Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong luật lao động Xuất phát từ những đặc điểm riêng của các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động, ngoài những quy định chu
Trang 1ThS §ç Ng©n B×nh *
ự khác biệt về giới tính làm cho lao
động nữ có những đặc tính riêng so với
lao động nam Tính đặc thù của lao động nữ
thể hiện ở những đặc điểm về tâm sinh lí và
thể lực Xét về thể lực, nữ thường yếu hơn
nam nên họ thích hợp với các công việc nhẹ
nhàng Sự khác nhau về mặt sinh học đã tạo
cho nữ giới những chức năng riêng là mang
thai, sinh sản và cho con bú
Lao động nữ có vị trí vô cùng quan trọng
trong đời sống gia đình và xã hội Trước đây,
do tập tục và thói quen, lao động nữ ít khi
khẳng định được vai trò và tầm quan trọng
trong lĩnh vực lao động, đặc biệt là trong
công tác lãnh đạo và nghiên cứu khoa học
Ngày nay, lao động nữ ở Việt Nam đã có
mặt ở nhiều ngành nghề, kể cả những ngành
vốn được xem là độc quyền của lao động
nam Trong cơ chế thị trường, khả năng cạnh
tranh tìm việc làm của lao động nữ vẫn thấp
hơn nam giới do nhiều nguyên nhân Điều
đó đòi hỏi phải từng bước thực hiện sự bình
đẳng nam nữ thông qua các biện pháp khác
nhau, trong đó có sự điều chỉnh và định
hướng kịp thời của pháp luật lao động nhằm
bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong các
quan hệ lao động
1 Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ
quyền lợi của lao động nữ trong luật lao động
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của
các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động, ngoài những quy định chung, pháp luật lao động còn có những quy định riêng đối với lao động đặc thù, trong đó lao động nữ Việc
có những quy định riêng dành cho lao động
nữ trong Bộ luật lao động (BLLĐ), được cụ thể hoá trong các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó quan trọng nhất là Nghị định
số 23/CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ và Thông tư số 03/TT-LĐTBXH ngày 13/1/1997 của Bộ lao động - thương binh và xã hội không phải là đặc quyền của lao động nữ Thực chất đó chính là bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng
Dưới góc độ kinh tế, việc đặt ra những quy định đối với lao động nữ nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quan hệ lao động, tận dụng mọi tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động và gia đình của họ Lao động nữ ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 50,04% lực lượng lao động xã hội và có mặt ở mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế Tỉ lệ lao động
nữ nhiều hơn lao động nam sẽ kéo dài trong nhiều năm tới khi xu hướng phụ nữ tham gia
S
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2vào quá trình sản xuất xã hội ngày càng tăng
cả về số lượng và chất lượng Điều đó cho
thấy sự cần thiết của việc bảo vệ quyền lợi
lao động nữ trong luật lao động
Dưới góc độ xã hội, việc bảo vệ quyền
lợi của lao động nữ thể hiện sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước đối với lao động nữ, giúp
họ hoà nhập vào cộng đồng và có cơ hội
được làm việc, cải thiện đời sống và xây
dựng đất nước Với những chế độ ưu đãi
riêng được quy định trong luật lao động, phụ
nữ Việt Nam vừa được làm việc, vừa có điều
kiện để thực hiện chức năng làm mẹ, chăm
sóc và nuôi dạy con cái Đó là giá trị nhân
đạo lớn lao của luật lao động đồng thời cũng
là sự thể hiện của nguyên tắc kết hợp hài hoà
giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
trong lĩnh vực lao động
Dưới góc độ pháp lí, những quy định có
tính hệ thống về lao động nữ trong các văn
bản pháp luật lao động đã tạo thuận lợi cho
việc áp dụng pháp luật Lao động nữ là vấn
đề được quan tâm không chỉ vì lợi ích của
đối tượng này mà còn vì lợi ích chung của
xã hội Lợi ích này thể hiện ở việc sử dụng
một cách có hiệu quả số lượng lao động nữ
đông đảo, có văn hoá và trình độ nghề
nghiệp Đồng thời tạo điều kiện cho lao động
nữ thực hiện tốt nhất chức năng cao cả là
làm mẹ
Trong điều kiện kinh tế thị trường, người
sử dụng lao động được tự do thuê mướn lao
động, hai bên thương lượng thoả thuận bình
đẳng với nhau trong khuôn khổ pháp luật,
việc quy định quyền lợi riêng cho lao động
nữ dễ tạo ra mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế
và lợi ích xã hội Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, Nhà nước cần tính đến sự phát triển kinh tế, kết hợp với các vấn đề xã hội
và mối quan hệ giữa hai vấn đề này Tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách kinh tế
là không hợp lí, phải coi chính sách xã hội là động lực phát triển kinh tế Ngược lại, chính sách kinh tế lại là tiền đề phát triển chính sách xã hội Việc đưa ra các bảo đảm cho lao động nữ (chính sách kinh tế) là điều cần thiết nhưng phải cân nhắc mức độ trong từng thời
kì nhằm tăng tính khả thi của các quy phạm pháp luật về lao động nữ
2 Thực trạng bảo vệ quyền lợi của lao
động nữ theo pháp luật Việt Nam
Trong lĩnh vực lao động và việc làm, lao động nữ có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử về giới tính (Điều 5 BLLĐ) Việc Nhà nước quy định quyền làm việc của phụ
nữ và đảm bảo sự bình đẳng nam nữ là tiền
đề pháp lí quan trọng để tăng thêm cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ
Nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những vấn đề có tính nguyên tắc nêu trên, Điều 9 Nghị định số 23/CP ngày 18/4/1996 ghi rõ: 1) Cấm ban hành những quy định không có lợi hơn đối với lao động
nữ so với quy định của pháp luật; 2) Cấm những hành vi hạn chế khả năng tiếp nhận lao động nữ vào làm việc; 3) Cấm mạt sát, đánh đập, xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của lao động nữ trong khi làm việc
Trang 3Trong thị trường lao động, về nguyên tắc
mọi người được tự do thoả thuận về việc
làm, không ai có quyền ép buộc ai nhưng do
hoàn cảnh kinh tế xã hội, dân số tăng nhanh,
nạn thất nghiệp gia tăng, người lao động vì
nhu cầu sinh tồn, vì muốn có việc làm, buộc
phải chấp nhận những thiệt thòi khi tham gia
quan hệ lao động Đối với lao động nữ, sự
thiệt thòi của họ càng lớn do những yếu thế
riêng như sức khoẻ kém, phải đảm đương
chức năng làm mẹ, tính di chuyển cơ động
của lao động nữ không cao nên nhiều chủ
sử dụng không muốn nhận lao động nữ vào
làm việc Vì những lí do trên, việc quy định
các điều cấm ở khoản 1 và khoản 2 Điều 9
Nghị định số 23/CP là rất cần thiết Ngoài
ra, để đảm bảo tính khả thi của các quy định
trên, Điều 9 còn quy định: “Trường hợp
ng ười sử dụng lao động vi phạm các điều
c ấm quy định trên, tuỳ theo tính chất và mức
độ vi phạm sẽ bị xử lí theo quy định của
pháp lu ật”
Việc bảo vệ danh dự và nhân phẩm của
lao động nữ cũng là vấn đề được pháp luật
lao động quan tâm, bởi phụ nữ dễ bị xâm
phạm hơn lao động nam Đặc biệt, tình trạng
“lạm dụng tình dục” vẫn âm thầm xảy ra bởi
khả năng dễ bị xâm hại của lao động nữ, bởi
tính tế nhị của vấn đề và bởi cả tâm lí e ngại
không dám tố cáo của người lao động
Với các quy định có tính chất bảo vệ như
trên, lao động nữ được đảm bảo nhiều quyền
lợi hơn so với lao động nam khi đã được
nhận vào làm việc Nhưng trong quá trình
tìm kiếm việc làm, chính những quy định có
tính ưu đãi của pháp luật đã hạn chế cơ hội tìm kiếm việc làm của lao động nữ Vì vậy, Nhà nước đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ như xét giảm thuế (Điều 110 BLLĐ), cho vay với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm khi doanh nghiệp gặp khó khăn
Đáng tiếc là các quy định này mới dừng lại ở văn bản và ý tưởng của nhà làm luật mà chưa đi vào cuộc sống, vì thế vẫn chưa thực
sự khuyến khích được doanh nghiệp tuyển lao động nữ Trong thực tế, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ chưa được vay vốn, giảm thuế theo quy định Các cơ quan nhà nước chưa có sự hướng dẫn đồng
bộ, thủ tục còn rườm rà.(1) Chính sách ưu đãi chưa mang tính khả thi, đôi khi còn tăng
thêm gánh nặng cho doanh nghiệp Ví dụ:
Điều 6 Nghị định số 23/CP quy định:
“Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu tiên một phần trong tổng số vốn đầu
t ư hàng năm của doanh nghiệp để chi cho
vi ệc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ” Trong khi các doanh nghiệp đều
cần vốn để đầu tư sản xuất Vì vậy quy định này không thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội
Trong việc kí kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động, Điều 111 Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLLĐ năm 2002
quy định: “ 2) Người sử dụng lao động
ph ải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi
ng ười đó có đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm
công vi ệc phù hợp với cả nam lẫn nữ mà
doanh nghi ệp đang cần; 3) Người sử dụng
Trang 4lao động không được sa thải hoặc đơn
ph ương chấm dứt hợp đồng đối với người
lao động nữ vì lí do kết hôn, có thai, nghỉ
thai s ản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ
tr ường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt
động” Quy định tại Điều 112 BLLĐ cũng
cho phép người lao động có thai có quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà
không phải bồi thường nếu có chứng nhận
của thầy thuốc
Nhìn chung, các quy định này đã thể
hiện sự ưu đãi đối với lao động nữ trong
tuyển chọn và sử dụng lao động nhưng do
những nhược điểm của lao động nữ trong thị
trường lao động nên họ vẫn gặp nhiều khó
khăn khi kí kết hợp đồng lao động Tỉ lệ thất
nghiệp của lao động nữ luôn cao hơn lao
động nam Người sử dụng lao động chỉ nhận
lao động nữ khi họ đem lại lợi nhuận cao
hơn lao động nam chứ không phải do những
ưu đãi do pháp luật quy định Phụ nữ thường
là người cuối cùng được thuê và là người
đầu tiên bị thải hồi.(2) Trong thực tế, quy
định người sử dụng lao động phải ưu tiên
nhận lao động nữ vào làm việc vẫn chưa có
cơ chế đảm bảo thực hiện
Trong việc trả lương cho lao động nữ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLLĐ
thì “Người sử dụng lao động phải thực hiện
s ử dụng, nâng bậc lương và trả công lao
động” Điều 18 Nghị định số 114/CP ngày
31/12/2002 hướng dẫn về tiền lương chỉ rõ
lao động nữ nếu làm công việc như lao động
nam thì được trả lương như nhau Quy định
như vậy bởi trong thực tế, lao động nữ thường bị vi phạm về việc trả lương và phải chấp nhận mức lương thấp hơn lao động nam để được vào làm việc hoặc giữ chỗ làm
Ở Việt Nam, mức lương bình quân của lao động nữ chỉ bằng 75% lương bình quân của nam giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Trước hết là chuyên môn nghiệp vụ của lao động nữ thường thấp do phải chăm sóc gia đình nên ít có cơ hội học tập, nâng cao tay nghề Thêm vào đó, vì muốn làm việc gần nhà, không muốn di chuyển nhiều để tiện chăm sóc con cái nên lao động nữ phải chấp nhận làm công việc không đúng chuyên môn hoặc có mức lương thấp Còn nhiều lí do khác làm cho lao động
nữ ít có cơ hội thăng tiến và tăng thu nhập Trong lĩnh vực bảo hộ lao động, để bảo
vệ quyền lợi cho lao động nữ, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 45 (năm 1953) về việc cấm sử dụng lao động dưới lòng đất Ngoài ra, còn có các quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của lao động nữ trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động Theo quy định tại Thông tư số 03/TT-LB ngày 28/1/1994 của Bộ lao động - thương binh và
xã hội và Bộ y tế, người sử dụng không được
bố trí lao động nữ làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại
có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con Kèm theo Thông tư này còn có danh mục những công việc không được sử dụng lao động nữ Ngoài ra, Điều 115 BLLĐ
quy định: “1) Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ có thai từ tháng
Trang 5th ứ 7 hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi
làm thêm gi ờ, làm việc ban đêm và đi công
n ặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy,
được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc
được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày
mà v ẫn hưởng đủ lương” Nhìn chung, các
quy định này chỉ phù hợp trong trường hợp
hưởng lương theo thời gian Nếu hưởng
lương sản phẩm hay lương khoán, các quy
định này không phát huy tác dụng do lao
động nữ vẫn phải hoàn thành định mức lao
động để đảm bảo đủ lương
Người sử dụng lao động ở những nơi sử
dụng nhiều lao động nữ còn phải có các
trách nhiệm khác như thiết kế chỗ thay quần
áo, buồng vệ sinh, tổ chức các nhà trẻ, lớp
mẫu giáo (Điều 116 BLLĐ) Nhìn ở khía
cạnh tích cực, các quy định này đã góp phần
bảo vệ quyền lợi của lao động nữ Nhưng ở
khía cạnh ngược lại, các quy định trên đã tạo
cho doanh nghiệp tâm lí “ngại” sử dụng lao
động nữ, trừ những ngành nghề buộc phải
nhận lao động nữ do khả năng làm việc của
lao động nữ tốt hơn
Điều kiện làm việc của lao động nữ hiện
nay đã được cải thiện hơn trước rất nhiều
Nhưng ở nhiều nơi, sức khoẻ của lao động
nữ vẫn không được đảm bảo Do khả năng
tài chính hạn chế, nhiều doanh nghiệp không
đảm bảo các điều kiện bảo hộ lao động tối
thiểu cho người lao động, chị em được cấp
phát không đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động
cá nhân, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật bị
cắt xén, việc khám sức khoẻ định kì chỉ
mang tính hình thức Đặc biệt, nhiều chị em sau khi khám và phát hiện bị mắc bệnh nghề nghiệp vẫn không được điều trị kịp thời hay điều chuyển làm công việc khác theo quy định Ở nhiều nơi, nhất là tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tình trạng phụ nữ
bị huy động làm thêm giờ vượt quá quy định tối đa của Nhà nước vẫn phổ biến Người lao động nữ vì nhu cầu cuộc sống hoặc sợ bị mất việc làm buộc phải làm thêm trái quy định của pháp luật Thực trạng trên buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đánh giá lại hiệu quả áp dụng của các quy định về bảo
hộ lao động đối với lao động nữ trong thức
tế để có cơ chế phù hợp hơn
Trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, so với một số nước trong khu vực, pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam tạo nhiều thuận lợi cho lao động
nữ.(3) Lao động nữ khi có con nhỏ dưới 7 tuổi bị ốm được nghỉ tối đa là 15 hoặc 20 ngày trong một năm, hưởng 75% lương Lao động nữ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh được hưởng chế độ thai sản Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ năm 2002, chế độ này được áp dụng khi sinh con nói chung, không nhất thiết phải
là con thứ nhất hay thứ hai như trước kia Cũng theo Luật sửa đổi, bổ sung và Nghị định số 01/CP ngày 9/1/2003 về bảo hiểm xã hội, lao động nữ nghỉ hưu trước nam giới 5 năm vẫn có thể được hưởng tỉ lệ % lương hưu như nam giới, do mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội sau 15 năm được tính thêm 3%, trong khi nam giới chỉ được tính 2%
Trang 6Nhìn chung, các quy định về bảo hiểm
xã hội có xu hướng bảo vệ quyền lợi của lao
động nữ ở mức độ ngày càng cao Điều này
cũng phù hợp với tính chất của bảo hiểm xã
hội là tương trợ cộng đồng, nhấn mạnh lợi
ích xã hội Tuy vậy, vẫn không thể tránh
khỏi những hạn chế nhất định trong pháp
luật hiện hành Cụ thể là do phải về hưu sớm
hơn lao động nam nên lao động nữ thường
có mức lương thấp hơn, do đó mức lương
hưu cũng thấp hơn Chế độ thai sản quy định
còn nhiều điểm chưa hợp lí về trợ cấp thêm
1 tháng lương cho người lao động Việc lao
động nữ chỉ được hưởng chế độ ốm đau với
mức 75% lương khi thực hiện các biện pháp
kế hoạch hoá gia đình là không phù hợp
Điều đó đã đặt ra yêu cầu khách quan cần
nhanh chóng hoàn thiện các quy định của
pháp luật lao động nói chung và pháp luật về
bảo hiểm xã hội nói riêng trong việc bảo vệ
quyền lợi của lao động nữ
3 Một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền
lợi của lao động nữ
Để tăng tính phù hợp và khả thi của pháp
luật lao động trong việc bảo vệ quyền lợi của
lao động nữ, cần một hệ thống giải pháp toàn
diện bao gồm ban hành pháp luật, tổ chức
thực hiện và giám sát, xử lí vi phạm Trong
khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu ra
một số kiến nghị sau:
Th ứ nhất, để tạo điều kiện cho lao động
nữ có cơ hội tìm kiếm việc làm không thể
chỉ đặt ra các yêu cầu có tính bắt buộc đối
với doanh nghiệp mà quan trọng hơn là phải
đào tạo nghề, chuyên môn vững vàng cho
lao động nữ Khi đó doanh nghiệp sẽ tự giác nhận lao động nữ mà không cần các quy định và chế tài Muốn vậy, Nhà nước cần có chính sách đào tạo nghề cho lao động nữ, coi
đó là trách nhiệm của toàn xã hội, không phải chỉ của doanh nghiệp Việc đào tạo nghề cần có sự hỗ trợ của các trung tâm đào tạo nghề và trợ giúp kinh phí từ ngân sách nhà nước Đào tạo nghề có thể được thực hiện trước khi lao động nữ vào làm việc, hoặc trong quá trình làm việc nhằm nâng cao tay nghề cho lao động nữ Do đặc điểm tâm sinh lí của phụ nữ và thiên chức của họ, các doanh nghiệp có thể bố trí cho họ học tập, nâng cao tay nghề sớm để sau đó họ có thể lập gia đình, sinh đẻ
Trong lĩnh vực việc làm và tuyển dụng lao động, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đối với việc tuyển và sử dụng lao động
nữ chưa được quy định cụ thể và thiếu các chế tài cần thiết để xử lí những vi phạm pháp luật nên tính khả thi của các quy phạm chưa
cao Ví dụ: Pháp luật quy định trách nhiệm
của người sử dụng lao động trong việc nghiên cứu những nghề mà người lao động
nữ không được làm tại doanh nghiệp nhưng lại không quy định nghiên cứu như thế nào, trong thời gian bao lâu, cơ chế giám sát, nghiệm thu như thế nào Dó đó, cần cụ thể hoá vấn đề này để các ý tưởng tốt đẹp trên được triển khai trong thực tế Đặc biệt, việc cho vay vốn với lãi suất thấp, giảm thuế đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ cần được quy định cụ thể, hướng dẫn đồng
bộ và đơn giản hoá về mặt thủ tục để tạo
Trang 7thuận lợi trong quá trình áp dụng
Th ứ hai, trong việc trả lương và thực
hiện bảo hộ lao động đối với lao động nữ, để
các ưu đãi đối với lao động nữ được thực
hiện, cần cụ thể hoá các quy định này trong
thoả ước tập thể của doanh nghiệp Nên chăng
cần quy định vấn đề này như một điều khoản
có tính bắt buộc trong nội dung của thoả ước
tập thể Chỉ khi có sự hiện diện của các quy
định này trong thoả ước tập thể, cũng như có
sự tham gia tích cực của công đoàn cấp cơ sở
trong việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ thì
các quy định về bảo đảm thu nhập và an toàn
vệ sinh lao động của lao động nữ mới được
thực hiện tốt tại doanh nghiệp
Th ứ ba, đối với việc thực hiện các chế độ
bảo hiểm xã hội cho lao động nữ Bảo hiểm
xã hội với các tính chất đặc thù, khả năng tài
chính độc lập và cơ chế thu chi hợp lí là cơ
quan có khả năng cao nhất trong việc bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ khi tham gia quan hệ
lao động Về vấn đề này, có nhiều ý kiến cho
rằng nên áp dụng chế độ thai sản đối với lao
động nữ khi thực hiện các biện pháp kế
hoạch hóa gia đình như nạo, hút, đặt vòng
tránh thai Điều này phản ánh đúng vai trò
của chế độ thai sản là bảo vệ sức khoẻ sinh
sản của phụ nữ, giúp họ thực hiện tốt hơn
thiên chức làm vợ, làm mẹ Đối với lao động
nữ làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc
hại dẫn đến mất sữa khi sinh con hoặc bị chỉ
định không được cho trẻ sơ sinh bú sữa mẹ,
cần quy định thêm chế độ trợ cấp mất sữa
cho lao động nữ Mức trợ cấp cụ thể còn là
vấn đề cần được nghiên cứu nhưng đây thực
sự là nguyện vọng chính đáng của lao động
nữ để bảo vệ sức khoẻ và sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ sau khi sinh
Trong việc thực hiện chế độ hưu trí đối với lao động nữ, theo chúng tôi, nên tăng độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ làm công tác lãnh đạo, quản lí hay nghiên cứu khoa học bằng với độ tuổi của lao động nam Điều này vừa giúp sử dụng tốt chất xám của lao động nữ, vừa tạo cho họ khả năng cống hiến,
bù đắp lại khoảng thời gian nghỉ sinh con và nuôi con nhỏ Sức khoẻ của chị em trong lĩnh vực lao động trí óc không bị ảnh hưởng
do việc kéo dài độ tuổi nghỉ hưu còn đối với chị em lao động chủ yếu dùng sức cơ bắp do sức khoẻ giảm sút vẫn có thể được nghỉ hưu sớm Tóm lại, quy định về độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ cần linh hoạt hơn, không cứng nhắc như hiện nay để tạo thuận lợi áp dụng trong những trường hợp cụ thể
Trên đây là một vài ý kiến nhằm góp phần thực hiện tốt hơn việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ theo pháp luật lao động Hi vọng việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành theo một số gợi ý trên sẽ đáp ứng mong muốn của chị em phụ nữ, góp phần vì sự tiến
bộ chung của phụ nữ Việt Nam./
(1).Xem: Báo cáo tình hình thực hiện chế độ
năm 1998
(2) Xem: Mary Chinery Hesce, Tạp chí lao động và
xã hội, số 4/1996
(3) Xem: Viện nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ tư
pháp, “Chuyên đề về Bộ luật lao động 1994 của
Vi ệt Nam”