân như là điều tất yếu của tự do
Trong các bài báo được viết ở thời kỳ này, C.Mác còn đưa ra tư tưởng về mối quan
hệ lẫn nhau giữa triết học, tôn giáo và chính trị Ông cho rằng, triết học, nếu muốn
Trang 13
tìm ra chân lý phải gắn bó mật thiết với cuộc sống, phải chuyển từ tháp ngà đóng kín của các loại chủ nghĩa sang vũ đài chính trị rộng lớn; rằng bất cứ triết học chân chính nào cũng đều là “tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình”, nên phải có lúc triết học tiếp xúc và tác động qua lại với thế giới hiện thực trong thời đại của mình không những bằng nội dung, mà cả bằng hình thức của mình và khi đó, triết học sẽ
“trở thành triết học nói chung đối với thế giới, trở thành triết học của thế giới hiện đại”(4)
Các vấn đề chính trị, theo C.Mác, phải được xem xét theo quan điểm triết học chứ không thể theo quan điểm tôn giáo, bởi trí tuệ trần gian, tức triết học, có quyền quan
tâm đến vương quốc của trần gian đó, đến nhà nước, hơn là “tìm đếnlý luận của thế
giới bên kia, đến tôn giáo”(5) Ngay ở thời kỳ này, C.Mác đã thấy rõ sự liên hệ giữa
tôn giáo và chính trị, đã nhận thức được rằng, trong những nhà nước hiện đại, tôn giáo là “tôn giáo của phe thống trị”, “là sự sùng bái ý chí của chính phủ” và do vậy, nhiệm vụ của triết học là phải giải phóng chính trị khỏi thần học và xây dựng nên một khoa học chính trị chân chính C.Mác cho rằng, điều hoà khoa học với tín ngưỡng là từ
bỏ khoa học, còn Hêghen thì lại coi tín ngưỡng và khoa học, về bản chất, không tách rời nhau, chúng cùng thể hiện một nội dung nhưng dưới những hình thức khác nhau: khoa học là sự biểu hiện của “tinh thần tuyệt đối”, tín ngưỡng cũng biểu hiện tinh thần
đó nhưng dưới dạng không hoàn hảo
Việc xác định lập trường đó đã làm cho C.Mác khác với những người thuộc phái Hêghen trẻ vốn coi việc tuyên truyền cho chủ nghĩa vô thần và những lời lẽ trống rỗng là mục đích hoạt động của họ Trong khi các đại biểu của phái Hêghen trẻ chỉ phê phán tôn giáo một cách trừu tượng và luận giải chủ nghĩa cộng sản một cách nông cạn, thì C.Mác đòi hỏi sự phê phán tôn giáo phải gắn liền với phê phán chính trị, bởi không thể xoá bỏ được tôn giáo, nếu không xoá bỏ được những cơ sở tồn tại của nó Về chủ nghĩa cộng sản, tuy lúc đó C.Mác chưa thừa nhận, nhưng ông cũng
đã biết đến nó qua các hình thức lúc bấy giờ của nó(6) Khi lưu ý đến hiện tượng
“có ý nghĩa châu Âu” như vậy, C.Mác cho rằng, chúng ta “không thể căn cứ vào ảo tưởng hời hợt trong chốc lát để phê phán, mà chỉ có thể phê phán sau một sự nghiên cứu cần cù, sâu sắc”(7)
Trang 14
Như vậy, có thể nói, ngay từ thời kỳ hoạt động đầu tiên, C.Mác đã gắn liền một cách chặt chẽ cuộc đấu tranh tư tưởng với đấu tranh chính trị thực tiễn, bởi với ông, lý luận không phải là mục đích tự nó, mà là một công cụ của cuộc đấu tranh cách mạng
Trong các bài báo được viết ở thời kỳ này, C.Mác cũng đã đề cập đến lợi ích kinh tế của các giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp và quan hệ của các giai cấp với nhà nước
Trong Những cuộc tranh luận về luật cấm trộm củi rừng, C.Mác cho rằng, những ý
kiến phân tích ở Nghị viện về các vụ “ăn cắp gỗ” và việc định ra những biện pháp trừng trị đã phản ánh lợi ích của chế độ tư hữu Theo ông, cách đề cập vấn đề như vậy là phiến diện, bởi pháp luật không xuất phát từ động cơ chủ quan, mà từ tính chất khách quan của hành động Để bảo vệ quyền lợi của “quần chúng nghèo khổ bị tước đoạt về mặt xã hội và chính trị”, C.Mác đã chứng minh rằng, theo phép biện chứng của hình thức và nội dung thì đặc quyền về mặt pháp lý và khái niệm về pháp luật “hợp lý” là không phù hợp với nhau trong bất cứ trường hợp nào; rằng quyền của bọn có đặc quyền không thể tạo thành nội dung của pháp luật C.Mác cho rằng,
“xét theo nội dung của chúng, những quyền theo tập quán của quý tộc chống lại
hình thức của luật pháp chung Chúng không thể được đúc thành hình thức pháp luật, vì chúng là sự phi pháp đã hình thành,… vì vậy,… chúng cần được xoá bỏ”(8) Điều kiện của sự thống nhất giữa hình thức và nội dung của pháp quyền “hợp lý”, theo C.Mác, là pháp quyền này phải biểu hiện các quyền của những người vô sản dưới hình thức pháp luật Pháp quyền chỉ thể hiện thành pháp luật, khi nội dung của
nó không trái với hình thức pháp luật Đặc quyền về mặt pháp lý chính là sự biểu hiện của sự phi pháp Do vậy, sự hợp pháp hoá các quyền của giai cấp thống trị đã xác nhận sự phân biệt giữa hình thức và nội dung của pháp luật Cơ sở để C.Mác khẳng định cần phải giải phóng người lao động và thiết lập sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của pháp luật là những lợi ích về mặt pháp lý của con người dựa trên lợi ích kinh tế của họ, là sự hình thành những quan hệ xã hội khác nhau trên cơ
sở của những quan hệ sở hữu Theo C.Mác, những người có sở hữu riêng luôn đặt lợi ích của họ lên trên hết và lên trước hết, bởi với họ, “lợi ích tự coi mình như là mục đích cuối cùng của thế giới”(9)
Khi phân tích các buổi thảo luận ở Nghị viện để ban đặc quyền cho bọn chủ rừng,
Trang 15
C.Mác đã chứng minh rằng, nhà nước Phổ chẳng qua chỉ là kẻ bảo vệ cho bọn có sở hữu, là công cụ bảo vệ cho những lợi ích tư nhân không hợp pháp và do vậy, nhà nước đó là không “hợp lý”, bởi “toàn bộ chế độ nhà nước, vai trò của các cơ quan hành chính, – tất cả những cái đó đều phải vượt ra ngoài quỹ đạo của mình, tất cả những cái đó đều bị hạ thấp tới mức làm vai trò công cụ của chủ rừng; lợi ích của chủ rừng phải là tinh thần chỉ đạo cho toàn thể bộ máy”(10)
Không chỉ thế, việc phân tích khía cạnh vật chất của đời sống xã hội còn mở ra cho C.Mác một triển vọng mới - chuyển sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản
Trong bài Lời bào chữa của phóng viên ở Môden C.Mác không chỉ vạch trần bản
chất nhà nước Phổ và khẳng định không nên tìm nguyên nhân cùng khổ của nông dân ở bên ngoài phạm vi hoạt động của nhà nước, mà còn chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng cùng khổ của nông dân là do nhà nước chỉ duy nhất phục vụ cho lợi ích của các giai cấp thống trị, trong khi đó thì những người lao động, về nguyên tắc, không có chút khả năng để tự vệ Chủ nghĩa quan liêu thống trị trong nhà nước như vậy, theo ông, là kết quả tất yếu của việc quần chúng nhân dân bị tước đoạt tất cả các quyền Với quan niệm này, C.Mác đòi hỏi nhà nước phải phục vụ quốc gia chứ không phải quốc gia phục vụ nhà nước
Trong vấn đề này, nếu Hêghen cho rằng nhà nước Phổ là “hợp lý” và cần thiết, thì với C.Mác, sự “hợp lý” và cần thiết ấy phải được xem xét theo tiêu chuẩn của những yêu cầu dân chủ cách mạng; nếu Hêghen coi nhà nước là cơ sở của xã hội công dân, thì C.Mác tìm cơ sở của các quan hệ chính trị trong đời sống kinh tế và
xã hội, tức là trong xã hội công dân Chính những vấn đề cụ thể này đã giúp C.Mác
có cơ hội nghiên cứu một cách sâu sắc, nghiêm túc hơn các quan hệ kinh tế Ông viết: Trong những năm 1842 – 1843, “lần đầu tiên tôi phải nói lên ý kiến của mình
về cái gọi là lợi ích vật chất và điều đó đã làm tôi lúng túng”, nhưng chính “những cuộc tranh luận về tự do buôn bán và thuế quan bảo hộ lần đầu tiên thúc đẩy tôi nghiên cứu những vấn đề kinh tế”(11)
Qua thực tiễn đấu tranh trên báo chí những năm 1842 - 1843, tư tưởng dân chủ cách mạng ở C.Mác đã có được những nội dung xác định hơn Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa ở ông tuy chưa hình thành, song đây là hiện tượng mà ông cho là cần phải
Trang 16
được nghiên cứu sâu sắc để kết luận về nó Thế giới quan triết học của C.Mác lúc này tuy chưa hoàn toàn là duy vật, song bằng việc phê phán chính quyền nhà nước Phổ, ông đã nhận thấy quan hệ khách quan quyết định hoạt động của nhà nước không phải như Hêghen đã trình bày mà ngược lại, “xã hội công dân” mà Hêghen rất coi khinh mới là lĩnh vực trong đó cần tìm ra chiếc chìa khoá để hiểu quá trình phát triển lịch sử của nhân loại.r
(*)Tiến sĩ, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.1 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
ĐÁNH GIÁ CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT HỌC L.PHOIƠBẮC QUA “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”
LÊ CÔNG SỰ (*)
