Giám đốc thẩm là giai đoạn đặc biệt trong tố tụng hình sự, trong giai đoạn này, toà án xem xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi
Trang 1ThS Phan Thanh Mai *
1 Giám đốc thẩm là giai đoạn đặc biệt
trong tố tụng hình sự, trong giai đoạn này, toà
án xem xét lại bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì
phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
trong xử lí vụ án Mục đích của giám đốc
thẩm nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, phát hiện những sai lầm, thiếu sót
trong việc giải quyết vụ án của toà án cấp
dưới, đưa ra những quyết định nhằm khắc
phục những sai lầm, thiếu sót đó, đảm bảo
mục đích của việc xét xử đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật Qua đó, đảm bảo sự công
bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước cũng như đảm bảo quyền dân chủ của
công dân Việc xét lại những bản án và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật, khi đã qua hai
cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, có thể đang
thi hành án hoặc đã thi hành án xong là vấn
đề hết sức quan trọng, đòi hỏi việc giám đốc
thẩm phải đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp
pháp cao, các quyết định của cấp giám đốc
thẩm phải có tính hướng dẫn cho hoạt động
xét xử của toà án cấp dưới
Do tính chất quan trọng của giám đốc
thẩm trong tố tụng hình sự, vì vậy, đòi hỏi các
quy định của luật tố tụng hình sự về giám đốc
thẩm phải toàn diện, đầy đủ, hợp lí và đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn của hoạt động
chung của tố tụng hình sự
2 Các quy phạm pháp luật về giám đốc thẩm đã được hình thành và phát triển trong thời gian dài, phù hợp với đặc điểm xã hội và nhiệm vụ cách mạng của Nhà nước ta trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Trước khi miền Bắc được giải phóng năm 1954 do hoàn cảnh chiến tranh nên các quy phạm pháp luật
tố tụng trong thời kì này chủ yếu tập trung vào việc thực hiện chuyên chính với những đối tượng phản cách mạng, thù trong giặc ngoài và mang tính chất cấp bách, thời chiến Các vụ án hình sự về các vụ phạm tội
về chính trị được xét xử sơ thẩm và chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay (Sắc lệnh số
21 ngày 14/2/1946 và Sắc lệnh số 156/SL ngày 17/11/1950) Ngay cả nguyên tắc hai cấp xét xử còn chưa có điều kiện để đảm bảo nên thực hiện một cách triệt để việc xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật chưa được đặt ra
Sau khi miền Bắc giải phóng, Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng dân chủ thực
tế thi hành án và giải quyết khiếu nại của nhân dân phát hiện nhiều sai sót trong các bản
án đã có hiệu lực pháp luật (nhất là những vụ
án xét xử trong thời kì cải cách ruộng đất) nhiều người đã bị kết án oan sai Vì vậy, vấn
* Giảng viên chính Khoa luật hình sự
Trang 2đề xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật có sai lầm đã được đặt ra và được
đề cập trong một số văn bản pháp luật như
Thông tư số 02/TT ngày 13/1/1959 và Thông
tư số 04/TT ngày 3/2/1959 Việc xét lại này
chỉ được áp dụng trong một số trường hợp
nhất định Từ năm 1960 đến trước khi có Bộ
luật tố tụng hình sự, quy định của pháp luật
về giám đốc thẩm ngày càng đầy đủ, hoàn
thiện hơn Các quy định này được quy định
trong Luật tổ chức toà án nhân dân và Luật tổ
chức viện kiểm sát nhân dân (năm 1960 và
năm 1981) và trong các văn bản pháp luật
khác như: Pháp lệnh số 23/3/1961; Thông tư
số 2397-TA ngày 22/12/1961; Thông tư số
06-TATC ngày 23/7/1964 Theo các văn bản
pháp luật này, chưa có sự phân biệt giám đốc
thẩm và tái thẩm và chỉ có Toà án nhân dân
tối cao thực hiện việc giám đốc thẩm Quyền
hạn của Toà án nhân dân tối cao khi xét lại
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và
các vấn đề khác cũng được quy định rõ ràng,
cụ thể.(1)
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời
đánh dấu sự phát triển của pháp luật tố tụng
hình sự Lần đầu tiên các quy phạm pháp luật
về giám đốc thẩm được pháp điển hoá và
được quy định chi tiết ở chương XXIX của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Trong bộ
luật này, các quy định về giám đốc thẩm đã
được quy định một cách có hệ thống, đầy đủ
và khoa học đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
xét xử Qua hơn 10 năm thực hiện, Bộ luật
này mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung vào
những năm 1990, 1992, 2000 nhưng các quy
