Đó là: - Hôn nhân tự nguyên, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; - Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình; - Nhà nước và xã hội không thừa nhận
Trang 1Ths NguyÔn thÞ lan * uật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)
năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát
triển Luật HN&GĐ năm 1986 quy định rất
rõ quyền bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền
phụ nữ và trẻ em, điều đó chủ yếu xuất
phát từ sự khác nhau về giới và khả năng
nhận thức xã hội, thể hiện bản chất của nhà
nước XHCN
Ngay tại Chương 1: “Những vấn đề chung”
quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ
HN&GĐ Hầu hết các nguyên tắc này đều
ghi nhận quyền của người phụ nữ với tư
cách là thành viên trong gia đình Đó là:
- Hôn nhân tự nguyên, tiến bộ, một vợ
một chồng, vợ chồng bình đẳng;
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính
sách dân số kế hoạch hoá gia đình;
- Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự
phân biệt đối xử giữa các con ;
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách
nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà
mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của
người mẹ
Có thể thấy rằng Luật HN&GĐ năm
2000 đã có sự phát triển hơn so với Luật
HN&GĐ năm 1986 Các nguyên tắc lần đầu
tiên được quy định rõ ràng, cụ thể trong một
điều luật, thể hiện rõ nét quyền của phụ nữ
trong các quan hệ HN&GĐ
Trong các quy định về các chế định cụ
thể, quyền của người phụ nữ được quy định khá chi tiết:
1 Kết hôn
Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy
định điều kiện kết hôn như sau: “ Việc kết
hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở ”, về cấm kết hôn Luật HN&GĐ năm
2000 đã cấm người đang có vợ có chồng kết hôn Điều này thể hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình, xoá bỏ sự phân biệt đối xử, tư tưởng lạc hậu, phong kiến “Đàn ông năm thê, bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, về mặt lí luận, bản chất của tình yêu là không thể chia
sẻ được nên hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính phải là hôn nhân một vợ một chồng, mọi sự vi phạm các quy định về kết hôn đều bị xử lí theo pháp luật như bị huỷ kết hôn trái pháp luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
2 Quan hệ giữa vợ và chồng
Từ Điều 18 đến Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản giữa vợ và chồng, các quy định này thể hiện một cách rõ nét nhất quyền
L
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2bình đẳng giữa vợ chồng, bao hàm cả việc
bảo vệ quyền của người phụ nữ với tư cách
là người vợ trong gia đình
- Quyền và nghĩa vụ nhân thân: Vợ chồng
bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền
ngang nhau về mọi mặt trong gia đình (Điều
19), vợ chồng tự do lựa chọn nơi cư trú, tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhau (Điều 22), giúp đỡ, tạo điều kiện cho
nhau phát triển về mọi mặt (Điều 23) ;
- Quyền và nghĩa vụ tài sản: Điều 27
Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định tài sản
chung của vợ chồng Về nguyên tắc, tài sản
trong thời kì hôn nhân dù do một bên vợ
hoặc chồng làm ra đều được coi là tài sản
chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản chung đó Điều 32
Luật HN&GĐ đề cập tài sản riêng của vợ
chồng, thể hiện quyền tự định đoạt của vợ
chồng đối với tài sản riêng của mình Các
quy định trên đã cho thấy người vợ hoàn
toàn có mọi quyền ngang bằng với người
chồng trong gia đình, không bị phụ thuộc
vào chồng, xoá bỏ tư tưởng “tại gia tòng
phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” So
với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ
năm 2000 đã quy định rõ hơn các quyền về
tài sản của vợ chồng như Điều 28 “chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản chung”, Điều 33
“chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng”
3 Quan hệ cha mẹ và con
Đối với các con, cha mẹ có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục Các con cũng có nghĩa
vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ
(Điều 34, 35) Đây là mối quan hệ hai chiều, thể hiện rõ mối liên hệ giữa hai thế hệ, tôn ti trật tự trong gia đình Việt Nam Điều đó cũng phần nào xoá bỏ quyền gia trưởng tuyệt đối của người cha, người chồng trong gia đình, thể hiện vai trò của người phụ nữ trong gia đình
4 Xác định cha, mẹ, con và nuôi con nuôi
Cơ sở về mặt huyết thống và nuôi dưỡng
là hai căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con nói chung và quyền làm
mẹ của người phụ nữ nói riêng
Về mặt huyết thống, nếu giữa hai bên nam nữ có kết hôn hợp pháp thì khi người vợ sinh con, đứa con đó đương nhiên là con chung của vợ chồng, cho dù người phụ nữ sinh trước thời kì hôn nhân (sau đó được cha
mẹ thừa nhận), trong thời kì hôn nhân, sau thời kì hôn nhân (trong thời hạn luật định) theo quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 Điều luật này đã quy định thêm một trường hợp được coi là con chung của
vợ chồng, đó là trường hợp đứa trẻ được sinh
ra trước thời kì hôn nhân và được cha mẹ thừa nhận Như vậy, mỗi khi sinh con, người phụ nữ không cần phải chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ Nếu người chồng không muốn nhận đứa con đó là con của mình thì người chồng phải có chứng cứ chứng minh mình không phải là cha của đứa trẻ nếu không chứng minh được thì đứa con
đó là con chung của vợ chồng Trong trường hợp hai bên nam nữ không có hôn nhân hợp pháp, khi người phụ nữ sinh con nếu người đàn ông đó không nhận thì người mẹ phải yêu cầu toà án xác định cha cho đứa con mà
Trang 3mình đã sinh ra Nếu người mẹ không thể
yêu cầu toà án được thì một số chủ thể khác
có quyền yêu cầu thay theo quy định tại
Điều 66 Luật HN&GĐ Có thể nói trong
điều kiện xã hội hiện nay, việc pháp luật quy
định như trên là hoàn toàn phù hợp Trong
mọi trường hợp người phụ nữ luôn là đối
tượng được quan tâm, bảo vệ, đặc biệt là
thiên chức làm mẹ và quyền được làm mẹ
của họ
Trong những trường hợp đặc biệt, nếu
người phụ nữ không thực hiện được thiên
chức làm mẹ theo cách tự nhiên thì hiện nay
đã có hành làng pháp lí cho phép họ thực
hiện thiên chức đó bằng sự can thiệp của
khoa học kĩ thuật, đó là sinh con theo
phương pháp khoa học Nghị định số
12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 của Chính
phủ về sinh con theo phương pháp khoa học
(Nghị định số 12) đã quy định rất cụ thể về
vấn đề này Theo Nghị định số 12 thì không
chỉ người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh mà
người phụ nữ độc thân cũng được phép sinh
con dựa vào kĩ thuật hỗ trợ sinh sản và
đương nhiên họ được xác định là mẹ của đứa
trẻ đó Còn quan hệ cha mẹ và con giữa đứa
trẻ được sinh ra theo phương pháp khoa học
và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi
không thể được xác định về mặt pháp lí
Điều này đảm bảo quyền lợi của người phụ
nữ trong việc thực hiện thiên chức của mình
Tuy nhiên, Nghị định số 12 cũng còn một
vài điểm hạn chế Chẳng hạn, theo quy định
thì nếu người gửi tinh trùng chết thì phải huỷ
bỏ số tinh trùng của người đó Chúng tôi
thấy rằng nếu trong quá trình cặp vợ chồng
đang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết và tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ thì không nên huỷ tinh trùng nếu không có sự đồng ý của người
vợ, nếu người vợ vẫn muốn sinh con thì phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ Mặt khác, điều kiện hạn chế li hôn nên áp dụng trong trường hợp này vì li hôn sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người vợ và đứa con tương lai Tất cả đều nhằm đảm bảo quyền của người phụ nữ và trẻ em
Về mặt nuôi dưỡng, khi người phụ nữ không thể sinh con hoặc vì một lí do nào đó không sinh con thì họ vẫn có thể thực hiện quyền làm mẹ của mình bằng việc nhận nuôi con nuôi Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định một chương riêng về vấn đề này (chương 8 từ Điều 67 đến Điều 78) Điều này không chỉ xuất phát từ lợi ích của con nuôi mà còn xuất phát từ lợi ích của người
mẹ nuôi, cha nuôi Những người phụ nữ này họ được thực hiện quyền chăm sóc con cái, nuôi dưỡng con cái, và ngược lại khi họ già yếu cô đơn, họ được sự chăm sóc của con cái
5 Li hôn
Quyền yêu cầu li hôn được Luật HN&GĐ xác định là quyền của vợ, chồng Pháp luật đảm bảo quyền tự do li hôn cho vợ chồng Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho
bà mẹ và trẻ em Luật HN&GĐ đã đưa ra điều kiện hạn chế li hôn đối với người chồng trong trường hợp người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (Điều 85) Đây là quy định có sự kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 Như vậy, đối với
Trang 4vấn đề li hôn pháp luật cũng rất chú trọng
đến quyền của người phụ nữ và đảm bảo cho
quyền đó được thực hiện Nhưng nếu căn cứ
vào quy định của pháp luật thì chúng tôi thấy
rằng nếu trong trường hợp người vợ sinh con
mà không may đứa trẻ chết ngay sau sinh thì
người chồng lại không bị hạn chế li hôn với
người vợ Điều đó là không đảm bảo về mặt
tâm lí cho người vợ, bởi khi đứa con bị chết,
người mẹ sẽ rơi vào khủng hoảng tinh thần,
nếu người chồng lại yêu cầu li hôn thì có thể
sẽ càng ảnh hưởng nặng nề đến người vợ
hơn Do đó, cần có hướng quy định cụ thể
hơn Luật HN&GĐ năm 1986 quy định:
“Trong trường hợp vợ đang có thai, chồng
chỉ có thể xin li hôn sau khi vợ đã sinh con
được một năm” (Điều 41) Quy định như
vậy có thể khắc phục được hạn chế trên
Khi vợ chồng được toà án giải quyết cho
li hôn, Luật HN&GĐ đã quy định việc chăm
sóc, nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho con, về
nguyên tắc con dưới ba tuổi được giao cho
mẹ trực tiếp nuôi (Điều 92) Điều này, đảm
bảo quyền được làm mẹ, được chăm sóc con
cái, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và phù
hợp với tập quán, đạo đức truyền thống Khi
li hôn nếu một bên khó khăn, túng thiếu, có
yêu cầu, có lí do chính đáng và bên kia có
điều kiện cấp dưỡng thì vấn đề cấp dưỡng
cũng được đặt ra
6 Các trường hợp chia tài sản chung
của vợ chồng
+ Trường hợp hôn nhân còn tồn tại, khi
có lí do chính đáng Vợ chồng có quyền thoả
thuận chia tài sản chung nếu không thoả
thuận được có quyền yêu cầu toà án giải
quyết (Điều 29, 30) Luật HN&GĐ năm
2000 đã kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986 quy định cụ thể về hậu quả pháp lí khi chia tài sản chung của vợ chồng, làm cơ
sở để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng Điều này thể hiện quyền tự
do cá nhân của vợ chồng, không phụ thuộc vào nhau về tài sản, điều đó cũng thể hiện quyền của phụ nữ;
+ Trong trường hợp một trong hai bên vợ hoặc chồng chết tài sản chung có thể được chia, tuy nhiên khi việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì
có thể yêu cầu toà án chưa cho chia trong thời hạn nhất định Vợ chồng được hưởng thừa kế tài sản của nhau (Điều 31);
+ Trong trường hợp vợ chồng li hôn nếu các bên không thoả thuận được việc chia tài sản chung thì yêu cầu toà án giải quyết theo một số nguyên tắc đảm bảo quyền của phụ
nữ như chia đôi tài sản chung, lao động của
vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên (Điều 95) Tóm lại, quyền của phụ nữ được thể hiện rất rõ trong các chế định của Luật HN&GĐ năm 2000 Có thể nói vị thế của người phụ
nữ trong xã hội hiện đại ngày càng được phát huy Sự giải phóng phụ nữ, sự bình đẳng nam nữ thể hiện sự tiến bộ của xã hội Tuy nhiên, thực tế những quyền cơ bản của phụ nữ vẫn bị xâm phạm, do đó, cần có những cơ chế pháp lí chặt chẽ để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ vì sự tiến bộ của phụ nữ./