Mặc dù đánh giá cao L.Phoiơbắc, song C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định triết học nhân bản của L.Phoiơbắc còn nhiều hạn chế cần phải phê phán Cụ thể là: 1/L.Phoiơbắc đã xem xét con người một cách trừu tượng, con người phi giai cấp, phi lịch sử và tách biệt khỏi cơ sở tồn tại hiện thực của nó; 2/ Ông không thấy được
Trang 17
sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài động vật khác bắt đầu từ hành vi sản xuất vật chất; 3/ L.Phoiơbắc không lý giải một cách duy vật về nguồn gốc của ý thức và tư duy của con người; 4/ Ông đã dành chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thần học khi cho rằng, động lực của lịch sử là sự thực hiện những khát vọng cá nhân và lịch sử nhân loại là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức tôn giáo
Vấn đề con người đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học của I.Cantơ (1724 – 1804), các quan niệm về con người mới được trình bày dưới dạng một học thuyết triết học
với tên gọi nhân học (anthropology) Tiếp thu những giá trị tư tưởng của I.Cantơ và dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, L.Phoiơbắc (1804 –
1872) có tham vọng thiết lập một nền triết học mới – “triết học tương lai”, lấy con
người và đời sống tâm – sinh lý của con người làm đối tượng Ông viết: “Triết học mới biến con người, kể cả giới tự nhiên với tư cách là nền tảng của con người, thành đối tượng duy nhất, phổ biến, cao nhất của triết học, do đó mà cũng biến nhân bản học, kể cả sinh lý học thành khoa học phổ quát”(1) “Triết học mới” đó có sứ mệnh cao cả là giúp con người: 1) Nhận diện chính mình như con đẻ của giới tự nhiên; 2) Nhận ra chân giá trị của cuộc sống, nhằm 3) Nỗ lực phấn đấu cho hạnh phúc ngay trong thế giới trần gian Để thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng đó,
L.Phoiơbắc đã thiết kế một đồ án cải cách triết học Trong các tác phẩm như Bản
chất của Kitô giáo (1841), Những luận điểm dự thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Những nguyên lý của triết học tương lai (1843), Về bản chất đạo Cơ đốc (1845), Những bài giảng về bản chất của tôn giáo (1848 – 1849), ông đã khai mở
hướng đi mới cho các nhà triết học hậu thế, đó là truy tìm bí mật của triết học ngay trong giới tự nhiên và con người L.Phoiơbắc khẳng định: “Hãy quan sát giới tự nhiên và con người, bạn sẽ thấy trong đó những bí mật của triết học”(2) và “Quan điểm của tôi chỉ có thể biểu đạt trong hai từ: Giới tự nhiên và con người”(3) Với cách đặt vấn đề như vậy, ông đi sâu vào nghiên cứu bản chất con người, bắt đầu từ việc truy tìm mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, giữa tư duy và tồn tại, giữa người và người để rồi từ đó, đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa người và thần
L.Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là sản phẩm của Thượng đế như các
Trang 18
nhà thần học quan niệm, cũng không phải là “sự tha hoá” của “ý niệm tuyệt đối”
như Hêghen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên Theo ông, giới tự nhiên là ánh
sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật, là con người, bởi vì con người là một thực thể hoạt động; trong đó, con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên Khi giải thích sự khác biệt căn bản giữa loài người
và loài vật là gì, L.Phoiơbắc viết: “Đó là sự khác nhau trong ý thứcđúng với nghĩa
chân chính của từ này… Bởi ý thức theo nghĩa chính xác chỉ có ở chỗ, khi chủ thể
có khả năng nhận thức được loài của mình, bản chất của mình Động vật nhận thức mình như một cá thể; nó chỉ làm chủ được quá trình tự cảm giác mà thôi, chứ không phải như một loài… bởi vậy, động vật sống đơn giản một mình, còn con người sống
có bạn Đời sống nội tâm của con vật hoà đồng với thế giới bên ngoài, còn con người sống với cả hai chiều: nội tâm và thế giới bên ngoài”(4)
Mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh quan hệ giữa thế giới vô cơ
và thế giới hữu cơ, phản ánh tiến trình tiến hoá của sự sống theo nghĩa thế giới vô
cơ là tiền đề, là nền tảng của mọi sự sống nói chung, của đời sống con người nói riêng Con người chỉ có thể tồn tại trong giới tự nhiên, trong sự tiếp xúc với thế giới khách quan bên ngoài nó; thế giới này quy định sự tồn tại và phát triển của các giác quan con người, chứ không phải ngược lại như chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định L.Phoiơbắc lập luận rằng, ánh sáng tồn tại không phải để cho con mắt nhìn,
mà con mắt tồn tại bởi vì có ánh sáng, tương tự như vậy, không khí tồn tại không phải để cho con người hít thở, mà con người hít thở bởi vì có không khí, bởi vì, nếu không có không khí thì sẽ không có sự sống; rằng, có sự tồn tại một mối quan hệ tất yếu giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ và đó chính là cơ sở, là bản chất của sự sống
Từ việc quan sát hình thể bên ngoài cũng như mọi hoạt động lao động sản xuất, hoạt động tinh thần của con người, L.Phoiơbắc cho rằng, bản chất con người là một cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy) Sự thống nhất này đảm bảo cho sự sống của con người có thể tồn tại và phát triển như một sinh vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật Sai lầm của chủ nghĩa duy tâm là toan tính thủ tiêu sự thống nhất đó của con người, tách rời tư duy con người khỏi tồn tại của nó, biến tư duy thành một thực thể siêu tự nhiên có khả
Trang 19
năng sáng tạo nên thế giới vật chất Còn sai lầm của nhị nguyên luận là đánh đồng
tư duy và tồn tại, coi chúng như những thực thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau - đó
là sự khẳng định vòng vo, lối nói nửa vời, tách đôi trái ngược (5)
Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm cũng như của nhị nguyên luận trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, L.Phoiơbắc khẳng định rằng, “quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là: tồn tại – chủ thể (sujective), tư duy – thuộc tính (prelicate) Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy…, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại, tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý… bản chất của tồn
tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên (6) Tại sao tồn tại là
chủ thể, còn tư duy là thuộc tính của chủ thể đó? Để trả lời câu hỏi này, theo
L.Phoiơbắc, chúng ta cần sự giúp sức của sinh lý học và câu trả lời là: “Con người chỉ có thể suy nghĩ nhờ đầu óc tồn tại cảm tính của mình, lý tính có cơ sở cảm tính vững vàng trong đầu óc, trong bộ não, trong sự tập trung của các giác quan” và
“Tinh thần là sản phẩm có sau và hơn nữa là sản phẩm của trí tưởng tượng và trừu tượng, tinh thần phát triển cùng với thể xác, với con người nói chung; tinh thần liên quan với cảm giác, với đầu óc, với các giác quan của cơ thể”(7)
Sau khi luận chứng và khẳng định tồn tại là chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, L.Phoiơbắc đã tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên – sinh học của con người “Bản chất chung của con người là gì? Những nhân tính cơ
bản trong con người là gì? Đó là lý tính, ý chí và trái tim Con người hoàn thiện có
năng lực tư duy, sức mạnh ý chí và nguồn lực tình cảm Năng lực tư duy chính là ánh sáng của nhận thức, sức mạnh của ý chí chính là năng lượng của tính cách, nguồn lực tình cảm chính là tình yêu… Trong ý chí, tư duy và tình cảm luôn chứa
đựng bản chất tối cao, tuyệt đối của con người và mục đích tồn tại của nó…
con người tồn tại để nhận thức, yêu thương và mong muốn Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí, của tình yêu là… để làm cho con người trở thành người tự do”(8) Với luận điểm này, ông muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị, mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên – sinh học trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của con người
Mọi mong muốn chính trị, khát vọng tự nhiên của con người, theo quan điểm của
Trang 20
