1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Sáu mươi năm năm xây dựng và hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2005)" pdf

8 686 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 171,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương trong thời gian này, chúng ta có thể rút ra các nhận xét sau đây: - Chính quyền địa phương được xây dựng theo

Trang 1

PGS.TS Th¸i VÜnh Th¾ng *

ể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản

Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước

Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay đã tròn

60 năm 60 năm qua cùng với các thiết chế

khác trong bộ máy Nhà nước, tổ chức chính

quyền địa phương không ngừng được củng

cố và hoàn thiện Bài viết này nhìn lại quá

trình hình thành và phát triển của tổ chức

chính quyền địa phương trong 60 năm qua,

phân chia các giai đoạn phát triển, đánh giá

thực trạng tổ chức chính quyền địa phương

hiện nay và đưa ra các kiến nghị nhằm khắc

phục những hạn chế, bất cập và củng cố

hoàn thiện hơn nữa thiết chế chính quyền địa

phương ở nước ta

I KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH

THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔ CHỨC

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

TỪ KHI THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT NAM

DÂN CHỦ CỘNG HOÀ (2/9/1945) ĐẾN NAY

Lịch sử hình thành và phát triển tổ chức

chính quyền địa phương ở Việt Nam từ khi

thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

đến nay luôn luôn gắn liền với lịch sử lập

hiến Việt Nam Vì vậy, căn cứ vào lịch sử lập

hiến Việt Nam chúng ta có thể chia quá trình

hình thành và phát triển của tổ chức chính

quyền địa phương ở nước ta thành 4 giai đoạn:

- Từ năm 1945 đến 1959;

- Từ năm 1959 đến 1980;

- Từ năm 1980 đến 1992;

- Từ năm 1992 đến nay

1 Giai đoạn từ 2/9/1945 đến 1959

Giai đoạn này được đánh dấu bằng Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 về tổ chức HĐND và UBHC xã, huyện, tỉnh, kì và Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố

Trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh để sửa đổi bổ sung Sắc lệnh số 63 và 77 cho phù hợp với tình hình đất nước còn chiến tranh

Theo Sắc lệnh ngày 20/12/1946 và Thông lệnh liên bộ quốc phòng - nội vụ ngày 18/12/1946 cấp kì tạm bỏ, cả nước được chia thành 16 chiến khu Sau đó, theo Sắc lệnh ngày 25/11/1948 các chiến khu được sáp nhập thành 10 liên khu kháng chiến Dưới chiến khu hoặc liên khu vẫn là những đơn vị hành chính tỉnh, thành phố, thị xã, huyện, xã

Thời kì này bên cạnh uỷ ban hành chính, uỷ ban bảo vệ được thành lập để giải quyết những vấn đề kháng chiến Theo Thông lệnh liên bộ nội vụ - quốc phòng ngày 31/12/1946,

uỷ ban bảo vệ được gọi là uỷ ban kháng chiến và Sắc lệnh ngày 01/10/1947 uỷ ban kháng chiến và uỷ ban hành chính hợp nhất thành uỷ ban kháng chiến - hành chính

K

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

Ngày 20/7/1957 với Sắc lệnh số 04/SL, hội

đồng nhân dân được thành lập ở tất cả các

cấp hành chính (theo Hiến pháp năm 1946 ở

cấp kì và cấp huyện chỉ có UBHC chứ không

có HĐND) Ngày 31/05/1958 Chủ tịch nước

đã ban bố Luật số 110 (do Quốc hội khoá I

kì họp thứ 8 thông qua) về tổ chức chính

quyền địa phương Sau khi Hiến pháp năm

1959 ban hành, Luật tổ chức HĐND và UBHC

năm 1962 đánh dấu một giai đoạn mới trong

tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta

Phân tích các quy định của pháp luật và

hoạt động thực tiễn của chính quyền địa

phương trong giai đoạn này chúng ta có thể

đưa ra các nhận xét sau đây về mặt ưu điểm

của chính quyền địa phương:

