Quá trình nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính, đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lí vi phạm hành chính để hoàn thiện pháp luật thể hiện rõ qua những th
Trang 1
hà nước ta là nhà nước của dân nên pháp luật luôn thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Do đó, pháp luật thường được nhân dân
tự giác thực hiện Tuy nhiên, vì nhiều lí do
khác nhau, vẫn còn nhiều trường hợp pháp
luật bị vi phạm một cách cố ý hoặc vô ý Các
hành vi vi phạm pháp luật đều chứa đựng khả
năng phá vỡ trật tự x: hội, trực tiếp hoặc gián
tiếp xâm hại các quyền và lợi ích chính đáng
của Nhà nước, x: hội, tập thể và cá nhân
Chính vì thế, Nhà nước rất chú ý bảo vệ pháp
luật Có nhiều quy định được ban hành với
mục đích này, trong đó có những quy định về
xử lí vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính có tính nguy hiểm
cho x: hội không cao như tội phạm nhưng lại
có tính phổ biến cả về loại vi phạm, số lượng
vi phạm và chủ thể thực hiện hành vi vi
phạm Việc xác định hành vi nào là vi phạm
hành chính, xử lí vi phạm hành chính như thế
nào có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn, vừa
có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài Nhà
nước ta đ: ban hành nhiều văn bản pháp luật
về xử lí vi phạm hành chính trong đó quan
trọng là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 1989, Pháp lệnh xử lí vi phạm
hành chính năm 1995, Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính năm 2002 Chỉ hơn mười
năm đ: có tới ba pháp lệnh nối tiếp nhau quy
định về xử lí vi phạm hành chính đ: chứng
minh tầm quan trọng của công tác đấu tranh
phòng, chống vi phạm hành chính cũng như
sự quan tâm của Nhà nước về vấn đề này
Quá trình nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính, đánh giá
hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lí vi phạm hành chính để hoàn thiện pháp luật thể hiện
rõ qua những thay đổi không nhỏ của ba pháp lệnh kể trên
1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
- Thẩm quyền xử phạt thuộc về uỷ ban nhân dân hay chủ tịch uỷ ban nhân dân?
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm
1989 và Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 khi quy định cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều xác
định là uỷ ban nhân dân nhưng khi nêu hình thức và mức phạt được áp dụng thì người
được áp dụng lại là chủ tịch uỷ ban Vậy thẩm quyền xử phạt thực chất là thuộc về ai?
Về vấn đề này có hai quan điểm khác nhau: 1 Thẩm quyền thuộc về uỷ ban nhân dân vì Pháp lệnh quy định: “1 Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gồm: a Uỷ ban nhân dân các cấp ” còn chủ tịch uỷ ban chỉ là người thay mặt uỷ ban để trực tiếp xử phạt; 2 Thẩm quyền xử phạt thuộc về chủ tịch vì hai pháp lệnh này đều xác định “chủ tịch uỷ ban có quyền ” hoặc “chủ tịch uỷ ban được phạt ”, việc quy định thẩm quyền xử phạt
N
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
ThS Bùi Thị Đào*
Trang 2của uỷ ban chỉ có nghĩa rằng đây là cơ quan
quản lí có thẩm quyền chung được phạt các
vi phạm hành chính xảy ra ở bất kì lĩnh vực
nào của đời sống x: hội
Một trong những nguyên tắc của xử phạt
vi phạm hành chính là xử phạt phải nhanh
chóng, trong khi uỷ ban nhân dân hoạt động
theo chế độ tập thể và xử phạt vi phạm hành
chính không thuộc bốn vấn đề uỷ ban nhân
dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo
đa số (Điều 49 Luật tổ chức hội đồng nhân
dân và uỷ ban nhân dân) Mặt khác, xu
hướng nâng cao trách nhiệm cá nhân và mở
rộng thẩm quyền của chủ tịch uỷ ban là rất rõ
ràng nên quy định xử phạt vi phạm hành
chính thuộc về uỷ ban nhân dân là không cần
thiết Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính
năm 2002 đ: giải quyết vấn đề này bằng
cách quy định trực tiếp thẩm quyền xử lí
vi phạm hành chính của chủ tịch uỷ ban
nhân dân
Mức phạt tiền tối đa chủ tịch uỷ ban
nhân dân tỉnh được áp dụng:
Khoản 7 Điều 19 Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính năm 1989 quy định: “Chủ
tịch uỷ ban nhân dân tỉnh được áp dụng tất
cả các hình thức phạt và các biện pháp hành
chính trong Pháp lệnh này quy định” Các
hình thức phạt bao gồm cảnh cáo; phạt tiền;
tước quyền sử dụng giấy phép; tịch thu tang
vật, phương tiện vi phạm Theo đó, chủ tịch
uỷ ban nhân dân tỉnh được phạt tiền và mức
phạt tối thiểu là 1000 đồng nhưng không
khống chế mức tối đa Như trên đ: nói, vi
phạm hành chính là hành vi có tính nguy
hiểm cho x: hội không cao, mức phạt tiền là
một trong những dấu hiệu phản ánh sự đánh
giá của Nhà nước về tính nguy hiểm cho x:
hội của vi phạm, xét cả về lí luận và thực
tiễn, mức phạt tiền đối với người vi phạm
hành chính chỉ có ý nghĩa khi được giới hạn
ở một mức nào đó mà thôi Cho nên, thẩm quyền phạt tiền của chủ tịch tỉnh không thể vô giới hạn Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 đều đ: quy định mức phạt tiền tối đa chủ tịch tỉnh được áp dụng
- Thẩm quyền phạt tiền tối đa được hiểu như thế nào?