L.Phoiơbắc, không phải xuất phát từ tư tưởng thuần tuý, mà chúng phản ánh đời sống hiện thực và do đời sống đó quy định Đây là luận điểm mới so với đương thời, nhấn mạnh điều kiện sinh hoạt vật chất quy định suy nghĩ và tư tưởng của con người Tuy nhiên, L.Phoiơbắc chưa có khả năng nhìn nhận con người với tư cách một cá thể của loài, một thành viên xã hội, mà chỉ mới dừng lại ở con người cụ thể Theo ông, “tính cá thể đã bao quát toàn bộ bản chất con người, bản chất con người chỉ có một - đó là bản chất cá thể”(9)
Nhấn mạnh tính cá thể của con người, song L.Phoiơbắc cũng hé mở một ý tưởng cho rằng, trong quá trình sống, con người giao tiếp với những người khác, với cộng đồng xã hội Do tiếp xúc với xã hội mà “từ một tồn tại thuần tuý vật lý, con người trở thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên, tồn tại đó chỉ quan tâm đến bản thân mình”(10) Quan niệm con người là một tồn tại
xã hội vốn có từ triết học của Arixtốt, nhưng L.Phoiơbắc đã vượt lên trên quan niệm này khi đưa vào đời sống con người những phạm trù mới, như tự do, nhân cách, luật pháp “Con người – L.Phoiơbắc viết – là một tồn tại của tự do, tồn tại có nhân cách, tồn tại của luật pháp Chỉ có trong con người thì “cái Tôi” của Phíchtơ, “cái đơn tử” của Lépnít, “cái Tuyệt đối” của Hêghen mới được bén rễ”(11) Với ông, những “cái Tôi”, “cái đơn tử”, “cái Tuyệt đối” đó mới chỉ là xuất phát điểm, là nền tảng vật lý – sinh lý của con người Vấn đề quan trọng hơn là bản chất đích thực của con người, tức là những yếu tố quy định sự tồn tại của nó với tư cách một sinh thể
có tính loài, hay nói theo cách của C.Mác, là tính xã hội của con người Bởi vì “khi con người sinh ra từ giới tự nhiên, nó mới chỉ là một sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ không phải là người… Con người là sản phẩm của văn hoá và của lịch sử”(12) và chỉ trong mối quan hệ xã hội thì con người mới là con người với ý nghĩa đầy đủ của từ này
Từ việc khẳng định con người là sản phẩm của văn hoá, của lịch sử, L.Phoiơbắc đưa ra quan điểm cho rằng, ích kỷ không chỉ mang tính cá nhân như các nhà đạo đức học trước ông tuyên bố, mà còn mang tính xã hội “Không chỉ có một tính ích
kỷ đơn độc hay là tính ích kỷ cá nhân, - L.Phoiơbắc viết, - mà còn có một tính ích
kỷ xã hội, một tính ích kỷ của gia đình, của tập thể, của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước Tất nhiên, tính ích kỷ là nguyên nhân của mọi điều ác, nhưng cũng là
Trang 21
nguyên nhân của mọi điều thiện; bởi vì không có cái gì khác ngoài tính ích kỷ đã tạo nên sự chiếm hữu ruộng đất, nên thương nghiệp, cũng vì tính ích kỷ mà có nghệ thuật, có khoa học,… tính ích kỷ ngăn cấm trộm cướp, dối trá, hạn chế ngoại tình”(13) Nhận xét về quan điểm mới này của L.Phoiơbắc, V.I.Lênin cho rằng, đây
là “phôi thai của chủ nghĩa duy vật lịch sử”(14) Tiến xa hơn một bước nữa,
L.Phoiơbắc coi tính ích kỷ của con người như là một động lực thúc đẩy sự phát
triển của lịch sử xã hội Ông viết: “Trong lịch sử, một thời đại mới bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ chỗ, đông đảo quần chúng bị áp bức đưa ra tính ích kỷ chính đáng của mình chống lại tính ích kỷ cực đoan của thiểu số người khác… tính ích kỷ của đa số nhân loại đang bị áp bức phải và sẽ thực hiện quyền của mình và mở ra một thời đại lịch sử mới… không thể để cho thiểu số người là cao thượng, có tài sản; còn số khác
là thấp hèn, là chẳng có gì Tài sản phải có ở tất cả mọi người”(15) Những lời lẽ có tính tuyên chiến với xã hội tư bản này được L.Phoiơbắc nói ra vào thời điểm lịch sử
khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảncủa C.Mác và Ph.Ăngghen mới ra đời đã phần
nào phản ánh tư tưởng xã hội chủ nghĩa của ông
Quan niệm coi con người vừa như một cá thể chứa đầy tham vọng cá nhân, vừa như
một sản phẩm của văn hoá và lịch sử là cơ sở lý luận để L.Phoiơbắc xem xétmối
quan hệ giữa người và thần L.Phoiơbắc cho rằng, việc nghiên cứu nguồn gốc và
bản chất của tôn giáo phải xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất của con người và đời sống hiện thực của nó Yếu tố quan trọng hàng đầu tạo tiền đề cho sự xuất hiện tôn giáo đó là trạng thái tâm lý của con người Đối với ông, Thượng đế không phải
là thực thể sinh lý hay thực thể vũ trụ, mà chỉ là một thực thể tâm lý Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu
xa của tôn giáo, tất cả chúng không phải là hiện tượng có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm, mà có tính khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội L.Phoiơbắc khẳng định: “Tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người, nhưng trong giấc mơ đó, chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất – trong vương quốc của hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế giới thực tế của tính tất yếu,
mà là trong thế giới say mê của trí tưởng tượng và sự kỳ quặc Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học tư biện hay thần học, chuyển
Trang 22
thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến đối tượng tưởng tượng thành đối tượng hiện thực”(16)
Dựa trên việc phân tích nguồn gốc phát sinh của tôn giáo, L.Phoiơbắc kết luận:
“Không phải Thượng đế đã sáng tạo nên con người theo hình dáng của mình như đã
miêu tả trong Kinh Thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên Thượng đế theo hình dáng của mình… Mọi Thượng đế đều là tồn tại được sáng tạo nên bằng trí
tưởng tượng… Chính sức mạnh của trí tưởng tượng đã hướng vào những tính chất
cơ bản của con người Con người u sầu, ốm yếu phản ánh tâm trạng của mình trong hình ảnh một Thượng đế tương tư, con người vui vẻ thì ngược lại, họ miêu tả Thượng đế với bộ mặt tươi tỉnh, sáng ngời Tính đa dạng của con người quy định tính đa dạng của Thượng đế(17) Như vậy, có thể nói, L.Phoiơbắc đã truy tìm bản chất của tôn giáo trong bản chất của con người Ông viết: “Bản chất thần thánh không là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện
thực, được khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ Bởi vậy, mọi sự xác định về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản
chất con người”(18)
L.Phoiơbắc lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng, dường như phủ định Thượng đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức Ông cho rằng, tôn giáo đã xoá nhoà ranh giới quan hệ giữa người với người, đưa con người thoát khỏi hạnh phúc trần gian; rằng, đạo đức và tôn giáo, niềm tin và tình yêu là những cái đối lập nhau Theo L.Phoiơbắc, tình yêu đồng loại có thể loại trừ sự kính
Chúa và ngược lại Bởi vậy, để có một xã hội tốt đẹp thì phải tiến hànhcải cách tôn
giáo Quan điểm về cải cách tôn giáo được L.Phoiơbắc trình bày khá rõ trong đoạn
kết của Những bài giảng về bản chất của tôn giáo: “Thưa các bạn, bằng những lời
này, tôi kết thúc các bài giảng của mình, tôi mong muốn rằng sẽ đạt được nhiệm vụ
đã đặt ra trong các bài giảng này, mà chính là từ bạn của Thượng đế trở thành bạn của con người, từ những tín đồ trở thành người duy lý, từ những người luôn cầu nguyện Thượng đế rủ lòng thương trở thành người lao động, từ những nghiên cứu sinh ở thế giới bên kia trở thành những người nghiên cứu viên ở thế giới trần gian,
từ những tín đồ Kitô giáo theo sự thừa nhận, theo ý thức của chính họ, là “nửa súc
Trang 23
vật, nửa thiên thần” trở thành những con người hoàn thiện”(19) Cũng có thể coi
luận điểm này là bức thông điệp hoà bình của ông gửi đến các thế hệ mai sau với ngụ ý rằng, con người trước hết phải thương yêu nhau thực sự ở ngay chốn trần gian, bởi đây mới là những tình yêu chân chính theo đúng nghĩa của từ này
Quan niệm về con người trong triết học L.Phoiơbắc như đã trình bày ở trên, theo đánh giá của A.G.Spirkin, “chính là điểm xuất phát cho những lập luận của C.Mác
về con người và bản chất con người”(20) Bởi vì, bằng những quan niệm đó, người
mở đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm khách quan, “đưa một cách không úp
mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua” và khẳng định một cách dứt khoát rằng, “tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta – bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng”(21) Có thể nói, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn đánh giá cao triết học của L.Phoiơbắc nói chung, chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng; tự thừa nhận là môn đồ và chào đón quan điểm mới đó của ông một cách nhiệt thành