định của pháp luật về giám đốc thẩm cũng đã
bộc lộ những thiếu sót, nhược điểm cần được
sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình xã hội đã có nhiều thay đổi phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của cải cách kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Ngày 26/11/2003, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kì họp thứ tư đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, có hiệu lực ngày 1/7/2004 Trong Bộ luật này, thủ tục giám đốc thẩm được quy định ở phần thứ sáu, chương XXX, gồm 18 điều, từ Điều 272 đến Điều 289 Trong đó, chỉ giữ nguyên bốn điều,
bỏ một điều quy định luật cũ, các điều luật còn lại đều được sửa đổi, bổ sung
3 Những sửa đổi cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 là những vấn đề cơ bản sau đây:
- Quyết định của hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao không bị kháng nghị giám đốc thẩm
Trước đây, theo Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định chánh án Toà án nhân dân tối cao và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp, không hạn chế đối với quyết định giám đốc thẩm của bất kì cấp nào Về mặt lí luận, quy định này mâu thuẫn với quy định tại Điều 21 Luật tổ chức toà án nhân dân
năm 2002: "Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm", không xác định được "điểm dừng" cho trình tự giám đốc thẩm, dẫn đến thực tế việc giải quyết vụ án
bị kéo dài và trình tự tố tụng bị lặp lại nhiều lần Để giải quyết những vướng mắc này, Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
đã quy định rõ: "Chánh án Tòa án nhân dân
Trang 3tối cao và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa
án các cấp, trừ quyết định của hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao"
- Thẩm quyền giám đốc thẩm (Điều 279)
quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hai thay
đổi lớn
Thứ nhất, bỏ một cấp giám đốc thẩm đó
là uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Sự thay đổi này để đảm bảo yêu cầu cải cách
tư pháp và phù hợp với quy định tại Điều 18
Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002
Việc quy định quá nhiều cấp có thẩm
quyền giám đốc thẩm làm cho trình tự giải
quyết vụ án bị kéo dài một cách không cần
thiết Mặt khác, việc quy định uỷ ban thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao có quyền giám
đốc thẩm còn dẫn đến sự bất hợp lí trong việc
thực hiện Theo quy định trước đây của Luật
tổ chức toà án nhân dân năm 1992, các thành
viên của uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao đồng thời là các thành viên của hội
đồng thẩm phán của Toà án nhân dân tối cao
và chiếm đa số trong hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao Số thành viên tham gia
hội đồng giám đốc thẩm phải chiếm ít nhất
hai phần ba tổng số các thành viên của hội
đồng thẩm phán Như vậy, không thể tránh
khỏi tình trạng thẩm phán đã giám đốc thẩm
vụ án tại uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao lại tiếp tục tham gia giám đốc thẩm vụ
án đó một lần nữa tại hội đồng thẩm phán
Điều đó là không đảm bảo nguyên tắc đảm
bảo sự vô tư của những người tiến hành tố
tụng Khi đã giải quyết vụ án, thẩm phán đã
hình thành những quan điểm, những nhận định, những đánh giá của mình đối với vụ án, khi giải quyết lại vụ án đó, họ đã có định kiến trước, không thể đảm bảo vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Thứ hai, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã bổ sung quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau
Vấn đề này chưa được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Theo quy định trước đây, thẩm quyền giám đốc thẩm luôn thuộc về toà án cấp trên trực tiếp của toà án
đã ra bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật quy định này đã gây nhiều vướng mắc trong thực tế áp dụng Quy định này chỉ phù hợp với những vụ án mà chỉ có một bản án có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp vụ án phức tạp có nhiều bị cáo hoặc bị cáo phạm nhiều tội khác nhau và phải qua nhiều cấp xét
xử như sơ thẩm, phúc thẩm hoặc đã qua giám đốc thẩm Việc phúc thẩm, giám đốc thẩm lại đối với từng phần của bản án thì sẽ phát sinh nhiều bản án có hiệu lực pháp luật và việc giám đốc thẩm các bản án này lại thuộc thẩm quyền của nhiều cấp toà án khác nhau
và B trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138
Bộ luật hình sự Sau khi xét xử sơ thẩm, chỉ