- Đã có sự phân biệt giữa quản lí đô thị

và quản lí nông thôn, vì Chính phủ đã ban

hành các sắc lệnh riêng để quy định về tổ

chức chính quyền nông thôn (Sắc lệnh số 63)

và về tổ chức chính quyền đô thị (Sắc lệnh

số 77) Theo Sắc lệnh số 63, ở nông thôn

chính quyền được tổ chức thành 3 cấp trong

đó có 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh là cấp

tỉnh và cấp xã vừa có HĐND và UBHC còn

cấp huyện chỉ có UBHC vì được coi là cấp

trung gian Ở thành phố, theo Sắc lệnh số 77

chỉ có một số cấp chính quyền hoàn chỉnh đó

là cấp thành phố có HĐND và UBHC còn

khu phố chỉ có UBHC mà không có HĐND

Quy định này hoàn toàn hợp lí bởi ở các

thành phố, đô thị là một quần cư không thể

chia cắt như các tỉnh chia thành huyện được;

- Vai trò giám sát của UBHC cấp trên

đối với HĐND cấp dưới được chú trọng Cơ

quan hành chính cấp trên không những

chuẩn y kết quả bầu cử UBHC cấp dưới mà

còn chuẩn y các nghị quyết của HĐND cấp dưới về nhiều vấn đề khác (Điều 59 Hiến pháp năm 1946, Điều 70, 71, 84, 85 Sắc lệnh

số 63, Điều 17, 18 Sắc lệnh số 77);

- Pháp luật quy định rất rõ ràng, cụ thể

về quyền, trách nhiệm pháp lí của HĐND và UBHC với các chế tài cụ thể có thể áp dụng một cách dễ dàng

Ví dụ, Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 quy định cơ quan hành chính cấp trên có quyền chuẩn y kết quả bầu cử UBHC và HĐND cấp dưới nhưng trong thời hạn 5 ngày (UBHC huyện) hoặc 15 ngày (UBHC kì) phải có văn bản trả lời cấp dưới Nếu từ chối chuẩn y thì UBHC cấp trên phải nói rõ

lí do Uỷ viên UBHC nào không được chuẩn

y phải bầu lại nhưng nếu bầu lại vẫn trúng

cử UBHC thì cấp trên phải chuẩn y kết quả bầu đó (Điều 68, 73, 82, 87 Sắc lệnh số 63, Điều 33, 47 Sắc lệnh số 77) Sắc lệnh số 63

quy định: “Khi HĐND xã hoặc tỉnh ra nghị

quyết trái với mệnh lệnh cấp trên thì ngoài việc thủ tiêu nghị quyết đó, UBHC cấp trên còn cảnh cáo HĐND và nếu HĐND vẫn không tuân lệnh thì UBHC tỉnh có quyền giải tán HĐND xã và Chính phủ có quyền giải tán HĐND tỉnh” (Điều 8, 38) Điều 2 Sắc lệnh số 117 ngày 2/7/ 1946 về bổ sung Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 quy định:

“Nếu đại biểu HĐND nào vắng mặt 3 kì họp

HĐND liên tiếp mà không có lí do hoặc lí do không chính đáng sẽ bị mất quyền đại biểu”

Bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc

tổ chức chính quyền địa phương trong giai đoạn này cũng có những hạn chế nhất định:

- Một số UBHC còn kiêm cả chức năng

tư pháp của toà án địa phương Sắc lệnh số

Trang 3

22/BNV/CP ngày 18/2/1946 quy định ở những

nơi chưa tổ chức được toà án biệt lập, UBHC

tỉnh có quyền hạn như toà án đệ nhị cấp,

UBHC phủ, huyện, châu có quyền hạn như

toà án sơ cấp Trong giai đoạn cải cách

ruộng đất, Sắc lệnh số 150-SL ngày

12/4/1953 về thành lập toà án nhân dân đặc

biệt quy định Chính phủ giao cho uỷ ban

kháng chiến hành chính tỉnh có thẩm quyền

quyết định thành lập toà án nhân dân đặc

biệt ở huyện hoặc liên huyện để xét xử lưu

động ở các xã những kẻ phản cách mạng, địa

chủ cường hào gian ác, những kẻ chống lại

Luật cải cách ruộng đất, xét xử những vụ

tranh chấp về tài sản, ruộng đất, phân định

thành phần giai cấp

Theo quy định tại các điều 2, 3, 4, 11 của

Sắc lệnh này thì cơ cấu toà án đặc biệt bao

gồm chánh án và một nửa số thẩm phán do

uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu

duyệt y, một nửa số thẩm phán còn lại do

nông hội hoặc hội nghị đại biểu nông dân ở

huyện hay liên huyện cử ra Thẩm quyền của

toà án đặc biệt rất lớn, có quyền áp dụng các

hình phạt như cảnh cáo, tịch thu tài sản, phạt

tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Do

không có thẩm phán chuyên nghiệp, việc xét

xử của toà án còn nhiều sai sót đáng tiếc

Đây là bài học của tổ chức chính quyền địa

phương và sau này chúng ta đã sửa sai

2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Ở giai đoạn này, chính quyền địa phương