Tuy đánh giá cao L.Phoiơbắc, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhận thấy rằng, triết học nhân bản của L.Phoiơbắc còn có nhiều hạn chế, nhiều điều bất ổn cần phải
phê phán, chỉnh sửa từ cách nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng.Trong Hệ tư
tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dành hẳn một chương để bàn về triết học
L.Phoiơbắc; trong đó, các ông chỉ rõ hạn chế cơ bản, bao trùm toàn bộ triết học
nhân bản của L.Phoiơbắc là việc tách rời lịch sử khỏi chủ nghĩa duy vật và đây là
nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các hạn chế mang tính chất hệ quả khác, cụ thể là:
Thứ nhất, L.Phoiơbắc đã xem xét con người một cách trừu tượng, con người phi
lịch sử, phi giai cấp, nghĩa là xem xét con người với tư cách một cá nhân thuần tuý, biệt lập, tách khỏi cơ sở tồn tại hiện thực của nó – phương thức sản xuất
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, so với các nhà duy vật “thuần túy”, L.Phoiơbắc đã có
ưu điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là “hoạt động cảm giác được” Tuy nhiên, hạn chế lớn của ông là không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt hiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế Nghĩa là, L.Phoiơbắc không bao giờ
Trang 24
tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại
ở một sự trừu tượng Ở ông, con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ đóng khung trong tình cảm thôi và hoàn toàn không biết đến những “quan hệ con người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá Thực tế, L.Phoiơbắc đã không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại và cũng “không
bao giờ hiểu được rằng, thế giới cảm giác được là tổng số nhữnghoạt động sống và
cảm giác được của những cá nhân họp thành thế giới ấy” C.Mác và Ph.Ăngghen
đã đưa ra kết luận rằng, “Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập tới lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở L.Phoiơbắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau”(22)
Trung tâm thế giới quan mới do C.Mác và Ph.Ăngghen đặt nền móng là chủ nghĩa duy vật về lịch sử Theo các ông, con người không phải bước ra từ sâu thẳm của giới tự nhiên thành một sinh thể tự nhiên phổ quát như L.Phoiơbắc nhận định, mà
nó trở thành như vậy trong tiến trình lịch sử Con người khác với động vật trước hết không phải bởi nó có ý thức, tư duy như L.Phoiơbắc nói, mà bởi sự bắt buộc phải lao động sản xuất nhằm tạo ra cho mình các phương tiện sống Trong quá trình sản xuất đó, con người khám phá ra sức mạnh của tự nhiên, chuyển nó thành lực lượng lao động xã hội, tạo nên nội dung của lịch sử thế giới Sự khám phá đó được tiến hành bởi các cá nhân có những nhu cầu tự nhiên – xã hội xác định và những năng lực hoạt động của họ trong phạm vi những hình thái kinh tế – xã hội được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác Với nghĩa như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen viết:
“Những tiền đề xuất phát của chúng tôi, không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống Vì vậy, điều cụ thể đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên”(23)
Dựa trên tiền đề xuất phát đúng đắn đó, C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của nhân cách Theo các ông, sự phân công lao động là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử xã hội loài người dẫn tới sự hình thành nhân
Trang 25cá nhân”(24) Như vậy, sự tồn tại của mỗi cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng,
vì đây là môi trường sống, môi trường hoạt động, môi trường sản xuất của chính cá nhân Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội giống như mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thù, cái ngẫu nhiên với cái chung, cái phổ quát – tất yếu, trong đó yếu tố xã hội đóng vai trò quyết định Nếu không hiểu mối quan hệ biện chứng này thì dễ rơi vào quan điểm duy tâm, siêu hình – không hiểu thực chất của tính đa dạng trong đời sống xã hội Với nghĩa như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Những cá nhân luôn luôn xuất phát từ bản thân mình – dĩ nhiên là xuất phát từ những cá nhân
ở trong khuôn khổ những điều kiện và quan hệ lịch sử nhất định, chứ không phải xuất phát từ cá nhân “thuần tuý” như những nhà tư tưởng vẫn hiểu Nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử – và chính là do trong điều kiện phân công lao động, những quan hệ xã hội tất yếu biến thành một cái gì đó độc lập, - xuất hiện sự khác biệt giữa đời sống của mỗi cá nhân trong chừng mực đó là đời sống cá nhân với đời sống của người đó trong chừng mực đời sống ấy phụ thuộc vào một ngành lao động nào đó và vào những điều kiện liên quan với ngành lao động đó”(25) Do không hiểu được mối quan hệ giữa đời sống của mỗi cá nhân với đời sống của xã hội nói chung, đặc biệt là sự phân công lao động, nên “quan niệm của L.Phoiơbắc về thế giới cảm giác được chỉ giới hạn một mặt ở sự ngắm nhìn thế giới đó và mặt khác, ở cảm giác đơn thuần L.Phoiơbắc nói “con người với tính cách là con người”, chứ không nói “con người lịch sử, hiện thực”, “con người với tính cách là con người”(26)
Thứ hai, L.Phoiơbắc chỉ nhìn thấy sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài
động vật khác về phương diện nhận thức mà không thấy rằng, sự khác biệt đó được bắt đầu từ hành vi sản xuất vật chất
Đây là một hạn chế mang tính phổ biến của chủ nghĩa duy vật trước Mác, mà điển
Trang 26
hình là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc xem xét lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống Hành động lịch sử đầu tiên của những cá nhân đó, hành động mà
nhờ đó họ khác với loài vật, không phải là việc họ tư duy mà là việc họ bắt đầusản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho họ… Có thể phân biệt con người với
súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản
thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể con
người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”(27) Theo đó, sự khác biệt giữa con người và con vật về phương diện tư duy như quan niệm của L.Phoiơbắc chỉ là sự khác biệt mang tính phái sinh mà thôi, còn nguyên nhân cơ bản của sự khác biệt đó nằm ngay trong đời sống vật chất của con người
Thứ ba, L.Phoiơbắc không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa đời sống vật
chất và đời sống tinh thần, chính vì vậy, ông không thể lý giải được một cách duy vật quá trình bộ óc của con người sản sinh ra ý thức và tư duy như thế nào
Phê phán quan điểm này của L.Phoiơbắc, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định một cách dứt khoát rằng, “sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con người – ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực Ở đây, những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của các quan hệ vật chất của họ… Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm,
ý niệm, v.v của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của những sự giao tiếp đó”(28) Như vậy, chúng ta thấy rằng, giữa L.Phoiơbắc và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác có sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về con người L.Phoiơbắc cho rằng, tư duy, ý thức là sản phẩm trực tiếp, tất yếu của bộ óc con người C.Mác và Ph.Ăngghen không phủ nhận ý kiến này, song các ông đi một bước xa hơn khi nhấn mạnh rằng, “những cá nhân nhất định,
Trang 27
hoạt động sản xuất theo một phương thức nhất định, đều nằm trong những quan hệ
xã hội và chính trị nhất định”(29), do vậy, tư duy, ý thức còn là sản phẩm của những mối quan hệ đó, là sự phản ánh sinh động đời sống xã hội Từ đó, có thể kết luận rằng, “những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”(30)
Thứ tư, “hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người”, L.Phoiơbắc đã đi đến
kết luận duy tâm rằng, động lực vận động của lịch sử xã hội là sự thực hiện những khát vọng cá nhân, mà cụ thể là tính ích kỷ của con người; còn lịch sử nhân loại chính là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức tôn giáo
Với kết luận như trên, L.Phoiơbắc đã dành cho chủ nghĩa duy tâm và thần học nơi
ẩn nấp khá an toàn Nghiên cứu quá trình vận động của lịch sử xã hội loài người từ thời cổ đại đến đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy rằng, lịch sử không phải là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức tôn giáo, mà là sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội và động lực của lịch sử chính là đấu tranh giai cấp Các ông khẳng định: “Không phải sự phê phán mà cách mạng mới là động lực của lịch
sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác Quan niệm đó chỉ ra rằng lịch sử không kết thúc bằng việc tự quy thành “Tự ý thức”, coi đó là “Tinh thần của tinh thần”, rằng mỗi giai đoạn của lịch sử đều gặp một kết quả vật chất nhất định, một tổng số nhất định những lực lượng sản xuất”(31) Như vậy, lịch sử không phải được thực hiện bằng các khát vọng cá nhân mà lịch sử chính là một quá trình hiện thực vật chất, vì “sự biến đổi lịch sử thành lịch sử toàn thế giới không phải là hành
vi trừu tượng nào đó của “tự ý thức”, của tinh thần thế giới hay của một con ma siêu hình nào đó, mà là một hành động hoàn toàn vật chất, có thể kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm, một hành động mà mỗi cá nhân - đúng như cá nhân đó đang tồn tại trong đời sống thực tế, đang ăn uống và mặc quần áo, - đều là một bằng chứng”(32)
Sau khi phê phán những hạn chế như đã nêu trên trong triết học L.Phoiơbắc, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã phát biểu một cách tổng quát quan niệm duy vật lịch sử của mình: “Triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới
NHẬN THỨC LẠI VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG KỶ NGUYÊN
Trang 28ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân; 3/ Có tính khoa học cao Để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận
Ngày nay, tốc độ phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật, tính đa phương trong sự giao tiếp của các nền văn hoá ngày càng được hệ thống hoá; sự phát triển ngày càng mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng đã làm giảm đáng kể những hạn chế trong giao tiếp về không gian và thời gian Tất thảy các nhân tố đó và những nhân tố khác đã làm xuất hiện một loạt vấn đề toàn cầu; đến lượt mình, những vấn đề này đã làm biến đổi một cách căn bản hoàn cảnh sống của nhân loại Đó là những vấn đề nảy sinh từ những mâu thuẫn của hình thức vận động xã hội, cũng như từ những điều kiện tồn tại toàn vẹn của chúng trong một chỉnh thể thống nhất
về không gian và thời gian Nhận thức những vấn đề toàn cầu với tư cách hệ quả nảy sinh do sự tác động của những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và văn hoá - xã hội đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu - sự phản ánh những đặc trưng riêng của loài người về tồn tại xã hội Và, để có được ý thức toàn cầu như là quan niệm và nhận thức mới về thế giới ở trình độ hệ tư tưởng, đòi hỏi phải có những nỗ lực lớn của từng quốc gia, khu vực và toàn thế giới
Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá đối với các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam, có thể nói, ngày càng rõ rệt, đặt ra cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực cả thuận lợi lẫn thách thức Để nhận thức đúng đắn quá trình đó, các nước
Trang 29
cần phải điều chỉnh ý thức cá nhân, cũng như ý thức xã hội của dân tộc mình, trước hết là ý thức chính trị, thậm chí phải cải tạo cả những thể chế chính trị của mình ở khả năng và phạm vi có thể cho phù hợp với đòi hỏi của xu thế toàn cầu hoá, hình thành nên những quan điểm mới về an ninh quốc tế và chủ quyền quốc gia, áp dụng một cách uyển chuyển các chuẩn mực luật pháp quốc tế vào đời sống xã hội Việt Nam cũng cần phải chủ động xây dựng cho mình ý thức toàn cầu để khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, con người Việt Nam có đủ năng lực ứng xử và cùng nhân dân thế giới giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề toàn cầu đã, đang và sẽ tiếp tục nảy sinh
Ý thức là trạng thái của đời sống tâm lý con người, nó được biểu hiện trong trải nghiệm chủ quan về các sự kiện của thế giới bên ngoài và của đời sống từng cá nhân Triết học cận đại đã xác định ý thức như là tự ý thức, tức là quá trình mà ở
đó, cái Tôi nhận ra sự liên đới trực tiếp của mình với tri thức về thế giới Nói cách khác, khi con người tiếp cận được với cả thế giới bên ngoài lẫn bản thân nó trong ý thức, thì ý thức đó được gọi là tự ý thức Các nghiên cứu về ý thức hiện đại trong lĩnh vực triết học, trong tâm lý học cũng như trong các khoa học khác
về con người đã chỉ ra rằng, “cái Tôi cá nhân là sản phẩm văn hoá - lịch sử và vì thế, sự thống nhất của ý thức mà cái Tôi đó tạo ra không phải là thứ sẵn có từ trước Không phải sinh học, không phải những đặc thù về hoạt động của bộ não, cũng không phải trạng thái tâm lý quy định sự thống nhất của ý thức Sự thống nhất đó bị quy định bởi cái Tôi với tư cách chủ thể có trách nhiệm trước hoạt động
và hành vi của mình Vì vậy, sự thống nhất của ý thức với cái Tôi được xây dựng trong những điều kiện văn hoá - lịch sử cụ thể Tình hình văn hoá và xã hội hiện nay là mối hiểm hoạ đối với sự thống nhất của cái Tôi và ý thức”(1)
Ý thức, trước hết, mang tính cá nhân, song trong ý thức bao giờ cũng có nội dung
mà mọi người, hoặc cao hơn là các nhóm xã hội, đều có Khi các nhu cầu, mục đích, của các cá nhân, cộng đồng xã hội nào đó định hướng vào nội dung ý thức của một chủ thể xác định thì đó là lúc bộc lộ sự đồng tâm và đồng tư tưởng giữa các chủ thể Theo văn cảnh như vậy thì ý thức không còn mang tính cá nhân, mà mang tính xã hội
Trang 30
Ý thức xã hội là yếu tố cần thiết cho sự hoạt động của các nhóm xã hội riêng biệt cũng như của toàn thể xã hội Mặt khác, toàn bộ hệ thống xã hội chỉ có thể hoạt động một cách ổn định khi nội dung của ý thức xã hội, trên một quy mô lớn, được tái tạo thường xuyên và phù hợp với hệ thống đó Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, ý thức của một cộng đồng xã hội xác định không thể không tái tạo, biến đổi cho phù hợp với đòi hỏi của xu thế tất yếu khách quan – sự giao lưu và hội nhập
Sự tái tạo và cấu trúc lại ý thức xã hội của một nhóm, một dân tộc tất yếu phải là
sự bứt phá của ý thức xã hội đó ra khỏi phạm vi hạn hẹp trước đây để trở thành ý thức toàn cầu
Vậy, ý thức toàn cầu có những nét đặc trưng nào?
Thứ nhất, điểm chủ yếu của ý thức toàn cầu phản ánh uy thế của các giá trị toàn
nhân loại vượt lên trên các giá trị của khu vực, dân tộc và giai cấp Ở đây, cần làm rõ nội hàm của giá trị để chỉ ra giá trị toàn nhân loại
Theo Từ điển bách khoa thư triết học xuất bản năm 1970 của Liên Xô, tập 5, mục
từ “Giá trị”, thì “giá trị là khái niệm dùng để chỉ, một là, ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của một khách thể nào đó, không xét theo tính hiện sinh và mặt phẩm chất của nó, (tức là những giá trị mang tính vật thể); hai là, phương diện chuẩn mực, đánh giá mang tính định trước về các hiện tượng của ý thức xã hội (tức những giá trị chủ quan) Các giá trị vật thể gồm: cái tốt và cái xấu của tự nhiên, thuộc của cải thiên nhiên và sự tàn phá tự phát; giá trị tiêu dùng của các sản phẩm lao động (nói chung là những gì cần thiết, có lợi cho cuộc sống); mặt tốt và mặt xấu của xã hội thuộc các hiện tượng xã hội; ý nghĩa tiến bộ hoặc phản động của các sự kiện lịch sử; di sản văn hoá của quá khứ biểu hiện dưới dạng tài sản của thế hệ đương đại; ý nghĩa của chân lý khoa học; cái thiện và cái ác của đạo đức trong hoạt động của con người; những đặc trưng thẩm mỹ của các khách thể tự nhiên và xã hội cũng như của các tác phẩm nghệ thuật Các giá trị chủ quan gồm: những thiết định xã hội, những mệnh lệnh và cấm đoán, các mục đích và dự án được phản ánh dưới hình thức các quan niệm chuẩn mực (về thiện và ác, công bằng, đẹp và xấu, về ý nghĩa của lịch sử và vai trò của con người trong việc xác định lý tưởng, chuẩn mực, nguyên tắc hành động)
Trang 31
Định nghĩa này đã gây ra sự tranh luận mà mục đích của các cuộc tranh luận là nhằm làm chính xác hoá khái niệm “giá trị” Vấn đề đặt ra là: 1/ Nếu giá trị mang tính hai mặt, thì giá trị toàn nhân loại là gì? 2/ Có phải ý nghĩa nào cũng trở thành giá trị?
