1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Một số điểm mới về thoả ước lao động tập thể theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động và văn bản hướng dẫn thi hành " docx

4 589 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 124,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí luật học số tháng 3/2003 47 ần 7 năm qua, kể từ khi Bộ luật lao động và Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao đ

Trang 1

Tạp chí luật học số tháng 3/2003 47

ần 7 năm qua, kể từ khi Bộ luật lao động và

Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của Bộ luật lao động về thoả ước lao động tập

thể (sau đây gọi tắt là Nghị định số 196/CP) có

hiệu lực thi hành, thoả ước lao động tập thể đ: có

tác dụng khuyến khích, phát huy tính dân chủ

trong các đơn vị sản xuất kinh doanh và đề cao

vai trò của tập thể lao động mà đại diện là tổ

chức công đoàn cơ sở trong việc thương lượng

với người sử dụng lao động về quyền và nghĩa vụ

của mỗi bên trong quan hệ lao động, phần nào

đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quan hệ

lao động trong thời kì mới Thực tế đ: cho thấy,

ở những doanh nghiệp có kí kết thoả ước lao

động tập thể, quyền lợi của người lao động cũng

như lợi ích của người sử dụng lao động được

đảm bảo, nội bộ doanh nghiệp đoàn kết, hoà hợp,

hạn chế tối đa việc xảy ra tranh chấp Ngược lại,

ở những doanh nghiệp chưa kí thoả ước hoặc chỉ

kí thoả ước một cách hình thức thì nguy cơ xảy

ra tranh chấp lao động luôn tiềm ẩn và tranh

chấp lao động cũng thường xuyên xảy ra Việc kí

kết thoả ước là cơ chế hiệu quả đối với việc đảm

bảo ổn định và phát triển của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số

quy định của Bộ luật lao động và Nghị định số

196/CP cũng đ: bộc lộ những điểm bất cập, chưa

phù hợp với thực tế cuộc sống Đây cũng là điều

dễ lí giải bởi các quan hệ lao động trong cơ chế

kinh tế thị trường luôn vận động, phát triển theo

chiều hướng đa dạng và phức tạp trong khi đó,

pháp luật lao động chỉ có thể hướng sự điều

chỉnh tới những quan hệ tương đối ổn định Hơn nữa, Bộ luật lao động (1994) được nghiên cứu xây dựng từ những năm 1980, thời gian được ban hành cũng chính là thời gian đầu của công cuộc

đổi mới, cũng là thời gian đầu chuyển sang kinh

tế thị trường, các quan hệ lao động mới bắt đầu hình thành, ở nhiều địa phương, quan hệ này chưa thật rõ nét nên các quy định pháp luật lao

động nói chung và các quy định về thoả ước lao

động tập thể nói riêng khó tránh khỏi những

điểm bất cập với thực tiễn Ngày nay, khi các yếu tố của kinh tế thị trường đ: được hình thành

đồng bộ và hoàn thiện dần, các quan hệ lao động

đ: tương đối ổn định thì các quy định của Bộ luật lao động và Nghị định số 196/CP cũng đ:

được thực tế kiểm nghiệm Theo đó, việc sửa đổi,

bổ sung các quy định pháp luật lao động nói chung và thoả ước nói riêng cho phù hợp với thực tế là hết sức cần thiết

Đáp ứng nhu cầu đó, ngày 2/4/2002 Quốc hội khoá X kì họp thứ 11 đ: thông qua Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung) và Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2003 Để Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động

được triển khai thực hiện và đi vào cuộc sống, Chính phủ đ: ban hành một số văn bản nhằm hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật lao động cho phù hợp, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 196/CP

G

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

ThS Trần Thuý Lâm *

Trang 2

48 Tạp chí luật học số tháng 3/2003

Cũng cần phải nói rằng Nghị định số

93/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/11/2002

sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

196/CP (sau đây gọi tắt là Nghị định

93/2002/NĐ-CP) là văn bản đầu tiên của Chính

phủ trong việc triển khai hướng dẫn thi hành luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao

động Điều đó chứng tỏ thoả ước là một vấn đề

hết sức quan trọng, Nhà nước cũng đ: có sự quan

tâm đối với vấn đề này

Chế độ thoả ước lao động tập thể theo Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động

và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP của Chính phủ đ:

có một số điểm mới cơ bản so với Bộ luật lao

động và Nghị định số 196/CP Điều đó thể hiện ở

một số nội dung sau:

1 Về phạm vi kí kết thoả ước

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số

196/CP thì thoả ước lao động tập thể được kí kết

ở những đơn vị sau:

+ Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thuộc

khu chế xuất, khu công nghiệp;

+ Các doanh nghiệp thuộc các thành phần

kinh tế khác, các cá nhân có thuê mướn sử dụng

từ 10 lao động trở lên;

+ Các cơ quan tổ chức nước ngoài hoặc quốc

tế tại Việt Nam có thuê mướn từ 10 lao động là

người Việt Nam trở lên trừ trường hợp điều ước

quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có

quy định khác;