được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định

của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức

HĐND và UBND năm 1962 Ở nông thôn có

3 cấp chính quyền là tỉnh, huyện, xã còn thành

phố trực thuộc trung ương (ở nội thành) có 2

cấp là thành phố và khu phố Các huyện ngoại thành thì tổ chức như ở nông thôn

Như vậy, cho đến thời kì này vẫn có 2 mô hình tổ chức chính quyền địa phương khác nhau Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1962

có những điều khoản riêng quy định nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND thành phố (Điều 17, 46 và khu phố (Điều 18, 47)

Đáng lưu ý là từ năm 1974 với Quyết định số 78/CP ngày 10/04/1974 của Hội đồng Chính phủ, các khu phố của thành phố

Hà Nội và Hải Phòng chia ra nhiều khu nhỏ gọi là tiểu khu với quy mô từ 2000 đến 5000 nhân khẩu Mỗi tiểu khu có một cơ quan đại diện của UBHC khu phố gọi là ban đại diện hành chính tiểu khu Ban đại diện hành chính tiểu khu là tổ chức mang tính tự quản của nhân dân tiểu khu, không phải là cấp chính quyền hay là đơn vị hành chính lãnh thổ Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương trong thời gian này, chúng ta có thể rút ra các nhận xét sau đây:

- Chính quyền địa phương được xây dựng theo mô hình của Liên Xô, theo đó HĐND được quy định là cơ quan quyền lực nhà nước

ở địa phương Cùng với Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp tạo thành hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước - một trong bốn hệ thống

cơ bản của bộ máy nhà nước;

- Mối quan hệ giữa HĐND và UBHC cùng cấp, giữa HĐND cấp dưới và HĐND cấp trên đã xác định rõ hơn theo xu hướng

đề cao vai trò của HĐND HĐND có quyền sửa đổi, bãi bỏ những quyết định không hợp

lí của UBHC cấp mình và cả những quyết định của UBHC cấp dưới trực tiếp (Điều 6

Trang 4

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1962)

UBHC là cơ quan hành chính của Nhà nước

ở địa phương UBHC cấp trên chỉ có quyền

đình chỉ những nghị quyết không thích đáng

của HĐND cấp dưới trực tiếp còn quyền bãi

bỏ những nghị quyết này là của HĐND cấp

trên trực tiếp

So với Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77

năm 1945, Luật tổ chức HĐND và UBHC các

cấp năm 1962 thu hẹp phạm vi những vấn đề

chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết

định của chính quyền cấp dưới Chỉ những

vấn đề đặc biệt quan trọng, thông thường là

liên quan đến vấn đề tổ chức như UBHC cấp

trên phê chuẩn kết quả bầu cử UBHC cấp

dưới Nghị quyết của HĐND giải tán HĐND

cấp dưới trực tiếp phải được HĐND cấp trên

trực tiếp phê chuẩn Những quy định này

nhằm tăng cường tính chủ động, sáng tạo cho

chính quyền các cấp

- Cơ cấu tổ chức của HĐND và UBHC

giai đoạn này cũng được hoàn thiện thêm một

bước Số đại biểu HĐND các cấp so với trước

đây được tăng lên đáng kể HĐND cấp xã từ

20 đến 40 đại biểu, cấp huyện từ 30 đến 50

đại biểu, cấp tỉnh từ 50 đến 120 đại biểu

Nhằm tăng cường chất lượng hoạt động

của HĐND, Luật tổ chức HĐND các cấp năm

1962 quy định (tại các điều 28, 29, 30)

HĐND các cấp thành lập các ban chuyên

trách Số lượng thành viên của UBHC các cấp

cũng được tăng lên Cấp xã: 7 - 9 người, cấp

huyện: 9 - 11 người, cấp tỉnh: 11 - 15 người

3 Giai đoạn từ năm 1980 đến 1992

Trong giai đoạn này, các văn bản pháp

luật chủ yếu điều chỉnh tổ chức và hoạt động

của chính quyền địa phương là Hiến pháp

năm 1980, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 (sửa đổi)

So với các giai đoạn trước đây, tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn này có những ưu điểm sau đây:

- Để đề cao vai trò của HĐND – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Điều 24 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 quy định 10 vấn đề nhất thiết phải được thảo luận

và quyết định đã làm cho HĐND thực sự là

cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương;

- Việc thành lập thường trực HĐND từ cấp huyện trở lên đã tạo điều kiện cho HĐND

có thể hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào UBND về phương tiện tổ chức hoạt động;

- Để hạn chế tình trạng tuỳ tiện, làm thiệt hại quyền lợi của công dân trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan chính quyền địa phương, Pháp lệnh xử phạt

vi phạm hành chính năm 1989 quy định từ nay ở địa phương chỉ có HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về vi phạm hành chính nếu những hành vi này chưa được Chính phủ quy định (trước đây HĐND và UBND các cấp đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về các hành vi vi phạm hành chính và mức độ, hình thức xử phạt hành chính)

Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn này cũng có những hạn chế sau đây:

- Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1983 đã bỏ bộ phận thường trực UBND để mọi vấn đề thuộc thẩm quyền UBND đều phải bàn bạc giải quyết tập thể và biểu quyết

Trang 5

theo đa số tại phiên họp của UBND Quy

định này về mặt lí thuyết có vẻ hợp lí nhưng

thực tiễn chỉ ra rằng các công việc chấp

hành, điều hành của UBND đòi hỏi sự phản

ứng nhanh nhạy, không phải khi nào cũng có

điều kiện để bàn bạc tập thể được;

- Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức

HĐND và UBND năm 1983 đồng nhất hóa

các cấp tổ chức chính quyền địa phương ở

nông thôn cũng như thành thị Có thể thấy

rằng đây là bước thụt lùi trong việc tổ chức

chính quyền địa phương ở nước ta;

- Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1983 (sửa đổi năm 1989) đã hạn chế sự kiểm

soát của UBND cấp trên đối với UBND cấp

dưới bằng quy định chỉ có HĐND cùng cấp

có quyền bãi nhiệm UBND Quy định này đã

tăng quyền lực theo chiều ngang (cho HĐND

cùng cấp) nhưng đã hạn chế quyền lực theo

chiều dọc (UBHC cấp trên đối với cấp dưới);

- Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1989 (sửa đổi) thiếu tính đồng bộ và cụ thể

Điều 17 Luật này quy định Hội đồng Nhà

nước sẽ quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể

cho HĐND và UBND các cấp Tuy nhiên, từ

khi ban hành Luật này đến khi Quốc hội

thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1994 đã không có pháp lệnh nào của Hội

đồng Nhà nước (trước năm 1992) cụ thể hóa

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989

4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay

Các văn bản pháp luật chủ yếu điều

chỉnh hoặc liên quan đến hoạt động của

chính quyền địa phương trong thời gian này

là Hiến pháp năm 1992; Luật tổ chức HĐND

và UBND do Quốc hội thông qua ngày

5/7/1994; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân (28/10/1995); Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 1995; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi bổ sung năm 1998); Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân

và uỷ ban nhân dân 2004

So với các giai đoạn trước đây, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 vẫn xác định HĐND là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương, UBND vẫn là cơ quan chấp hành của HĐND

và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 đã

mở rộng quyền hạn và tăng cường trách nhiệm của chủ tịch UBND các cấp, tăng cường tính tập trung thống nhất của hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước Chủ tịch UBND có những quyền hạn trước đây thuộc

về UBND như đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của UBND cấp dưới, đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới và đề nghị HĐND cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó Chủ tịch UBND có quyền phê chuẩn kết quả bầu, bãi miễn các thành viên UBND cấp dưới trực tiếp (Điều 52 Luật tổ chức HĐND

và UBND năm 1994)

Trong giai đoạn này, cơ cấu tổ chức của HĐND và UBND có sự thay đổi theo hướng gọn nhẹ hơn Số đại biểu HĐND các cấp

Trang 6

giảm 25% đến 30% Theo Điều 9 Luật bầu

cử đại biểu HĐND năm 1994 số đại biểu

HĐND xã có từ 15 đến 25 đại biểu xã,

HĐND cấp huyện có từ 25 đến 35 đại biểu,

HĐND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương

có từ 45 đến 75 đại biểu Riêng các thành

phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các

tỉnh có trên hai triệu rưỡi người được bầu

không quá 85 đại biểu Cơ cấu của UBND

cũng gọn nhẹ hơn UBND cấp xã có từ 5 đến

7 thành viên, trong đó có 1 chủ tịch, 1 phó

chủ tịch (trước đây từ 7 đến 9 thành viên

trong đó có 2 phó chủ tịch), UBND cấp

huyện có từ 7 đến 9 thành viên, trong đó có

2 phó chủ tịch (trước đây từ 9 đến 11 thành

viên trong đó có 3 phó chủ tịch); UBND cấp

tỉnh có từ 9-11 thành viên trong đó có 3 phó

chủ tịch (trước đây là 11- 13 thành viên

trong đó có 4 phó chủ tịch) Riêng UBND

thành phố Hà Nội và UBND thành phố Hồ

Chí Minh có đến 13 thành viên trong đó có 4

phó chủ tịch) Theo chúng tôi, việc giảm

thành viên UBND các cấp là hợp lí, tuy

nhiên, việc giảm thành viên HĐND các cấp

đặc biệt là cấp xã (từ 15 đến 25), cấp huyện

(từ 25 đến 35) là không thật hợp lí Do số

lượng hạn chế như vậy nên nhiều xã không

có đại diện của mình trong HĐND huyện

Hơn nữa, nếu số lượng thành viên quá ít thì

kết quả nghị bàn sẽ rất hạn chế và ít hiệu lực

Một điểm đáng lưu ý khác là Luật tổ

chức HĐND và UBND năm 1994 đã xác

định rõ 4 vấn đề nhất định phải thảo luận tập

thể và quyết định theo đa số tại phiên họp

toàn thể của UBND, gồm:

- Chương trình làm việc của ủy ban nhân dân

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm

và quỹ dự trữ của địa phương trình HĐND;

- Các biện pháp thực hiện nghị quyết về kinh tế - xã hội, thông qua báo cáo của UBND trước HĐND;

- Đề án thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể các cơ quan chuyên môn của UBND, việc phân vạch địa giới giữa các đơn vị hành chính lãnh thổ ở địa phương

Những quy định trên đây là rất cần thiết nhằm phân biệt những lĩnh vực mà chủ tịch UBND mặc dù đã được tăng cường quyền hạn không thể tự mình quyết định được Ngoài ra, còn có một số văn bản pháp luật khác có liên quan mật thiết đến việc tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND như Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm

1995, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật

tổ chức tòa án nhân dân năm 1995, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998) Luật tổ chức HĐND và UBND năm

2003 là bước hoàn thiện mới của tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam Đáng lưu ý nhất là những bổ sung sửa đổi sau đây:

- Để tăng cường tính chất cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương của hội đồng nhân dân các cấp, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã bổ sung thêm hai điểm quan trọng ở Điều 1 là:

* Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng

Trang 7

cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của

nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của

địa phương đối với cả nước

* Hội đồng nhân dân thực hiện quyền

giám sát đối với hoạt động của thường trực

HĐND, UBND, toà án nhân dân, viện kiểm

sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực

hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân;

giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ

quan nhà nước; tổ chức kinh tế, tổ chức xã

hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công

dân ở địa phương

Với những quy định trên đây, Luật tổ

chức HĐND và UBND năm 2003 đã đề cao

vai trò tự quyết của HĐND đối vối những

vấn đề của địa phương nhằm phát huy thế

mạnh đặc thù của từng địa phương đồng thời

đề cao chức năng giám sát của HĐND

- Về cơ cấu tổ chức, theo Luật tổ chức

HĐND và UBND năm 2003 tất cả các cấp

HĐND đều có thường trực HĐND (Luật tổ

chức HĐND và UBND năm 1994 chỉ quy định

cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và

cấp huyện quận mới có thường trực HĐND);

- Về thẩm quyền, theo xu hướng tăng

cường việc phân cấp, phân quyền cho chính

quyền địa phương, cụ thể hoá quy định của

Hiến pháp năm 1992 sửa đổi trao thẩm quyền

phân bổ ngân sách địa phương cho HĐND,

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy

định HĐND quyết định dự toán thu ngân sách

nhà nước trên địa bàn; dự toán thu chi ngân

sách địa phương và phân bổ ngân sách cấp

mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa

phương; quyết định các biện pháp triển khai

thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh

dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định;

- Về tăng cường việc giám sát của HĐND đối với những người giữ các chức vụ

do HĐND bầu, luật mới quy định HĐND có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do HĐND bầu;

- Một bước tiến mới trong việc hoàn thiện tổ chức của chính quyền địa phương ở nước ta là việc ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 Theo quy định của Luật này, các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày kí hoặc thông qua, văn bản của chính quyền cấp huyện, quận có hiệu lực sau 7 ngày kể từ ngày kí hoặc thông qua, của cấp

xã phường có hiệu lực sau 5 ngày kể từ ngày

kí hoặc thông qua nếu trong các văn bản quy phạm pháp luật đó không xác định cụ thể ngày phát sinh hiệu lực Mặt khác, để đảm bảo tính công khai, minh bạch của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, luật này quy định các văn bản chính quyền cấp tỉnh phải được đăng công báo địa phương trong vòng 5 ngày kể từ ngày kí hoặc thông qua, cấp huyện, quận phải được niêm yết công khai trong vòng 3 ngày kể từ ngày kí hoặc thông qua, cấp xã, phường phải được niêm yết công khai trong vòng 2 ngày

kể từ ngày kí hoặc thông qua Đây là bước tiến bộ đáng kể, đáp ứng những nguyên tắc mới của pháp luật theo xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Trang 8

II NHỮNG BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY

VÀ PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC

Qua sự phân tích các quy định của pháp

luật và thực tiễn hoạt động của các cơ quan

chính quyền địa phương, bên cạnh những ưu

điểm chúng ta có thể thấy những hạn chế sau

đây của tổ chức chính quyền địa phương

hiện nay ở nước ta

- Chỉ trong giai đoạn đầu chúng ta có

phân biệt tổ chức chính quyền giữa nông

thôn và đô thị, về sau ranh giới này đã bị xoá

nhoà Do không phân biệt chính quyền đô thị

và nông thôn nên nhiều quy định có thể đúng

với nông thôn nhưng không phù hợp với

thành thị Ví dụ: Nghị định số 31/CP ngày

8/12/2000 của Chính phủ về công chứng và

chứng thực, theo đó UBND phường, thị trấn

không được chứng thực các bản sao giấy tờ

đã gây ra sự quá tải cho các phòng công

chứng, ách tắc, phiền hà cho nhân dân;

- Hoạt động giám sát của HĐND còn

mang tính hình thức vì muốn thực hiện chức

năng giám sát, HĐND cần phải có bộ máy

làm việc độc lập của mình Tuy nhiên, cho

đến nay HĐND của nhiều tỉnh không có văn

phòng riêng của mình;

- Số đại biểu HĐND là công chức giữ

các chức vụ trong UBND và các cơ quan

chuyên môn của UBND cùng cấp chiếm tỉ lệ

khá lớn, vì vậy, việc kiểm tra giám sát của

HĐND sẽ rất khó thực hiện đối với UBND

và các cơ quan chuyên môn của UBND;

- Các nghị quyết của HĐND còn mang

tính chung chung thiếu tính chất của “quy

phạm pháp luật” cụ thể nên rất khó thực hiện;

- Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương còn sai về hình thức và vượt thẩm quyền Nhiều văn bản quy pháp luật được ban hành dưới dạng thông báo, công văn, nhiều “quyết định” ban hành dưới dạng “chỉ thị”;

- Đặt ra quy định trái với pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (lệ phí đăng kí kết hôn,

li hôn, chứng nhận mua ô tô, xe máy );

- Việc phối hợp hoạt động giữa UBND, HĐND với toà án nhân dân còn chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên và có hiệu quả thấp

Để khắc phục tình trạng bất cập nêu trên, chúng tôi xin kiến nghị một số phương hướng và giải pháp sau đây về hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương, nâng cao hiệu lực hiệu quả trong hoạt động của UBND và HĐND theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN:

- Cần khôi phục các quy định trong Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 về tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn và thành thị Theo đó ở địa phương có 3 cấp chính quyền, trong đó có hai cấp chính quyền hoàn chỉnh là cấp tỉnh và cấp xã Thành phố chỉ nên có hai cấp là UBND và HĐND còn cấp phường chỉ cần có UBND;

- Những người giữ các chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước và toà án địa phương không thể đồng thời là đại biểu HĐND cùng cấp;

- HĐND các cấp có văn phòng riêng và bộ máy làm việc độc lập của mình;

- Cần có quy định bổ sung trong Luật tổ chức HĐND và UBND về tăng cường tính chất tự quản của chính quyền địa phương./

Ngày đăng: 24/03/2014, 00:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w