Dù đứng trên lập trường nào đi nữa thì những hiện tượng diễn ra trong đời sống
xã hội, như cái ác, sự mất công bằng xã hội hoặc phản động chính trị, đều bị xem
là phản giá trị Trong đời sống xã hội, đôi khi một hiện tượng diễn ra đối với dân tộc này là ác, nhưng đối với dân tộc khác, khu vực khác lại là cái lợi, và ngược lại, khi xem xét cái thiện cũng phải đặt nó trong mối tương quan như vậy Cho nên, việc xác định thế nào là giá trị không thể xuất phát từ cái có ý nghĩa nói chung, mà phải xét từ lợi ích toàn nhân loại, liên quan đến sự tồn tại của toàn thể loài người và sự phát triển bền vững của nó, tức là đến tiến bộ xã hội Chúng tôi cho rằng, một định nghĩa về giá trị được chấp nhận phổ biến là định nghĩa xuất phát từ ý nghĩa tích cực, chứ không phải từ ý nghĩa mang tính nhị nguyên của giá trị Tuy nhiên, dù bằng cách nào đi nữa thì ý nghĩa tiêu cực vẫn tiếp tục tồn tại và
ý thức toàn cầu, hơn bao giờ hết, phải có trách nhiệm định hướng giá trị cho toàn thể nhân loại vì chính sự tồn tại của nhân loại Giá trị toàn nhân loại là giá trị phổ biến nhất mà mỗi cá nhân con người, mỗi dân tộc trên hành tinh này phải trân trọng, nó phải được đặt lên trên giá trị dân tộc, khu vực
Nếu bỏ qua điểm này thì ý thức toàn cầu sẽ mất đi giá trị của nó Tuy nhiên, dù
có tạo ra được ý thức toàn cầu đi chăng nữa thì cộng đồng thế giới vẫn là một cộng đồng đa sắc tộc và những mâu thuẫn nảy sinh từ tính đa sắc tộc đó không bao giờ được giải quyết một cách triệt để Vấn đề là ở chỗ, làm thế nào để những mâu thuẫn đó không trở thành những xung đột, đe doạ cuộc sống của nhân loại trên toàn hành tinh
Đặt giá trị toàn nhân loại lên trên các giá trị dân tộc, khu vực thể hiện lý tưởng và mục đích cao cả của cuộc sống con người Song, thực hiện việc đó không phải
dễ, thậm chí có vẻ là ảo tưởng trong một thế giới đầy sự phức tạp như hiện nay Ngay cả những nước phát triển, luôn kêu gọi thực hiện những vấn đề nhân văn, như nhân quyền… vẫn không tỏ ra thiện chí khi tham gia vào việc giải quyết
Trang 32
những vấn đề toàn cầu Thêm nữa, sự đụng độ chính trị và kinh tế giữa các cường quốc vẫn tiếp tục diễn ra; mâu thuẫn gay gắt giữa phương Bắc và phương Nam đang có nguy cơ biến thành sự xung đột nguy hiểm; sự căng thẳng trong quan hệ giai cấp và chủng tộc ở nhiều nước, nhiều khu vực đang tồn tại Ý thức toàn cầu không thể thủ tiêu được những mâu thuẫn khách quan đó mà cùng lắm, chỉ gạt nó sang một bên để đảm bảo sự hợp tác trên tinh thần xây dựng của tất cả các nước
và các dân tộc trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu đang đe doạ toàn thể loài người
Một khi trong quan niệm của mọi người về thế giới mà mình đang có mặt ở đó như
là ngôi nhà chung, thì những mâu thuẫn khách quan luôn xuất hiện, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí và ý thức của họ Song, điều chắc chắn mà mọi người trên hành tinh này có thể làm được là cùng nhau khắc phục những mâu thuẫn đó, tìm ra
sự thống nhất và tốt nhất, là tìm đến tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn
đề toàn cầu
Nguyên lý “thà cả thế giới chết hết, còn hơn để mất sự công bằng!” thực tế bị tước đi ý nghĩa nhân văn; bởi vì, sự công bằng, suy cho cùng, là để cho mọi người, vì con người Tuy nhiên, khi thế giới đang bị các mối hiểm hoạ đe doạ như hiện nay, việc tuân thủ nguyên lý đó lại trở thành phạm tội Công bằng cũng như mọi phạm trù khác có mặt trong đời sống xã hội chỉ mang tính tương đối Tuyệt đối hoá nó, đề cao nó hơn cả vận mệnh của loài người là điều phi nhân tính, phi nhân văn Trước hết, phải cứu lấy thế giới theo đúng nghĩa của nó – có thể nó là công bằng hoặc chưa được công bằng lắm, chỗ này đẹp còn chỗ khác lại xấu Đó chính là nhiệm vụ quan trọng mà ý thức toàn cầu phải đảm nhận Theo nghĩa đó mà gần đây, người ta gọi ý thức toàn cầu là tư duy chính trị mới Nói tóm lại, ý thức toàn cầu cần phải trở thành đại chúng, chứ không phải chỉ có ở các nhà chính trị chuyên nghiệp
Thế giới là một chỉnh thể hữu cơ; vì vậy, không thể bỏ qua một hành động bất thiện dù nhỏ, giản đơn của một cá nhân tưởng chừng không ảnh hưởng gì đến người khác và rộng hơn là đến quy mô toàn cầu Đó là hành động liên quan đến quan hệ của con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với xã hội, giữa các
Trang 33
cộng đồng, v.v
Thứ hai, ý thức toàn cầu đòi hỏi phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự
ý thức của từng dân tộc và quốc gia, kể cả trong sự tự ý thức của cá nhân con người Trạng thái tâm lý chính trị vũ trụ, cảm giác mình là công dân của thế giới vốn bị nhạo báng trước đây, thậm chí còn bị tẩy chay, thì ngày nay, đã trở thành yếu tố hữu cơ của văn hoá chính trị
Chính vì vậy mà mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể đã có một bước tiến triển mới, trở thành giá trị của văn hoá xã hội mà con người lấy nó làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của mình Như vậy, ưu thế của chủ nghĩa tập thể toàn cầu ngày càng được khẳng định, nó đi ngược lại với chủ nghĩa cá nhân từng thống trị ở các quốc gia và các dân tộc Và, điều không thể khác được là để cứu lấy thế giới, sự đoàn kết toàn cầu từ nhân tố của ý thức cần trở thành thực tiễn toàn nhân loại Sự chuyển dịch như vậy phản ánh xu thế đồng hướng của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể Tuy nhiên, trong xu thế đó, không thể có sự chèn ép của tập thể đối với cá nhân
Thứ ba, ý thức toàn cầu được đặc trưng bởi tính khoa học ở trình độ cao Điều
này thể hiện ở chỗ, không thể giải quyết được các vấn đề toàn cầu chỉ giản đơn bằng cách nhờ “tư duy lành mạnh”, nhờ sự né tránh một cách khéo léo những mặt trái có thể xẩy ra trong việc áp dụng những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học Tổ hợp phức tạp các vấn đề toàn cầu chỉ có thể được giải quyết trên cơ
sở sử dụng toàn bộ tổ hợp tri thức khoa học mà ngày nay, đang kết hợp lại thành các ngành đầu mối Cụ thể, ý thức toàn cầu cần phải sử dụng những kết luận quan trọng của các khoa học liên ngành Về phương diện này, có thể đưa ra ba giải pháp sau đây:
Một là, không nên can thiệp vào sự phát triển của các hệ thống tổ chức phức tạp
(chẳng hạn hệ thống “xã hội – tự nhiên”), tốt hơn là cần phải hiểu rằng, tại sao các xu hướng của những hệ thống đó lại diễn ra một cách tự nhiên và làm thế nào
để các hệ thống vận hành một cách suôn sẻ nhất Điều này đã được phản ánh trong tư tưởng triết học của Đạo gia, rằng con người phải tôn trọng, tuân thủ một cách tuyệt đối các quy luật của tự nhiên, coi đó là mệnh lệnh tối cao Tuy nhiên,
Trang 34
chủ trương “vô vi” mà Đạo gia đưa ra không thể áp dụng được cho thế giới hiện đại; bởi vì, trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình, con người đã tiến hành cải tạo tự nhiên vì lợi ích trước mắt và lâu dài Tổng kết lại quá trình hoạt động
đó, con người giờ đây đã nhận thấy cái mất nhiều hơn cái được, đặc biệt xét trong bối cảnh toàn cầu Chính vì vậy, việc tìm hiểu tính tự tổ chức của các hệ thống là nhiệm vụ quan trọng của khoa học hiện đại, nhằm bảo đảm sự đồng hướng và đồng tiến hoá của các hệ thống tổ chức phức tạp nói trên
Hai là, về nguyên tắc, các hệ thống phức tạp luôn có một số đối chọn con đường
phát triển Do đó, sau việc nhận thức và phản bác phương án mà sách khải huyền (Kinh Tân ước về vận mệnh của thế giới và con người, thậm chí là những tiên tri
đề cập đến “ngày tận thế của thế giới”) đưa ra, là khả năng nhận thức việc sử dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tìm cho ra phương án phát triển tiếp theo sao cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của con người và không làm tổn hại đến
tự nhiên Nói cách khác, cần làm thế nào để sự phát triển được duy trì một cách bền vững
Khác với niềm tin tôn giáo, niềm tin khoa học có cơ sở vững chắc là thực nghiệm
và kinh nghiệm Mặt khác, những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại đã cho phép đưa ra các dự báo khá chính xác về nhiều lĩnh vực của các hệ thống tổ chức phức tạp; song, các hệ thống đó có phát triển bền vững theo hướng có lợi cho con người và tự nhiên hay không lại đòi hỏi phải có sự điều chỉnh cách nghĩ, cách làm của con người với tư cách công dân của thế giới đứng trước những vấn
đề toàn cầu đang đặt ra
Ba là, muốn tối ưu hoá các hệ thống phức tạp và điều hành các hệ thống đó thì
không nên dùng sức mạnh, mà phải kiến tạo ra những chuỗi mắt xích tác động: những tác động nhỏ tới các hệ thống phức tạp nhưng chính xác, có tổ chức lại tỏ
ra có hiệu quả Ý thức nói chung và ý thức toàn cầu nói riêng có thể góp phần vào sự tác động nhỏ, nhưng hết sức tinh tế đó ở tính vượt trước, vượt lên trên ý thức cá nhân, ý thức của cộng đồng dân tộc của nó
Từ những nội dung cơ bản nêu trên của ý thức toàn cầu, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, vai trò của triết học trong sự hình thành ý thức
Trang 35
toàncầu là không nhỏ Triết học chính là thế giới quan, là tổng hoà các quan điểm của con người về thế giới nói chung và về mối quan hệ của nó với thế giới đó nói riêng Bản chất của triết học được thể hiện ở những suy tư về các vấn đề phổ biến trong hệ thống “Thế giới – Con người” Từ đó cho thấy, vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu hiện nay thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó – chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận
Chức năng quan trọng nhất trong các chức năng thế giới quan là chức năng nhân
văn Triết học không chỉ giúp con người có những phản tư chính xác về chính
bản thân nó, tức ý nghĩa cuộc sống của nó, và mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh, mà còn định hướng hoạt động cho con người, cho xã hội và cho cả loài người tránh được những sai lầm trong mối quan hệ “xã hội – tự nhiên”
Chức năng thứ hai trong chức năng thế giới quan là chức năng giá trị học – xã
hội Đó là chức năng xây dựng các giá trị, tức là nghiên cứu các quan niệm về giá
trị, như chân, thiện, mỹ, công bằng; từ đó, đưa ra quan niệm về lý tưởng xã hội Nguồn gốc của lý tưởng xã hội, theo P.I.Novogorodxev, một trong những người sáng lập trường phái triết học pháp quyền Mátxcơva đầu thế kỷ XX, là ở nhân
cách sinh động của con người Trong Về lý tưởng xã hội, ông viết: “Một nguyên
tắc đương nhiên của nhân cách cần phải được quy về tư tưởng toàn nhân loại, về tình đoàn kết toàn thế giới… Lý tưởng xã hội có thể xem là nguyên tắc phổ quát của tự do”(2) Theo chúng tôi, đây có thể được xem là quan điểm đúng đắn về vai trò mấu chốt của triết học trong sự hình thành ý thức toàn cầu
Chức năng cơ bản tiếp theo là chức năng văn hoá - giáo dục Đây là chức năng
quan trọng trong việc hình thành nhân cách có văn hoá của con người: sự định
hướng vào cái chân, cái thiện, cái mỹ Triết học giúp con người tránh được sự hời
hợt, thiển cận của loại tư duy thường nhật, hiểu được đúng hơn những mâu thuẫn
và những diễn biến xảy ra trong thế giới để tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó một cách có hiệu quả
Cuối cùng, một trong những chức năng thế giới quan khác cần được đề cập là
chức năng phản ánh - thông tin Một trong những nhiệm vụ quan trọng của triết
học là nghiên cứu thế giới quan trong sự phù hợp của nó với trình độ của khoa
Trang 36
học hiện đại, với thực tiễn lịch sử và những đòi hỏi về mặt trí tuệ của con người Cũng như một khoa học, triết học là một hệ thống thông tin năng động và phức tạp được thiết lập để tập hợp, phân tích và xử lý thông tin với mục đích tìm được thông tin mới
Chức năng phương pháp luận cũng có những phương diện cơ bản liên quan đến
khoa học Đó là chức năng gợi mở, chức năng phối hợp, chức năng liên kết và chức năng lôgíc - nhận thức luận
Bất kỳ phương pháp nào của khoa học cũng có những khả năng lý luận nhận thức
và lôgíc của nó Ngoài các giới hạn của những khả năng đó thì hiệu quả của nó bịsuy giảm hoặc hoàn toàn bị mất Phương pháp luận triết học theo quan hệ với các phương pháp của khoa học cụ thể, có nhiệm vụ thiết lập mối liên hệ lôgíc giữa các nhóm phương pháp Các khoa học cụ thể cần đến lôgíc, nhận thức luận và các phương pháp luận chung của nhận thức Chức năng đó do phép biện chứng với tư cách lôgíc học đảm nhiệm Nó tìm ra các phương tiện cho sự phản ánh một cách đầy đủ, chính xác nhất về bản chất của khách thể đang phát triển và không ngừng biến đổi
Nói tóm lại, tương lai của loài người luôn là vấn đề thế giới quan và phương pháp luận quan trọng, còn dự báo xã hội luôn là mô hình tư tưởng về sự phát triển tiếp theo của loài người, tức là suy tư triết học về tương lai Những luận chứng triết học là cực kỳ quan trọng về tính cần thiết của ý thức toàn cầu Loài người đang đối mặt với những vấn đề toàn cầu bức xúc và do vậy, hơn bao giờ hết, triết học không chỉ là phương tiện đặc biệt, mà còn là sự cổ vũ tinh thần không thể thiếu
Trang 37
ĐÔNG Á VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN
YERSU KIM (*)
Theo tác giả, trước đây, trong nhiều thế kỷ, Đông Á đã đạt được một trật tự văn hoá
có tính phổ quát, dựa chủ yếu vào Nho giáo; trật tự văn hoá ấy mang lại cho khu vực này sự ổn định chính trị và nhiều thành tựu văn hoá Nhưng, vào thời điểm mà các nước khu vực Đông Á lao vào quá trình hiện đại hoá, nền văn minh phương Tây đã đạt đến giai đoạn phát triển rực rỡ Trong sự biến đổi văn minh hiện nay, vai trò quan trọng của triết học, như tác giả quan niệm, là nhận biết các giá trị tham gia vào các nền văn minh chủ yếu, đặc biệt là nền văn minh châu Âu và châu Á; đồng thời, chỉ ra
sự tương đồng của các nền văn hoá - cái có khả năng liên kết những dân tộc, những
xã hội khác biệt
Những nghiên cứu của tôi dựa trên quan điểm về sự thống nhất văn hóa Một nền văn hóa, nếu nó tồn tại và phát triển thì cần phải luôn thích nghi với những tư tưởng, những giá trị của nó, cần phải vận động để hướng tới sự thay đổi cũng như làm thay đổi những hoàn cảnh cụ thể Các nền văn hóa, văn minh của mỗi thời đại, mỗi quốc gia và mỗi dân tộc luôn đấu tranh để tiến tới một sự tổng hòa tối ưu của các ý niệm, các giá trị tốt nhất cho phép chúng giải quyết nhiều vấn đề trong sự tồn tại và phát triển của mình Theo quan điểm lịch sử - cụ thể, xu hướng thống nhất nên được thừa nhận, bởi cả những lý do chủ quan lẫn khách quan, để đạt đến quan điểm tối ưu, một mặt là trạng thái cân bằng có tính chất phản ánh trong quá trình tác động qua lại và trao đổi lẫn nhau giữa các ý niệm và các giá trị; mặt khác, trong sự phản kháng làm thay đổi hiện thực
Tôi nhận thấy rằng, Đông Á, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, đã đạt được một sự thống nhất nhất định Đó là một trật tự văn hóa có tính phổ quát dựa một phần quan trọng vào Nho giáo - học thuyết sùng bái quá khứ để đề xuất một quan điểm riêng về con người và mang ý nghĩa đạo đức trên mọi khía cạnh của con người, tự nhiên và đời sống xã hội loài người Trong nhiều thế kỷ, trật tự văn minh này đã mang đến cho (các nước) Đông Á sự ổn định chính trị và nhiều thành tựu văn hóa Dù là một nền văn minh trẻ đang trong quá trình tạo dựng những thay đổi mạnh mẽ được biết