có A kháng cáo xin giảm hình phạt Toà án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm xem xét thấy có căn cứ nên đã giảm hình phạt cho A không giảm hình phạt cho B vì không có căn cứ Vụ
án này có hai bản án có hiệu lực pháp luật đó
là phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo,
Trang 4kháng nghị đối với B và bản án phúc thẩm
đối với B Theo nguyên tắc thẩm quyền giám
đốc thẩm thuộc về toà án cấp trên trực tiếp thì
nếu cả hai bản án này đều bị kháng nghị giám
đốc thẩm thì toà án cấp tỉnh sẽ giám đốc thẩm
phần bản án sơ thẩm và toà hình sự Toà án
nhân dân tối cao sẽ giám đốc thẩm bản án
phúc thẩm Quy định này làm cho việc giải
quyết vụ án phức tạp và kéo dài vì phải chờ
toà án này giám đốc thẩm xong, toà án khác
mới có hồ sơ vụ án để giám đốc thẩm Hơn
nữa, việc hai cấp toà án cùng giám đốc thẩm
một vụ án cũng hạn chế việc xét lại toàn bộ
vụ án một cách toàn diện
Quy định mới tại khoản 4 Điều 279 Bộ
luật tố tụng hình sự làm cho việc giám đốc
thẩm linh hoạt hơn và khắc phục những
vướng mắc nói trên
- Thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm
Thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm
đã có một sửa đổi cơ bản, đó là không tiếp tục
quy định quyền sửa bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật
Vấn đề hội đồng giám đốc thẩm có được
quyền sửa án hay không là vấn đề đã từng
được rất nhiều các nhà khoa học và thực tiễn
đề cập với những quan điểm khác nhau Theo
quy định tại Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003, hội đồng giám đốc thẩm không có
quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật là phù hợp tinh thần cải cách tư
pháp, đảm bảo thực hiện nguyên tắc hai cấp
xét xử đã được quy định tại Điều 11 Luật tổ
chức toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 (Điều 20) tránh sự hiểu lầm
giám đốc thẩm là cấp xét xử thứ ba và tránh
tình trạng quyết định giám đốc thẩm sửa sai
không có điều kiện để khắc phục Khẳng định giám đốc thẩm không xét xử về nội dung vụ
án mà chỉ kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Chuẩn bị phiên toà giám đốc thẩm và thủ tục phiên toà giám đốc thẩm (Điều 282)
Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định rất sơ sài, không quy định
cụ thể trình tự các thủ tục phải tiến hành tại phiên toà giám đốc thẩm Điều đó dẫn đến việc không thống nhất, tuỳ tiện trong thực tế
áp dụng Không chỉ các toà án khác nhau có cách tiến hành khác nhau mà ngay cả trong cùng một toà, cách tiến hành các phiên toà giám đốc thẩm cũng không thống nhất Điều
282 Bộ luật tố tụng hình sự mới đã quy định
cụ thể hơn về trình tự phiên toà giám đốc thẩm và bổ sung quy định về thủ tục biểu quyết của hội đồng giám đốc thẩm (Điều 281, khoản 2 nên chuyển sang Điều 282) Phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên uỷ ban thẩm phán, hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà Trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà thì uỷ ban thẩm phán, hội đồng thẩm phán phải mở phiên toà xét xử lại vụ án với sự tham gia của toàn thể các thành viên
Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 cũng quy định thêm về chuẩn bị phiên toà giám đốc thẩm Công tác chuẩn bị phiên toà có ý nghĩa rất quan trọng đến chất lượng, hiệu quả của phiên toà Vì vậy, cần phải quy
Trang 5định rõ về thủ tục chuẩn bị phiên toà, xác
định rõ trách nhiệm cá nhân của người được
giao làm bản thuyết trình tóm tắt nội dung
vụ án và các bản án, quyết định của các cấp
toà án, nội dung kháng nghị Quy định rõ về
thời hạn mà bản thuyết trình này phải được
gửi trước cho các thành viên hội đồng chậm
nhất là 7 ngày trước ngày mở phiên toà giám
đốc thẩm
- Quy định rõ thời điểm phát sinh hiệu lực
của các bản án và người quyết định, làm cơ
sở cho việc xác định thời hạn kháng nghị
giám đốc thẩm
Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm
là những bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật Thời hạn kháng nghị giám đốc
thẩm trong trường hợp theo hướng không có
lợi cho người bị kết án là một năm, kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật Việc xác
định tại thời điểm phát sinh hiệu lực của các
bản án, quyết định là rất quan trọng để xác
định thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 chưa
quy định rõ ràng về thời điểm bản án sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị và bản án
quyết định phúc thẩm có hiệu lực khi nào,
