1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam " potx

8 481 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 168,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện như vậy, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Convention on the Eliminnation All Forms of Discrimination Against Women - viết tắt là CEDAW được x

Trang 1

ts lª mai anh * rong thế giới hiện đại, xu thế phát

triển của luật quốc tế về quyền con

người đang ngày càng tăng cường và mở

rộng phạm vi các quyền bình đẳng của

phụ nữ Một loạt các văn kiện pháp lí quốc

tế quan trọng như Tuyên ngôn thế giới về

quyền con người năm 1948, Công ước về

các quyền dân sự, chính trị năm1966,

Công ước về các quyền kinh tế, xã hội,

văn hóa năm 1966 đều dựa trên cơ sở đề

cao sự bình đẳng về nhân phẩm và các

quyền cho phụ nữ Trong điều kiện như

vậy, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức

phân biệt đối xử với phụ nữ (Convention

on the Eliminnation All Forms of

Discrimination Against Women - viết tắt

là CEDAW) được xây dựng nhằm bảo vệ

ở phạm vi rộng lớn các quyền của phụ nữ,

trước hết là bảo đảm cho phụ nữ được

sống an toàn, tự do, phát triển bền vững,

với việc đặc biệt nhấn mạnh bảo đảm sự

bình đẳng đối với phụ nữ trong hưởng thụ

các quyền cơ bản của con người

Song trên thực tế, ở nhiều quốc gia và

ở nhiều lĩnh vực hoạt động, phụ nữ vẫn

luôn là nạn nhân của sự bất bình đẳng

Tình trạng này trở nên trầm trọng hơn bởi

sự tồn tại của nạn phân biệt đối xử trong

gia đình, ở nơi làm việc và ở cả cộng

đồng Vì vậy, nỗ lực của cộng đồng quốc

tế là thông qua việc xây dựng các khung pháp luật quốc gia cũng như quốc tế, với sự trợ giúp hiệu quả của các thiết chế phù hợp để cải thiện tình trạng hiện nay đồng thời tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp, kể cả pháp lí, trên tất cả các lĩnh vực để đảm bảo cho sự tiến bộ và phát triển đầy đủ của các quyền mà phụ nữ được hưởng theo quy định của pháp luật, nhất là những quyền đã được pháp điển hóa trong CEDAW

1 Các quyền bình đẳng của phụ nữ theo CEDAW

Có thể khẳng định rằng trong số các văn kiện pháp lí quốc tế về quyền con người, CEDAW là văn bản quan trọng nhất do Liên hợp quốc thông qua đã đề cập một cách toàn diện, cụ thể đến các quyền con người cơ bản của đối tượng dân cư chiếm hơn 1/2 tổng số nhân loại Điều này đem lại sức mạnh pháp lí quốc tế cũng như sự phổ cập rộng rãi của Công ước trong đời sống quốc tế

Với cơ cấu gồm Lời nói đầu, 6 phần và 30 điều khoản, Công ước đã điều chỉnh các quyền của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quan trọng hơn là quyền bình đẳng của phụ nữ nhằm chống lại sự phân biệt đối xử trong các

T

* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế

Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

lĩnh vực nêu trên

Khái niệm bình đẳng hiện nay trong

các công ước quốc tế về quyền con người

mang một ý nghĩa rộng lớn là sự đối xử

theo cùng một cách thức với tất cả mọi

người mà Tuyên ngôn thế giới về nhân

quyền năm 1948 của Liên hợp quốc đã

khẳng định: “Mọi người sinh ra đều tự do

và bình đẳng về phẩm giá và các quyền ”

(Điều 1), do đó “Tất cả mọi người đều

bình đẳng trước pháp luật và được pháp

luật bảo vệ một cách bình đẳng, không có

bất kì sự phân biệt nào ” (Điều 7)

Trong CEDAW, khái niệm bình đẳng

về quyền của phụ nữ được đề cập không

phải chỉ theo nghĩa thông thường là bình

đẳng về pháp lí Bằng cách nhìn riêng đối

với đối tượng là những người dễ bị tổn

thương trong xã hội, Công ước đã tiến đến

thiết lập hệ thống những mục tiêu thiết thực

cho sự bình đẳng về quyền của phụ nữ là

bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về kết

quả trong hưởng các quyền ở các lĩnh vực

hoạt động xã hội, bao gồm:

* Bình đẳng trong đời sống chính trị

và công cộng ở cả hai cấp độ, quốc gia và

quốc tế

Ở cấp độ quốc gia, quy định của

Công ước về yêu cầu đối với nghĩa vụ

của các quốc gia thành viên là phải hành

động nhằm tạo lập cho phụ nữ vị thế bình

đẳng để thực hiện các quyền trong đời

sống chính trị và công cộng như quyền

bầu cử, ứng cử ở các cuộc tuyển cử công

khai, dân chủ

Bằng quy định tại các điều 7, 8,

CEDAW song song với việc xác định hành động thực tế của các quốc gia phải loại bỏ những hạn chế về giới trong các cương vị nhất định, thúc đẩy tốc độ phát triển của phụ nữ và thiết lập các chương trình quốc gia nhằm thu hút số lượng đáng kể phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo chính trị tại quốc gia mình, còn đặt

ra cho mỗi quốc gia thành viên các nghĩa vụ phải tạo các điều kiện và cơ hội để phụ nữ có được sự đại diện một cách xứng đáng trong các cuộc tiếp xúc hoặc tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế

* Bình đẳng trong điều chỉnh pháp lí các vấn đề liên quan đến quốc tịch của phụ nữ và các con của họ

Đây là một trong số các vấn đề chính trị - pháp lí quan trọng, liên quan đến vị thế của người phụ nữ trong các mối quan hệ gia đình

và xã hội Điều 9 của Công ước xác nhận:

“1 Các nước thành viên công ước phải đảm bảo cho phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới trong việc nhập, thay đổi quốc tịch hay giữ nguyên quốc tịch của mình Các nước phải đặc biệt đảm bảo là việc kết hôn với người nước ngoài, hay sự thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân sẽ không mặc nhiên làm thay đổi quốc tịch của người vợ, biến người vợ thành người không quốc tịch hay ép buộc người vợ phải theo quốc tịch của người chồng

2 Các nước thành viên công ước phải đảm bảo cho phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong vấn đề quốc tịch của con họ”

Trong mối quan hệ pháp luật về quốc tịch liên quan đến phụ nữ, sự bình đẳng của họ chỉ

có thể đạt được như quy định của Công ước

Trang 3

khi quốc gia thành viên thực hiện đúng hai

nghĩa vụ mang tính hiến định là bảo đảm

cho phụ nữ các quyền giống như nam giới

trong việc nhận, thay đổi hoặc giữ quốc

tịch của cá nhân họ và trong khi quyết định

quốc tịch của con mà họ sinh ra

Trên thực tế, quyền bình đẳng về quốc

tịch của phụ nữ chưa hoàn toàn có được

sự đảm bảo hữu hiệu ở một số quốc gia, vì

vẫn có quốc gia trong pháp luật của mình,

duy trì sự phân biệt đối xử với phụ nữ

bằng quy định cho phép phụ nữ nước

ngoài có thể nhập quốc tịch của quốc gia

mà người chồng là công dân khi kết hôn

với người này nhưng không cho phép nam

giới nhập quốc tịch của nước người vợ là

công dân khi kết hôn với người phụ nữ đó

Kết quả là trong rất nhiều trường hợp,

người vợ lại buộc phải dời đến sinh sống

tại quốc gia của người chồng mà họ kết

hôn, còn nam giới dù có lấy vợ là công

dân nước ngoài nhưng vẫn không phải dời

khỏi tổ quốc của mình Tương tự tình

trạng nêu trên, tại một số quốc gia, trẻ em

vẫn đương nhiên được có quốc tịch của

người cha mà không cần biết đến quốc

tịch của người mẹ

Nhằm hướng đến thực thi nghiêm

chỉnh Điều 9 của Công ước, vấn đề cần

phải thực hiện với những quốc gia hiện

vẫn còn sự bất bình đẳng như vậy trong

pháp luật là phải thiết lập về pháp lí sự

bình đẳng chính thức giữa nam và nữ đối

với việc nhận, giữ, thay đổi quốc tịch

trong các quan hệ giữa vợ và chồng, giữa

cha mẹ và các con của họ

* Bình đẳng về các quyền trong lao động

và việc làm

Trong CEDAW, quyền bình đẳng trong lao động và việc làm của phụ nữ được xem xét và ghi nhận ở rất nhiều nội dung như quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, quyền

tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền bình đẳng

về tiền lương và hưởng các trợ cấp nghề nghiệp, quyền được bảo vệ để tránh khỏi bị xâm hại, nhất là chống lại nạn quấy rối tình dục tại nơi làm việc do các đồng nghiệp nam giới thực hiện Song, để những quyền nêu trên trở thành hiện hữu trong đời sống của phụ nữ, CEDAW còn đặc biệt ghi nhận một quyền bình đẳng khác của phụ nữ, đó là:

* Quyền bình đẳng về giáo dục

Đối với người phụ nữ thì đây là cơ sở quan trọng để pháp luật cũng như xã hội trao cho họ các quyền thực sự, trên tất cả các lĩnh vực, tại nơi làm việc, trong gia đình và ngoài

xã hội Bởi vì, thông qua giáo dục, những truyền thống hay tín ngưỡng có tính chất duy trì sự bất bình đẳng về giới mới có thể được thay thế bằng các nhận thức tiên tiến, giúp cho việc đẩy lùi và phá vỡ những tàn dư của nạn phân biệt đối xử với phụ nữ, vốn tồn tại

từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng dân cư của từng quốc gia

Đối với nghĩa vụ của các quốc gia là thành viên Công ước, sự bảo đảm thực thi quy định của Công ước về lĩnh vực này bao hàm

ba vấn đề cơ bản Thứ nhất là nghĩa vụ của quốc gia bảo đảm sự bình đẳng về quyền được tham gia học tập và quyền được giáo dục, đào tạo của các học sinh nữ Thứ hai là nghĩa vụ của quốc gia trong việc loại bỏ sự

Trang 4

bất bình đẳng về giới thông qua hệ thống

giáo dục quốc dân Thứ ba là nghĩa vụ của

quốc gia trong việc xóa bỏ các khoảng

trống, tồn tại trong các cấp giáo dục giữa

nam và nữ, ví dụ, bảo đảm cho các học

sinh nữ được quyền tham dự các khóa học

đặc biệt theo những chương trình của

chính phủ

* Bình đẳng về các vấn đề dân sự và

pháp lí

Đối với nhiều quốc gia, đây là lĩnh

vực mà phụ nữ thường bị phân biệt đối xử

Chẳng hạn, ở một số nước, phụ nữ không

có quyền sở hữu về tài sản, không có

quyền kí kết hợp đồng nhân danh cá nhân

Trong lĩnh vực quan hệ pháp luật gia đình,

tại nhiều quốc gia, phụ nữ vẫn bị cưỡng

bức kết hôn, không có quyền bình đẳng

với nam giới trong việc li hôn, thậm chí

phải chịu đựng tệ nạn bạo lực gia đình và

các tục lệ, tập quán truyền thống có hại

cho sức khỏe như tục cắt bỏ bộ phận sinh

dục nữ (FGM), tục tảo hôn, mang thai

sớm

Thường thì những sự phân biệt đối xử

như vậy đối với phụ nữ xuất phát từ

những tập tục truyền thống lâu đời, có sức

ỳ cao và rất khó xâm nhập để thay đổi

chúng nhằm mang lại cho phụ nữ sự giải

phóng thực sự Do đó, việc CEDAW trực

tiếp ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ

về dân sự và pháp lí có ý nghĩa bảo đảm

cho phụ nữ có được đầy đủ các quyền mà

pháp luật thừa nhận trong các quan hệ gia

đình cũng như xã hội

Phù hợp với sự ghi nhận đó, Công ước

quy định các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ áp dụng tích cực những biện pháp để phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong các mối quan hệ có tính chất dân sự, như tự do lựa chọn nơi cư trú, quyền tự quyết trong các quan hệ về sở hữu tài sản, quan hệ hôn nhân - gia đình, nhất là trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến hạnh phúc cá nhân của

họ như việc sinh con, nuôi dạy con

Bên cạnh việc ghi nhận quyền bình dẳng chung của phụ nữ về dân sự - pháp lí, Công ước dành sự quan tâm đáng kể đối với đối tượng là phụ nữ sống ở các vùng nông thôn Điều 14 của Công ước xác nhận, phụ nữ nông thôn thuộc nhóm phụ nữ có những vấn đề cần được sự quan tâm đặc biệt của chính phủ các nước, bởi họ chính là những người phải chịu đựng nhiều nhất gánh nặng của sự bất bình đẳng về nhiều lĩnh vực, nhất là việc chỉ được hưởng quá ít, thậm chí là không được hưởng thành quả lao động của bản thân hay lợi ích từ

sự phát triển Vì vậy, Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng các kế hoạch hành động để bảo đảm cho phụ nữ nông thôn có được những điều kiện sống thích đáng, tạo điều kiện để họ được tham gia vào các chương trình phát triển, giáo dục đào tạo cũng như được hưởng thụ lợi ích từ sự phát triển nông thôn

So với các văn kiện pháp lí quốc tế khác

về quyền con người, trong đó có quyền của phụ nữ, tại CEDAW, lần đầu tiên, các quyền của phụ nữ được đề cập một cách cụ thể, toàn diện trong 14 điều (từ Điều 2 đến Điều 16), với sự nhấn mạnh đặc biệt góc độ bình đẳng của việc hưởng các quyền đó bằng tư duy

Trang 5

khoa học, nhân văn và tiến bộ Đó là đặt

việc tạo lập sự bình đẳng về giới vào trong

mối tương quan với các yếu tố truyền

thống, văn hóa, bản sắc dân tộc và yếu tố

thời đại CEDAW còn có giá trị pháp lí to

lớn khác là đã quy định chặt chẽ những

nghĩa vụ pháp lí cụ thể cho từng quốc gia

thành viên trong việc thực hiện các quyền

con người cơ bản của phụ nữ Điều này

làm cho Công ước phát huy hiệu quả vai

trò của công cụ hợp tác đa phương trong

điều chỉnh quan hệ pháp lí quốc tế giữa

các quốc gia về thực hiện, phát triển các

quyền của phụ nữ tại từng quốc gia cũng

như tại các khuôn khổ hợp tác quốc tế khu

vực và toàn cầu Hơn 20 năm qua, Công

ước vẫn đang chứng tỏ được tầm quan

trọng của mình thông qua những tác động

tích cực đến đời sống của hàng trăm triệu

phụ nữ trên toàn hành tinh

2 Thực hiện các quyền bình đẳng

cơ bản của phụ nữ theo CEDAW tại

Việt Nam

Ngày 27/11/1981, Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam chính thức phê chuẩn

CEDAW và trở thành thành viên thứ 35

của Công ước này Việc phê chuẩn và trở

thành thành viên chính thức của CEDAW

có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát

triển pháp luật về quyền còn người, đối

với tạo dựng hành lang pháp lí quan trọng

cho việc bảo đảm các quyền bình đẳng của

phụ nữ, đồng thời là yếu tố quốc tế thúc

đẩy việc xây dựng cơ chế quốc gia về bảo

vệ, phát triển các quyền của phụ nữ, góp

phần xây dựng và thực hiện chiến lược

quốc gia về phát triển phụ nữ tại Việt Nam

Từ phương diện thành viên Công ước, có thể đánh giá một cách cơ bản việc thực hiện các quyền bình đẳng đối với phụ nữ theo quy định của Công ước tại Việt Nam như sau: Nhận xét chung là hiện nay ở Việt Nam, bảo đảm thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ đã thực sự trở thành nguyên tắc chủ đạo, có giá trị chi phối toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia về quyền con người và được bảo đảm thực thi trên thực tế bằng nhiều biện pháp thiết thực Qua các báo cáo quốc gia hàng năm về thực thi CEDAW của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế về quyền con người,

có thể thấy rõ rằng Việt Nam luôn coi việc thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước

Căn cứ vào quy định của điều 7, 8 của Công ước thì hiện tại số phụ nữ nước ta tham gia vào lĩnh vực hoạt động chính trị ngày càng nhiều, với sự có mặt ở tất cả các cấp, các vị trí

xã hội khác nhau Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đứng thứ chín trên tổng số 135 nước trên thế giới về có tỉ lệ nữ là đại biểu trong Quốc hội

Số phụ nữ tham gia các cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng chiếm tỉ lệ đáng kể, với 11,9% nữ là bộ trưởng và cấp tương đương, 3,3% nữ là chủ tịch tỉnh, 45% nữ là tổng giám đốc Bên cạnh đó, trong hội nhập thế giới và khu vực, các hoạt động đối ngoại của Việt Nam có sự tham gia tích cực và ngày càng tăng của phụ nữ Tỉ lệ phụ nữ đại diện cho Việt Nam tham gia các cuộc họp của ASEAN, Liên hợp quốc và nhiều các tổ chức,

Trang 6

diễn đàn quốc tế khác đang tăng lên Hiện

có một số lượng đáng kể cán bộ nữ các bộ,

ngành đang tham gia trong quá trình

chuẩn bị cho Việt Nam trở thành thành

viên chính thức của WTO

Trong lĩnh vực lao động và việc làm,

những chính sách mới về kinh tế của

Nhà nước đã thực sự đem lại cho phụ nữ

cơ hội để tham gia nhiều hơn vào các

hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước

Ví dụ, từ 1996 đến nay, chỉ tính riêng tỉ

lệ thất nghiệp của lao động nữ ở Việt

Nam đã thấp hơn so với tỉ lệ thất nghiệp

chung là 7,5%

Cùng với việc tạo cơ hội để phụ nữ

tham gia làm việc, Nhà nước cũng ban

hành các chính sách, quy định pháp luật

phù hợp để bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ

trong lĩnh vực bảo hiểm, y tế, chẳng hạn,

Việt Nam là một trong số các quốc gia có

nhiều ưu tiên cho phụ nữ trong lĩnh vực

nghỉ thai sản Các quy định về chế độ

nghỉ hưu của nữ cũng được ưu tiên trên

cơ sở đặc trưng về giới nhằm bảo đảm

sức khỏe cho phụ nữ Trên thực tế, các

cấp, hội phụ nữ thường xuyên có các

chương trình hoạt động cụ thể để chăm

lo, bảo vệ sức khỏe sinh sản tại cộng

đồng, kết hợp cùng các hoạt động truyền

thông khác để phụ nữ được hưởng sự

chăm sóc chung của toàn xã hội đối với

nguồn nhân lực chiếm vị trí quan trọng

trong phát triển kinh tế đất nước

Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, phụ

nữ ở Việt Nam cũng đã nhận được sự

quan tâm đáng kể của Nhà nước và xã hội

Việt Nam hiện có một đội ngũ cán bộ nữ có trình độ học vấn cao, cụ thể, tỉ lệ giáo sư, phó giáo sư là nữ chiếm khoảng 9,3%, là tiến sĩ trong các ngành khoa học khoảng 17,6% Trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống

xã hội, vai trò cũng như quyền bình đẳng của phụ nữ ngày càng được đảm bảo nhiều hơn Các báo cáo quốc gia lần thứ hai, ba, bốn và

dự thảo báo cáo quốc gia năm 2003 về tình hình thực hiện CEDAW của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đã khẳng định, chính sách và pháp luật của Việt Nam đã bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng với nam giới trong hưởng thụ các phúc lợi gia đình và xã hội Trong các gia đình Việt Nam hiện tại, phúc lợi gia đình được coi là của chung, các thành viên đều được hưởng thụ, không phân biệt nam hay nữ Pháp luật Việt Nam quy định, phụ nữ có quyền bình đẳng như nam

giới trong các quan hệ tín dụng và tài sản, Ví

dụ, bắt đầu từ năm 1999, Nhà nước công bố

chính sách cho vay mức dưới 10 triệu đồng không cần thế chấp đã tạo thuận lợi cho phụ

nữ có điều kiện tự chủ tham gia quan hệ tín dụng để phát triển và làm kinh tế gia đình Riêng đối với phụ nữ nông thôn, lực lượng lao động chiếm 50,8% dân số và 51,3% lực lượng lao động ở nông thôn Việt Nam thì trong những năm qua, Nhà nước đang có nhiều cố gắng lớn trong việc loại bỏ khoảng cách giới cũng như sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị để tạo điều kiện vừa xóa đói giảm nghèo, vừa để phụ nữ nông thôn được hưởng những thành quả tốt đẹp từ sự phát triển kinh

tế nông thôn Với sự triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở một cách sâu rộng trên quy

Trang 7

mô toàn quốc, phụ nữ ở các vùng nông

thôn đã được quyền tham gia trực tiếp vào

xây dựng kế hoạch phát triển của địa

phương Công tác khuyến nông, khuyến

lâm thời gian qua được đẩy mạnh đã giúp

phụ nữ nông thôn nâng cao kiến thức khoa

học kĩ thuật, tổ chức sản xuất Từ thực

hiện các chương trình này, các cấp hội và

đoàn thể như hội nông dân, hội phụ nữ của

các địa phương đã giúp một phần quan

trọng để phụ nữ nghèo phát triển kinh tế

gia đình, góp phần đem lại thay đổi cơ bản

cho đời sống của phụ nữ nông thôn Việt

Nam

Địa vị pháp lí của phụ nữ trong các

quan hệ pháp luật dân sự luôn được pháp

luật bảo hộ, với việc thừa nhận và tạo

thuận lợi để phụ nữ được bình đẳng với

nam giới khi giao kết, thực hiện quan hệ

hợp đồng, quản lí, sở hữu đất đai, tài sản,

thành lập, quản lí doanh nghiệp Ví dụ,

Điều 27 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam

năm 2000 quy định, phụ nữ có quyền

đứng tên cùng chồng trên các giấy tờ

chứng nhận quyền sở hữu đối với một số

tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc

trên thực tế, nhiều năm trở lại đây, số

lượng các hợp đồng dân sự do phụ nữ là

chủ thể đứng ra giao kết ngày càng nhiều

Rồi từ việc các tổ chức tín dụng quy định

cho phép phụ nữ nghèo không có vốn

được vay một khoản tiền nhỏ để phát triển

kinh tế gia đình đều đã tạo ra những

chuyển biến đáng kể trong các quan hệ gia

đình và xã hội, góp phần xóa bỏ tình trạng

phân biệt đối xử hay coi thường phụ nữ

nông thôn trong các quan hệ dân sự - kinh tế

và tạo điều kiện đưa quy định của công ước vào đời sống cộng đồng của nông thôn Việt Nam

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, vị trí quan trọng của phụ nữ Việt Nam đã được khẳng định Pháp luật cũng như thực tiễn thực thi pháp luật ở Việt Nam tạo ra cho phụ nữ sự bình đẳng về nhiều lĩnh vực trong quan hệ gia đình, đó là sự bình đẳng giữa vợ, chồng về lựa chọn nơi cư trú và chỗ ở chung, về tự do tín ngưỡng, về quyền được học tập, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn để có cơ hội độc lập tham gia vào các hoạt động xã hội và điều đặc biệt quan trọng nữa là quyền bình đẳng của phụ nữ trong các quan hệ tài sản Luật hôn nhân gia đình mới của Việt Nam là

cơ sở pháp lí cơ bản xác lập và bảo đảm thực hiện các quyền về tài sản của phụ nữ như quyền có tài sản riêng, quyền được thiết lập các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ và chồng, quyền được chia tài sản, đất đai, nhà ở sau khi li hôn

Ngoài lĩnh vực gia đình, các quyền dân sự khác của phụ nữ ở Việt Nam như quyền có quốc tịch, quyền tự do đi lại, tự do cư trú, quyền ra nước ngoài cũng đều được Nhà nước Việt Nam bảo đảm thực hiện với cơ chế thuận lợi và thực tế

Đánh giá một cách tổng quát, công cuộc đổi mới toàn diện cùng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kì từ

1991 đến nay đạt được những thành tựu nổi bật về nhiều lĩnh vực, trong đó bao gồm cả thành tựu lớn về bảo vệ, phát triển quyền con người Trong vòng hơn hai mươi năm, kể từ

Trang 8

khi gia nhập công ước đầu tiên về quyền

con người đến nay, Việt Nam đã là thành

viên của năm công ước chính về quyền

con người, trong đó có CEDAW Chủ

trương và hành động thực tế tham gia các

văn kiện pháp lí đó luôn chứng tỏ quyết

tâm rất cao của Nhà nước ta trong việc

thực hiện ngày càng tốt hơn các quy định

về quyền con người, được cộng đồng quốc

tế thừa nhận Riêng đối với CEDAW, chỉ

trong vòng hai năm (2000 - 2002), chúng

ta đã bảo vệ thành công các báo cáo quốc

gia về thực thi Công ước này tại Việt Nam

trước các thiết chế quốc tế Có thể thấy, từ

góc độ là thành viên Công ước, Nhà nước

ta đã thực hiện tốt nhiều nghĩa vụ thành

viên như nghĩa vụ xây dựng, hoàn thiện hệ

thống pháp luật quốc gia về các quyền của

phụ nữ được đặt trong chiến lược xây

dựng pháp luật 10 năm (2000 - 2010) để

cụ thể hóa pháp luật về quyền con người

nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng

Trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển quyền

của phụ nữ, Việt Nam đã có những bước

tiến dài và quan trọng trong tiến trình lập

pháp Bên cạnh việc đổi mới và hoàn thiện

các quy định pháp luật quốc gia về phụ

nữ, Việt Nam đã tiến hành nội luật hóa các

quy định của CEDAW Những nguyên tắc

nền tảng của Công ước như nguyên tắc

bình đẳng nam nữ, nguyên tắc không phân

biệt đối xử, nguyên tắc thực thi nghĩa vụ

thành viên công ước đều được ghi nhận

trong Hiến pháp và nhiều bộ luật cơ bản

của Nhà nước Thông qua bốn bản hiến

pháp, cũng như các quy định pháp luật khác, các nguyên tắc nêu trên của CEDAW luôn được khẳng định trong pháp luật Việt Nam Ngoài ra, nhiều nghĩa vụ thành viên khác cũng đã được Việt Nam thực thi nghiêm chỉnh như nghĩa vụ làm báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước, nghĩa vụ tạo các bảo đảm thực tế để bảo vệ, phát triển quyền con người của phụ nữ Đặc biệt, trong quá trình thực hiện Công ước, Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc giới thiệu, phổ biến, giáo dục sâu rộng trong phụ nữ về CEDAW với nhiều hình thức truyền thông đa dạng, để nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng nữ giới về các vấn đề của phụ nữ

Với tư cách là phạm trù pháp lí, quyền bình đẳng của phụ nữ ghi nhận tại CEDAW được tôn trọng và bảo đảm thực hiện một cách thực tế ở Việt Nam Mặc dù trong quá trình thực hiện Công ước, vẫn còn có những tồn tại cần tiếp tục khắc phục như yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật quốc gia về quyền của phụ nữ, vấn đề xây dựng, tăng cường các thiết chế quốc gia trong bảo đảm phát triển các quyền của phụ nữ, vấn đề giáo dục cộng đồng về phụ nữ và quyền bình đẳng của phụ nữ nhưng trên hết, Việt Nam vẫn luôn cam kết tận tâm thực hiện các nghĩa vụ thành viên Công ước trên tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả để tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và khu vực Đó là sự xác định đúng đắn từ phương diện là thành viên CEDAW, cũng như theo truyền thống của quốc gia yêu chuộng hòa bình, công lí, công bằng xã hội./

Ngày đăng: 24/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w