Trang 38
đến như thời kỳ Phục hưng, Cải cách tôn giáo, thời kỳ Khai sáng, thời kỳ Cách mạng Pháp, Cách mạng công nghiệp và thời kỳ của chủ nghĩa thực dân với sự tăng cường sức mạnh của những lợi ích phổ quát của chúng, Đông Á vẫn không bị ảnh hưởng lớn
từ thách thức của những hiện thực lịch sử ấy, vẫn tin tưởng vào sức mạnh văn hóa của mình một cách triệt để nhất
Không hoàn toàn thu hút được sự quan tâm của mọi người, nhưng “sự đụng độ của các nền văn minh” trong hai thế kỷ qua đã có ảnh hưởng sâu rộng trước khi xảy ra sự kiện tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 Vào năm 1793, Hoàng đế Càn Long nhà Thanh đã chấp nhận sự tiếp kiến của Lord Macartney, một sứ thần của vua George, trong quá trình tìm kiếm, mở rộng buôn bán với Trung Quốc Dưới con mắt của người Trung Quốc, Liên hiệp Anh chỉ đơn thuần là một trong những nước chư hầu xa xôi, nằm trong tầm ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa và họ đã yêu cầu nước Anh phải tuân thủ những nghi thức văn hóa của họ, mà một nghi thức mang tính chất quan liêu trong sự phổ biến văn hóa của người Đông Á là 3 lượt quỳ lạy, mỗi nghi thức phải thực hiện 3 lần
Các bạn đều biết rằng, sự đụng độ đó đã kết thúc bằng một sự thỏa hiệp không có tính thuyết phục trong khoảng thời gian này Sứ thần người Anh kết thúc việc tuân thủ 3 nghi lễ mà không quy thuận như những sứ thần chư hầu khác Nhưng, chúng ta cũng cần phải nhớ rằng, vào khoảng thời gian này, nước Anh đã ở trong giai đoạn đầu tiên của cuộc Cách mạng công nghiệp, nhiệm vụ này đã được tiến hành khoảng hơn 4 năm sau khi Cách mạng Pháp nổ ra và trong nhiều trường hợp, đây được coi là
sự kiện thu nhỏ của quá trình hiện đại hóa châu Âu Khoảng 50 năm sau đó, Liên hiệp Anh đã phát triển mạnh mẽ và đủ sự tráo trở để sử dụng đến sức mạnh quân sự nhằm tăng cường và chú trọng hơn vào lợi ích thương mại của nó Với cái gọi là
“cuộc chiến tranh nha phiến”, Trung Quốc bắt đầu quá trình tụt dốc nhanh chóng, trở thành một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến Nền văn minh Đông Á đã thật sự đối mặt với những thách thức về quyền lợi phổ quát và với nguy cơ đe dọa sự sống còn của mình với tư cách một nền văn minh phát triển
Đột nhiên phải đương đầu với sức mạnh văn minh châu Âu cùng những thách thức đối với sự tồn tại của mình, các quốc gia Đông Á truyền thống đã cố gắng giải quyết
Trang 39
tình trạng của mình theo những cách thức riêng Mặc dù có những khác biệt quan trọng về cách thức cũng như tốc độ giải quyết vấn đề, nhưng đã xuất hiện một mô hình riêng trong cách ứng phó của các quốc gia Đông Á Ban đầu, họ cố gắng huy động mọi nguồn lực trong nước dưới khẩu hiệu “nước cường, quân mạnh” Sau đó, xuất hiện một đề xuất có tính chất cương lĩnh nhằm đạt được mục đích này: cần thiết phải học tập con đường kỹ thuật của phương Tây khi vẫn kiên định lưu giữ những giá trị đạo đức thiêng liêng của phương Đông Rốt cuộc, việc hiện thực hóa dần dần hướng đi “Đạo đức phương Đông và kỹ nghệ phương Tây” hóa ra lại khó hơn người
ta tưởng tượng Người ta có cảm giác rằng, sự tổng hòa văn hóa Nho giáo trong trạng thái nguyên vẹn của nó dường như là không đầy đủ, thậm chí là có hại đối với việc giải quyết những hiện thực lịch sử của thế giới hiện đại được hình thành trên cơ sở của xu hướng tổng hợp mang tính chất phương Tây
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, người ta có thể dễ dàng nhận ra rằng, xu hướng tổng hòa mang tính chất phương Tây đang hướng nhân loại đến cuộc sống vật chất ở một mức độ mà trước đó, người ta không thể hình dung được và sự tồn tại của xã hội với dân chủ, công bằng xã hội và quyền con người đang dần trở thành những chuẩn tắc của xã hội Tính thuyết phục của thế giới phương Tây đã làm cho rất nhiều dân tộc và nhiều xã hội tự nguyện rời bỏ những phong tục tập quán và cách thức sinh sống của mình Mặc dù có những khác biệt về tốc độ và cách thức, nhưng điều này mang ý nghĩa tiếp biến những giá trị và áp dụng xu hướng tổng hợp văn hóa của phương Tây Nền văn minh Đông Á, với sự bỏ rơi vai trò của truyền thống như là sự giáo dục văn minh, đã trở thành một môn đệ tự nguyện của văn minh phương Tây Trong những khoảnh khắc nghi ngờ và dao động, con người dường như chỉ đơn giản hướng về mô thức văn hóa sẵn có, được tạo dựng bởi xu hướng thống nhất phương Tây
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI này, Đông Á, một khu vực của thế giới với 1,6
tỉ người, đã lần nữa trở thành một trong những cực trọng điểm của nền kinh tế thế giới, cùng với châu Âu và Bắc Mỹ Khu vực này cũng đang ngày càng thể hiện rằng,
sự hiện đại hóa ở đây mang dáng dấp rất gần với phương Tây Bởi lẽ, quá trình hiện đại hóa của nhiều nước trong khu vực tương tự như quá trình hiện đại hóa dựa trên
Trang 40
sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên của phương Tây; do vậy, các nước này cũng rất thích hợp để đi theo xu hướng thống nhất mang tính chất phương Tây Xu hướng phát triển không chắc chắn và nhiều khủng hoảng đã thể hiện rõ trong những năm gần đây, đó là một chiều hướng mà các quan niệm và những giá trị hiện tại dường như không thích hợp và phản tác dụng Các quan niệm và những giả định mà dựa vào
đó, xã hội hiện đại được tạo dựng, đang trở nên không tương xứng trong việc giải quyết nhiều vấn đề quan trọng mà con người hiện phải đối mặt, như vấn đề môi trường, sự bất bình đẳng giữa các cá nhân cũng như giữa các quốc gia, sự bóc lột lao động và hậu quả tất yếu của việc tước đoạt mục đích và ý nghĩa của cuộc sống
Vào thời điểm mà khu vực Đông Á lao vào quá trình hiện đại hóa thì nền văn minh phương Tây đã đạt được những thành tựu quan trọng và đang ở trong thời kỳ rực rỡ nhất Hiện nay, mặc dù xu hướng thống nhất của phương Tây dường như không còn
có thể đưa ra một giải pháp chắc chắn cho sự tồn tại và phát triển của con người, nhưng khu vực Đông Á cũng còn lâu mới tiến tới một quan niệm rõ ràng làm xuất phát điểm cho sự tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên, cũng đã có không ít nỗ lực, cố gắng để đưa ra những giải pháp có tính chất “Đông Á” đối với những vấn đề mà con người đang phải đối mặt Một trong những nỗ lực đó là “những giá trị châu Á”, được tranh luận trong những năm 90 của thế kỷ XX, những giá trị được dùng để nhấn mạnh vào các vấn đề, như giáo dục, sự đồng tâm nhất trí, sự cân đối, hài hòa, trách nhiệm và sự lãnh đạo của các chính phủ
Vậy, vai trò của triết học tại thời khắc quan trọng trong sự biến đổi văn minh này là gì? Tôi cho rằng, triết học có một vai trò quan trọng trong quá trình nhận biết các giá trị tham gia vào các nền văn minh chủ yếu, đặc biệt là trong nền văn minh châu Âu
và châu Á Một đóng góp quan trọng trong việc tạo dựng nhận thức về những giá trị văn hóa có tính chất thiêng liêng có thể là những sáng kiến vượt mọi khó khăn để tiến lên một sự thống nhất về văn hóa, có thể chỉ là một sự mở rộng, xem xét lại một phần đã bị rạn nứt của xu hướng thống nhất văn hóa Tôi tin rằng, xuất phát điểm của
sự cố gắng thống nhất văn hóa như vậy sẽ giúp chúng ta nhìn nhận những giá trị này trong mối liên hệ chặt chẽ với các nghĩa vụ và những vấn đề từng làm đau đầu nhân loại nhằm đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau Theo hướng tôi trình bày thì chúng ta đang