dẫn đến những quan điểm khoa học không
thống nhất và khó khăn trong việc áp dụng
vào thực tiễn giám đốc thẩm Trong Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 những thiếu sót
trên đã được khắc phục Khoản 2 Điều 238
quy định: "Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra
quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm";
Điều 240 quy định: "Bản án, quyết định và
những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của toà án không bị kháng cáo kháng nghị thì
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị"; khoản 3 Điều 248
quy định: "Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày tuyên án"; khoản 2 Điều 253
quy định: "Quyết định phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày ra quyết định" Những quy định này không nằm trong chương XXX nhưng có liên quan mật thiết đến quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm nên chúng tôi cũng trình bày trong bài này
4 Ngoài những sửa đổi, bổ sung cơ bản nói trên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn có những sửa đổi, bổ sung khác nhau như
bổ sung quy định về việc giao quyết định giám đốc thẩm Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định, hội đồng giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho người
bị kết án, người kháng nghị, toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra nơi đã xử sơ thẩm, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc đại diện hợp pháp của họ
Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 sửa đổi thời hạn trả
hồ sơ cho viện kiểm sát cùng cấp để điều tra
từ 5 ngày lên 15 ngày cho phù hợp, tránh việc thời hạn bị vượt quá Bổ sung thêm thời hạn chuyển hồ sơ cho toà án để xét xử lại là 15 ngày từ ngày ra quyết định, thời hạn trả lời về việc không kháng nghị là trước khi hết thời hạn kháng nghị Những sửa đổi, bổ sung về
Trang 6thời hạn này nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ
án không bị kéo dài theo đúng thời hạn cụ thể
và thống nhất, nâng cao trách nhiệm của hội
đồng giám đốc thẩm và những người có thẩm
quyền kháng nghị giám đốc thẩm
5 Những sửa đổi, bổ sung trên đây là
những sửa đổi, bổ sung cơ bản về thủ tục
giám đốc thẩm Những quy định mới này có
thực sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp
và thực tiễn giám đốc thẩm hay không, có
nâng cao chất lượng hiệu quả của giám đốc thẩm hay không, cũng cần phải được chứng minh thêm qua thực tiễn áp dụng trong thời gian tới Và còn nhiều vấn đề khác cần phải được nghiên cứu thêm để những quy định pháp luật về giám đốc thẩm ngày càng phát triển và hoàn thiện./
(1) Xem:"Tập hệ thống hoá luật lệ về tố tụng hình sự" Toà án nhân dân tối cao - 1976, tr 234 - 242
Bé luËt tè tông h×nh sù (Tiếp theo trang 20)
Việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án được quy định tại
Điều 346 BLTTHS năm 2003 Việc
chuyển giao tài liệu, đồ vật, tiền liên
quan đến vụ án được tiến hành theo quy
định của các điều ước quốc tế mà nước
CHXHCN Việt Nam kí kết hoặc gia
nhập, theo quy định của BLTTHS và
pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam
Theo các quy định của pháp luật hiện
hành của nước ta, các tài liệu thuộc bí
mật quân sự, bí mật công tác hoặc bí mật
quốc gia không được tiết lộ nên cũng
không thể được chuyển giao cho nước
ngoài cùng với hồ sơ vụ án Các đồ vật
mặc dù là vật chứng hoặc liên quan đến
vụ án (thí dụ: Vũ khí, ma tuý, đồ cổ)
nhưng bị cấm mang qua biên giới cũng
không thể được chuyển giao cho cơ quan
tiến hành tố tụng nước ngoài Đối với
những vật chứng nếu không thể được
chuyển cho phía nước ngoài cùng hồ sơ vụ
án, cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam cần cung cấp biên bản mô tả, bản ảnh cho cơ quan tiến hành tố tụng nước ngoài Tiền liên quan đến vụ án cũng không được chuyển giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng nước ngoài nếu nó thuộc sở hữu của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân Việt Nam Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự thấy rằng các quy định đó mới chỉ giữ vai trò đặt nền móng cho việc hợp tác giữa cơ quan tố tụng hình
sự của nước ta với cơ quan tương ứng của nước ngoài Thiết nghĩ, để thực hiện hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình
sự, cần thiết phải có một hệ thống các văn bản hướng dẫn giải thích kèm theo BLTTHS được ban hành dần dần căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng./