1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn " docx

4 813 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Giữa Vợ Và Chồng Khi Li Hôn
Tác giả ThS. Ngô Thị Hường
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Tư Pháp
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 95,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 60 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "Khi li hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lí do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình" nhưn

Trang 1

ghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li

hôn đ được quy định tại Điều 30 Luật

HN&GĐ năm 1959 - đạo luật đầu tiên về hôn

nhân và gia đình Tiếp đó, Luật HN&GĐ năm

1986 (Điều 43) và hiện nay là Luật HN&GĐ

năm 2000 (Điều 60) cũng đều quy định khi vợ

chồng li hôn, nếu một bên khó khăn, túng thiếu

yêu cầu cấp dưỡng mà có lí do chính đáng thì

bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng

Luật HN&GĐ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng

giữa vợ và chồng khi li hôn là phù hợp với

truyền thống của người Việt Nam "vợ chồng

một ngày nên nghĩa" và thể hiện tính nhân văn

trong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, trong

thực tế việc áp dụng các quy định của pháp luật

vào việc giải quyết các yêu cầu về cấp dưỡng

giữa vợ và chồng khi li hôn còn có những khó

khăn vướng mắc nhất định Điều 60 Luật

HN&GĐ năm 2000 quy định: "Khi li hôn, nếu

bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng

mà có lí do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ

cấp dưỡng theo khả năng của mình" nhưng lại

không quy định căn cứ để xác định tình trạng

khó khăn, túng thiếu của một bên và khả năng

của bên kia trong việc thực hiện nghĩa vụ cấp

dưỡng Do đó, có trường hợp khi có yêu cầu

được cấp dưỡng, toà án xem xét và cho rằng

bên yêu cầu được cấp dưỡng không khó khăn

đến mức để được cấp dưỡng nên đ bác yêu cầu

của họ; có trường hợp bên yêu cầu được cấp

dưỡng thực sự có khó khăn trong cuộc sống và

cần được cấp dưỡng nhưng sau khi xem xét về

khả năng cấp dưỡng của bên kia, toà án lại cho

rằng họ không có khả năng để thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng Vì vậy, yêu cầu cấp dưỡng cũng

không được chấp nhận Như vậy, việc quyết

định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các bên là công việc khó khăn, thực tế cho thấy không có sự thống nhất trong việc xem xét, quyết định về vấn đề này Bên cạnh đó, việc thi hành bản án, quyết định của toà án liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi li hôn cũng gặp không ít khó khăn Vì vậy, trong thực tế, nghĩa

vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn không phải khi nào cũng được xem xét, giải quyết một cách thoả đáng

1 Khi nào thì bên yêu cầu cấp dưỡng có thể được cấp dưỡng

Theo quy định tại Điều 60 Luật HN&GĐ

năm 2000 thì sự khó khăn, túng thiếu mà có lí

do chính đáng của một bên là cơ sở để toà án quyết định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn Vấn đề khó cả về lí luận và thực tế là đánh giá sự "khó khăn, túng thiếu"

của một người dựa vào các tiêu chí nào và khi nào thì sự "khó khăn, túng thiếu" của họ được coi là "có lí do chính đáng"? Trước đây, theo Nghị quyết số 01/NQ- HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 thì: "Trường hợp túng thiếu phải là trường hợp ốm đau, già yếu, không đủ sức lao động hoặc không còn khả

năng lao động để sinh sống Người có khả năng lao động mà không chịu lao động thì không

được cấp dưỡng" (Mục 8) Căn cứ vào hướng dẫn này, trong thời gian thi hành Luật HN&GĐ

năm 1986, các thẩm phán thường xác định một người có khó khăn, túng thiếu vì lí do chính

N

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

ThS Ngô Thị Hường *

Trang 2

đáng để được cấp dưỡng khi người đó ốm đau,

già yếu, không đủ sức lao động hoặc không còn

khả năng lao động để sinh sống Đối với những

trường hợp khó khăn, túng thiếu nhưng do lười

biếng, nghiện ngập, cờ bạc… thì không thể

được cấp dưỡng

Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2000 và các

văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định

cụ thể về việc xác định tình trạng khó khăn,

túng thiếu cũng như không có hướng dẫn cụ thể

trong việc xác định lí do chính đáng dẫn tới

tình trạng khó khăn, túng thiếu đó Do vậy, thực

tế các thẩm phán vẫn theo hướng dẫn tại Nghị

quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

để xác định tình trạng khó khăn, túng thiếu của

người có yêu cầu cấp dưỡng Theo chúng tôi,

các căn cứ để xác định tình trạng khó khăn,

túng thiếu vì lí do chính đáng như vậy là chưa

thật đầy đủ, còn nhiều vấn đề cần phải được

xem xét một cách thoả đáng để có quyết định

đúng đắn đối với các trường hợp giải quyết yêu

cầu cấp dưỡng

Theo chúng tôi, việc xem xét để đi đến

quyết định người có yêu cầu cấp dưỡng có thể

được cấp dưỡng hay không, toà án phải căn cứ

vào các yếu tố sau:

1.1 Khả năng lao động của người có yêu

cầu cấp dưỡng

Khi xét khả năng lao động của người có

yêu cầu cấp dưỡng, cần phải xem xét độ tuổi và

tình trạng sức khoẻ của họ Nếu người có yêu

cầu cấp dưỡng là người già yếu hoặc là người

ốm đau, tàn tật nên hạn chế hoặc mất khả năng

lao động, ảnh hưởng đến thu nhập của bản thân

và với mức thu nhập hạn chế hoặc không có thu

nhập đồng thời cũng không có tài sản nên họ

rơi vào tình trạng có khó khăn trong cuộc sống

thì họ có thể được cấp dưỡng

Khi xem xét khả năng lao động của người

có yêu cầu cấp dưỡng cũng cần xem người yêu

cầu cấp dưỡng có phải tiếp tục thực hiện vai trò

của người cha, người mẹ đối với con sau khi li hôn hay không Khi vợ chồng li hôn, người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đ thành niên mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, không

có khả năng lao động lại yêu cầu được cấp dưỡng thì nên coi đây là một trong những yếu

tố cần xem xét để có thể quyết định cho họ

được cấp dưỡng Qua thực tế cho thấy, người trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con đ thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, không có khả năng lao động sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc của mình để có thể duy trì cường độ lao động bình thường, bảo

đảm ổn định thu nhập của họ Thời gian dành cho việc chăm sóc con, quan tâm đến mọi nhu cầu về vật chất và tinh thần của con, thời gian nghỉ việc do con ốm đau, bệnh tật đ làm cho sức lao động bị hạn chế, làm giảm hiệu quả lao

động và tất yếu là thu nhập của họ cũng bị giảm sút Có thể xảy ra trong thực tế là thu nhập từ lao động của người trực tiếp nuôi con vì thế mà không còn đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân Vì vậy, nếu có cơ sở để nhận định rằng họ sẽ gặp khó khăn về vật chất thì có thể

họ sẽ được cấp dưỡng tuỳ vào khả năng của bên kia Có thể khẳng định rằng khi xem xét vấn đề này thì không cần phân biệt con mà người có yêu cầu cấp dưỡng trực tiếp nuôi dưỡng là con chung của vợ chồng li hôn hay là con riêng của

họ

1.2 Thu nhập thực tế, khả năng về tài sản

và nhu cầu thiết yếu của người có yêu cầu cấp dưỡng

Thu nhập thực tế, khả năng về tài sản và nhu cầu thiết yếu của người có yêu cầu cấp dưỡng cũng là một trong những yếu tố quan trọng cần phải được xem xét một cách đúng

đắn và được đánh giá một cách chính xác Bởi vì, chỉ khi nào người có yêu cầu cấp dưỡng không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng mức thu nhập không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân trong khi họ không có tài sản

Trang 3

nào khác thì họ mới có thể được cấp dưỡng

Khi xem xét thu nhập thực tế của người

có yêu cầu cấp dưỡng cần xét đến các khoản

thu nhập thường xuyên và thu nhập không

thường xuyên nhưng hợp pháp như tiền lương,

tiền công lao động, các khoản trợ cấp, tiền

thưởng, tiền trúng xổ số, lợi nhuận do đầu tư,

kinh doanh…

Xem xét khả năng về tài sản của người có

yêu cầu được cấp dưỡng là căn cứ vào khối tài

sản thuộc quyền sở hữu của người đó Tài sản

đó có thể là tài sản riêng (gồm tài sản có từ

trước khi kết hôn, tài sản được tặng, cho riêng,

thừa kế riêng trong thời kì hôn nhân mà người

đó không nhập vào khối tài sản chung của vợ

chồng); tài sản được chia từ khối tài sản chung

của vợ chồng…

Nhu cầu thiết yếu của người có yêu cầu cấp

dưỡng được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt

trung bình tại địa phương nơi người đó cư trú,

bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về

ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí

thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc

sống của người đó (Điều 16 Nghị định số

70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ

quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ)

Như vậy, chỉ khi nào căn cứ vào mức thu

nhập thực tế, khả năng về tài sản và nhu cầu

thiết yếu của người có yêu cầu cấp dưỡng mà

toà án nhận định rằng họ sẽ gặp nhiều trở ngại,

thiếu thốn về đời sống vật chất thì có thể cho

rằng họ cần được cấp dưỡng Tuy nhiên, khi

xem xét yếu tố này phải đặt trong mối quan hệ

nhân quả với yếu tố thứ nhất Yếu tố thứ nhất là

nguyên nhân, yếu tố thứ hai là hậu quả Bởi lẽ,

nếu người có yêu cầu cấp dưỡng tuy mức thu

nhập và tài sản không đủ để đáp ứng nhu cầu

thiết yếu của bản thân nhưng họ có khả năng

lao động mà không chịu lao động thì lại không

thể được cấp dưỡng Do đó, chỉ trong trường

hợp họ không có khả năng lao động hoặc hạn

chế khả năng lao động nên thu nhập và tài sản

không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của họ

thì mới được cấp dưỡng

1.3 Khả năng trong việc người có yêu cầu cấp dưỡng có thể tìm được việc làm tạo thu nhập

Trong thực tế có nhiều người nếu xét về độ tuổi và tình trạng sức khoẻ thì họ có đầy đủ khả năng lao động nhưng lại hạn chế về trình độ nên khó có thể tìm được việc làm Hoặc có nhiều người có khả năng lao động, có đủ trình

độ chuyên môn cần thiết để tham gia vào quá trình lao động nhưng cơ hội để họ có thể có việc làm lại rất ít Thậm chí có nhiều trường hợp khi vợ chồng chung sống với nhau, bên có thu nhập cao, yêu cầu bên có thu nhập thấp nghỉ việc để làm việc nhà và chăm sóc con trong khi họ đang có việc làm và thu nhập ổn

định để tự bảo đảm cuộc sống của bản thân

Đến khi vợ chồng li hôn, người mà trước đây nghỉ việc nay không còn cơ hội tìm lại việc làm Rõ ràng, sau khi li hôn cuộc sống của họ

sẽ gặp khó khăn Nếu tài sản được chia quá ít hoặc không có tài sản chung để chia mà họ yêu cầu được cấp dưỡng thì phải coi đây là một yếu

tố khẳng định rằng yêu cầu của họ là hoàn toàn chính đáng

Chúng tôi cho rằng việc xem xét khả năng tìm việc làm tạo thu nhập là yếu tố để xem xét khả năng được cấp dưỡng là có cơ sở lí luận và thực tế Chúng ta đều biết, việc làm giúp cho người lao động có cơ hội để cống hiến và tạo thu nhập cho bản thân Cuộc sống có được bảo

đảm chắc chắn hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng có việc làm Nếu một người không có việc làm cũng có thể đồng nghĩa là cuộc sống

sẽ khó khăn, thiếu thốn Mục đích của việc quy

định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi

li hôn là nhằm giúp cho bên có khó khăn phần nào giảm bớt khó khăn để ổn định cuộc sống sau khi li hôn Vì vậy, việc chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng trong trường hợp này là hoàn toàn

"thấu tình, đạt lí" Tuy nhiên, khi xem xét yếu

tố này cần thận trọng để phân biệt trường hợp một người khó có cơ hội tìm việc làm với

Trang 4

trường hợp một người lười biếng không chịu

lao động

2 Khi nào thì bên được yêu cầu cấp

dưỡng có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp

dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li

hôn chỉ được đặt ra khi một bên có khó khăn,

túng thiếu có lí do chính đáng và bên kia có khả

năng cấp dưỡng Do vậy, vấn đề không kém

phần quan trọng là đánh giá khả năng cấp

dưỡng của bên kia Theo quy định tại Điều 16

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì một người

được coi là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ

cấp dưỡng nếu người đó "có thu nhập thường

xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường

xuyên nhưng còn tài sản sau khi đ trừ đi chi

phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của

người đó" Quy định này rất có thể dẫn đến

cách hiểu là chỉ cần một người có thu nhập

thường xuyên là được xác định rằng có khả

năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Theo

chúng tôi, nếu hiểu như vậy là không phù hợp

với điều kiện của việc thực hiện nghĩa vụ cấp

dưỡng Một người chỉ phải thực hiện nghĩa vụ

cấp dưỡng khi mà việc thực hiện nghĩa vụ đó

không ảnh hưởng gì tới cuộc sống của bản thân

họ, có nghĩa là thu nhập của họ không những

phải đủ để chi phí cần thiết thông thường cho

bản thân mà còn có dư thì mới phải cấp dưỡng

Trong trường hợp một người có thu nhập

thường xuyên nhưng thu nhập đó quá thấp chỉ

đủ hoặc thậm chí là không đủ để đáp ứng

những chi phí cần thiết thông thường cho bản

thân thì cũng không thể xác định là họ có khả

năng để cấp dưỡng

Đồng thời, cũng theo quy định trên, nếu

một người không có thu nhập thường xuyên

nhưng còn tài sản sau khi đ trừ đi chi phí cần

thiết thông thường cho cuộc sống của người đó

thì cũng được coi là có khả năng thực hiện

nghĩa vụ cấp dưỡng Theo chúng tôi, quy định

như vậy thực sự chưa thoả đáng Nếu pháp luật chỉ quy định rằng người có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là người còn tài sản sau khi

đ trừ đi chi phí cho bản thân người đó thôi thì chưa đủ mà còn phải tính đến việc họ có phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho người nào khác hay không Chẳng hạn, một người đang phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho cha, mẹ, con (con chung, con riêng) thì khi họ li hôn mà bên kia yêu cầu được cấp dưỡng thì chỉ coi là họ có khả năng để cấp dưỡng nếu họ còn tài sản sau khi

đ trừ đi chi phí cần thiết thông thường cho bản thân họ và cho cả những người mà họ đang phải

có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng Nói như vậy không có nghĩa rằng coi nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn là nghĩa vụ cấp dưỡng đứng sau nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con nhưng rõ ràng là người ta không thể chấp nhận rằng một người lại tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho cha, mẹ, con để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng đ li hôn Hơn nữa, chỉ với quy định là người đó "còn tài sản" thì họ

đ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng chưa đầy đủ và nếu đặt trong những trường hợp cụ thể thì không thoả đáng Khái niệm tài sản được hiểu theo nghĩa rất rộng Tài sản là

"vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể".(1) Như vậy, tài sản có thể là nhà ở, là quyền sử dụng đất, là các đồ dùng có giá trị, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền Giả thiết rằng một người không có thu nhập thường xuyên nhưng họ có tài sản do được tặng, cho, thừa kế riêng trong thời kì hôn nhân hoặc do được chia từ khối tài sản chung của vợ chồng mà tài sản đó lại là nhà ở hoặc đất canh tác

(Xem tiếp trang 59)

(1).Xem: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (phần dân sự), Trường đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1999, tr.114

Ngày đăng: 24/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w