+ Các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ hạch toán

độc lập của các đơn vị hành chính sự nghiệp

Như vậy, theo tinh thần của Nghị định số

196/CP thì thoả ước lao động tập thể được áp

dụng ở những nơi có sử dụng từ 10 lao động trở

lên Song, trong quá trình thực hiện đ: phát sinh

một số vấn đề như nơi chưa có tổ chức công

đoàn, mặc dù có sử dụng từ 10 lao động trở lên

cũng không kí được thoả ước lao động tập thể,

còn những nơi sử dụng dưới 10 lao động, có tổ

chức công đoàn lại không được kí thoả ước lao

động tập thể Ngoài ra, các hợp tác x:, các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo Nghị định

số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích x: hội hoá có sử dụng trên 10 lao động, có tổ chức công

đoàn chưa được áp dụng thoả ước lao động tập thể mặc dù cả hai bên đều muốn kí kết

Để giải quyết những tồn tại trên, Nghị định

số 93/2002/NĐ-CP đ: sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng phạm vi áp dụng thoả ước tập thể

đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không phân biệt sử dụng bao nhiêu lao động, miễn là ở đó có tổ chức công

đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời Cụ thể, theo Nghị định số 93/2002/NĐ-CP thì phạm vi áp dụng thoả ước gồm:

+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x: hội;

+ Hợp tác x: thành lập theo Luật hợp tác x:

có sử dụng lao động theo hợp đồng;

+ Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao ngoài công lập thành lập theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ

về chính sách x: hội hoá;

+ Các cơ quan tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài đóng trên l:nh thổ Việt Nam có sử dụng lao động hợp đồng là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà x: hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy

định khác

2 Về thoả ước vô hiệu và xử lí thoả ước vô hiệu

* Về thoả ước vô hiệu

Điều 48 BLLĐ quy định:

1 Thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi một hoặc một số điều khoản trong thoả ước chưa được cơ quan lao động cấp tỉnh chấp thuận; các điều khoản khác vẫn có hiệu lực

Trang 3

Tạp chí luật học số tháng 3/2003 49

thi hành

2 Thoả ước tập thể thuộc một trong các

trường hợp sau đây thì bị coi là vô hiệu toàn bộ:

a) Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật;

b) Người kí kết thoả ước không đúng thẩm

quyền;

c) Không tiến hành theo đúng trình tự kí kết;

d) Không đăng kí tại cơ quan lao động cấp

tỉnh

Như vậy, theo quy định của Bộ luật lao động

thì có 4 trường hợp thoả ước bị coi là vô hiệu

toàn bộ trong đó có trường hợp thoả ước không

được đăng kí tại cơ quan lao động cấp tỉnh Điều

này là hợp lí bởi khoản 2 Điều 47 BLLĐ quy

định: Thoả ước tập thể có hiệu lực kể từ ngày

được cơ quan lao động đăng kí Điều đó có nghĩa

việc đăng kí thoả ước tại cơ quan có thẩm quyền

là một trong các điều kiện để thoả ước lao động

tập thể có hiệu lực pháp luật và vì vậy đương

nhiên đối với những thoả ước không đăng kí sẽ

bị coi là vô hiệu toàn bộ Tuy nhiên, vấn đề này

có sự bất hợp lí ở chỗ: Về mặt bản chất, thoả ước

là sự thoả thuận giữa tập thể lao động với người

sử dụng lao động, vậy vì sao các bên lại không

có quyền thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của

thoả ước mà thời điểm này lại phụ thuộc vào việc

đăng kí của cơ quan có thẩm quyền Vì vậy, để

phù hợp với bản chất của thoả ước đồng thời cải

cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực lao

động, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Bộ luật lao động đ: quy định thoả ước lao

động có hiệu lực từ ngày kí kết hoặc từ ngày

do hai bên thoả thuận, việc đăng kí thoả ước

tại cơ quan có thẩm quyền vẫn được tiến hành

nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả

ước mà chủ yếu là để Nhà nước quản lí về lao

động Do đó, đối với trường hợp thoả ước

không đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền cũng

sẽ không bị coi là vô hiệu toàn bộ Vì thế, theo

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật

lao động chỉ còn có ba trường hợp thoả ước bị

coi là vô hiệu toàn bộ Đó là :

- Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật;

- Người kí kết thoả ước không đúng thẩm quyền;

- Không tiến hành theo đúng trình tự kí kết

* Xử lí thoả ước vô hiệu Theo quy định của Bộ luật lao động, cơ quan có thẩm quyền tuyên bố thoả ước vô hiệu là cơ quan lao động cấp tỉnh Song cách thức xử lí

đối với từng trường hợp vô hiệu toàn bộ là khác nhau Đối với trường hợp toàn bộ nội dung thoả

ước trái với quy định của pháp luật, cơ quan lao

động tuyên bố huỷ bỏ luôn, đối với các trường hợp còn lại như người kí kết không đúng thẩm quyền, không tiến hành theo đúng trình tự kí kết mà nội dung kí kết lại có lợi cho người lao

động thì cơ quan lao động cấp tỉnh hướng dẫn các bên làm lại cho đúng quy định nếu không làm lại mới tuyên bố huỷ bỏ Tuy nhiên, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong trường hợp thoả ước vô hiệu sẽ giải quyết như thế nào thì pháp luật chưa có sự quy định cụ thể và vấn đề này đ: được khắc phục trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động

Việc xử lí thoả ước vô hiệu theo Luật sửa

đổi, bổ sung về cơ bản cũng giống như Bộ luật lao động song có một số điểm mới:

- Cơ quan có thẩm quyền tuyên bố thoả ước vô hiệu không chỉ có cơ quan lao động cấp tỉnh như trong Bộ luật mà còn gồm cả toà án nhân dân (khoản 4 Điều 166 Luật sửa đổi, bổ sung) Việc cho phép toà án được quyền tuyên bố thoả

ước vô hiệu là hoàn toàn hợp lí Nó không chỉ

đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử mà còn hoàn toàn phù hợp cả về mặt lí luận bởi trong quá trình giải quyết các tranh chấp nói chung như tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh

tế toà án đều có thẩm quyền tuyên bố hợp

đồng vô hiệu

- Đối với thoả ước vô hiệu toàn bộ, cơ quan

có thẩm quyền không tuyên bố huỷ bỏ thoả ước

mà chỉ tuyên bố thoả ước vô hiệu Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP

Trang 4

50 Tạp chí luật học số tháng 3/2003

đ: có quy định về việc giải quyết quyền lợi của

các bên trong trường hợp này Theo đó, những

nội dung nào bị tuyên bố vô hiệu thì quyền,

nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết

theo các nội dung tương ứng quy định trong pháp

luật hiện hành và theo các thoả thuận hợp pháp

trong các hợp đồng lao động cá nhân (nếu có)

Đây sẽ là cơ sở pháp lí quan trọng để cơ quan có

thẩm quyền giải quyết quyền lợi cho các bên khi

có tranh chấp xảy ra

3 Về hiệu lực của thoả ước trong trường

hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh

nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lí,

quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Đối với trường hợp sáp nhập doanh nghiệp,

theo Nghị định số 196/CP của Chính phủ thì hiệu

lực của thoả ước trong trường hợp sáp nhập

doanh nghiệp được chia làm 2 trường hợp tuỳ

thuộc vào sự thay đổi cơ cấu của các doanh

nghiệp thành viên Nếu sau khi sáp nhập, các

doanh nghiệp thành viên không có sự thay đổi về

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ

máy thì thoả ước đ: kí vẫn có hiệu lực thi hành

Còn nếu sau khi sáp nhập, các doanh nghiệp

thành viên có sự thay đổi về chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy thì thoả ước đ:

kí không còn hiệu lực thi hành Tuy nhiên, quy

định này cho đến nay không còn phù hợp nữa

bởi khi sáp nhập, các doanh nghiệp thường phải

lập các phương án sử dụng lao động theo quy

định của pháp luật nên thoả ước đ: kí kết có

được tiếp tục thực hiện hay không sẽ phải phụ

thuộc vào phương án sử dụng lao động này Vì

vậy, Nghị định số 93/2002/NĐ-CP của Chính

phủ đ: quy định trong trường hợp sáp nhập

doanh nghiệp mà doanh nghiệp nhận sáp nhập có

số lao động được tiếp tục sử dụng chiếm trên

50% tổng số lao động sau khi sáp nhập thì thoả

ước lao động tập thể tiếp tục có hiệu lực pháp

luật Còn đối với các trường hợp sáp nhập khác, thoả ước đ: kí sẽ không còn hiệu lực pháp luật

và các bên phải tiến hành thương lượng để kí kết thoả ước mới trong thời hạn 6 tháng

Đối với trường hợp hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản

lí, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, trong trường hợp này theo quy định của Bộ luật lao

động, người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện thoả ước cho tới khi hết hạn hoặc tới khi kí kết thoả ước tập thể mới Điều đó có nghĩa thoả ước đ: kí kết vẫn có hiệu lực pháp luật

Còn theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP thì trong các trường hợp này thoả ước đ: kí kết không còn hiệu lực, các bên phải tiến hành thương lượng để kí kết thoả ước mới trong thời hạn 6 tháng Sự sửa đổi này là hợp

lí, bởi cũng như trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, trong trường hợp này phải phụ thuộc vào phương án sử dụng lao động của người lao động Trên đây là một số điểm mới cơ bản về thoả

ước lao động tập thể theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động và văn bản hướng dẫn thi hành Những vấn đề này đ: phần nào giải quyết được những vướng mắc của thực tiễn thực hiện Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại trong chế độ thoả ước nhưng chưa

được giải quyết hoặc hướng dẫn cụ thể như nội dung thoả ước, việc sửa đổi, bổ sung thoả ước hay vấn đề triển khai kí kết thoả ước ngành Song hi vọng rằng với lần sửa đổi này, việc kí kết thoả ước lao động tập thể sẽ được triển khai rộng r:i ở các doanh nghiệp và thoả ước thật sự trở thành cơ chế điều chỉnh hiệu quả đối với việc duy trì “nền hoà bình” công nghiệp trong các doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động khi tranh chấp lao động ngày càng có xu hướng gia tăng./

Ngày đăng: 24/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w