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 và Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 về thẩm quyền phạt tiền của từng chủ thể có quyền phạt hành chính đều quy định theo kiểu “ có quyền phạt tiền
đến ” Quy định này làm cho hoạt động xử
lí vi phạm hành chính trên thực tế gặp khó khăn vì có nhiều cách hiểu khác nhau Đặc biệt là trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà mỗi vi phạm
đều phải chịu mức phạt trong giới hạn thẩm quyền của một chủ thể nhưng cộng lại thành mức phạt chung lại cao hơn mức cao nhất mà chủ thể đó có quyền áp dụng Khi đó có nhất thiết phải chuyển tới người có thẩm quyền xử phạt với mức cao hơn không, việc giữ lại để
xử lí có bị coi là vượt quá thẩm quyền không? Thực chất, mức phạt tiền phản ánh mức độ nguy hiểm cho x: hội và tính chất phức tạp của vi phạm Quy định mức phạt tiền tối đa mỗi chủ thể có quyền áp dụng chính là xác định tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc mà mỗi chủ thể có khả năng giải quyết thoả đáng Việc một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm không làm tăng mức
độ nguy hiểm, độ phức tạp của từng hành vi hay vụ việc Do vậy, mức phạt tiền tối đa mỗi chủ thể được áp dụng cần được hiểu là giới hạn mức phạt tiền đối với từng hành vi cụ thể Cách hiểu này được khẳng định rõ trong nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt khi
Trang 3một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm
“nếu hình thức, mức xử phạt được quy định
đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của
người xử phạt thì thẩm quyền xử phạt vẫn
thuộc người đó” (Điều 42 Pháp lệnh 2002)
2 Hình thức xử phạt
Các hình thức xử phạt vi phạm hành
chính phải đảm bảo mục đích trừng phạt,
giáo dục, răn đe đồng thời vừa có giá trị xử lí
trực tiếp, vừa ngăn chặn khả năng tiếp tục vi
phạm Đối với người nước ngoài, ngoài
những hình thức phạt như cảnh cáo, phạt tiền
thì hình thức trục xuất đáp ứng được tất cả
những yêu cầu nói trên Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính năm 2002 bổ sung hình
thức trục xuất vừa là hình thức phạt chính,
vừa là hình thức phạt bổ sung thể hiện thái độ
kiên quyết đấu tranh phòng chống vi phạm
pháp luật và sự sáng suốt trong việc lựa chọn
những hình thức xử lí có hiệu quả đối với
từng đối tượng vi phạm pháp luật của Nhà
nước ta
3 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là
khoảng thời gian pháp luật quy định mà
trong khoảng thời gian đó cơ quan nhà nước
có thẩm quyền có quyền xử phạt người vi
phạm hành chính Khi hết thời hiệu, người đ:
có hành vi vi phạm hành chính không bị xử
phạt về hành vi đ: thực hiện nữa Sở dĩ hết
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, người
vi phạm không bị xử phạt vì hết khoảng thời
gian đó, hành vi đ: thực hiện được coi là mất
tính nguy hiểm cho x: hội Độ dài của thời
gian này tuỳ thuộc mức độ nguy hiểm cho x:
hội của hành vi Mặc dù mức độ nguy hiểm
cho x: hội của vi phạm hành chính không
cao song vi phạm hành chính rất đa dạng với
mức độ nguy hiểm khác nhau nên quy định
thời hiệu như nhau đối với mọi vi phạm hành chính là không hợp lí Mặt khác, xử lí vi phạm hành chính không chỉ nhằm mục đích trực tiếp là giáo dục, trừng trị người vi phạm
và giáo dục chung mà còn nhằm thiết lập và duy trì trật tự x: hội trong quản lí hành chính Trong nhiều trường hợp, tuy hành vi vi phạm đ: hết thời hiệu nhưng hậu quả của hành vi vẫn tồn tại làm phương hại lợi ích x: hội đòi hỏi phải được khắc phục Pháp lệnh
xử lí vi phạm hành chính năm 1995 phân chia vi phạm hành chính ra thành hai nhóm với thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính khác nhau và cho phép áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra khi vi phạm hành chính đ: hết thời hiệu là một bước tiến so với Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989
Cũng do tính nguy hiểm cho x: hội của
vi phạm hành chính không cao nên ý thức chống đối pháp luật của người vi phạm hành chính không biểu lộ một cách gay gắt, hơn nữa vi phạm hành chính có thể diễn ra ở những lĩnh vực x: hội rất khác nhau nên quy
định trong thời gian còn thời hiệu mà người
vi phạm lại thực hiện hành vi vi phạm mới thì không áp dụng thời hiệu vừa là quy định quá khắt khe, vừa không hợp lí vì khi đó hành vi
vi phạm sẽ không bao giờ hết thời hiệu Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 đ: sửa đổi, bổ sung quy định trong thời hạn của thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính “cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đ:
vi phạm thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện
vi phạm hành chính mới” Quy định này không chỉ biểu lộ thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với người vi phạm mà còn nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền
Trang 4trong phát hiện, xử lí vi phạm hành chính
4 Nơi nộp tiền phạt
Theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 1989 người vi phạm hành chính bị
phạt tiền phải nộp tiền phạt cho người có
thẩm quyền xử phạt Trên thực tế, điều này
đ: làm phát sinh tiêu cực trong xử lí vi phạm
hành chính Để hạn chế tiêu cực, Pháp lệnh
xử lí vi phạm hành chính năm 1995 nghiêm
cấm việc thu tiền phạt tại chỗ, trong mọi
trường hợp, tiền phạt đều phải nộp tại nơi thu
tiền phạt của kho bạc nhà nước Trong những
trường hợp vi phạm hành chính đơn giản, vi
phạm tại những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên
sông, trên biển, những vùng đi lại khó khăn
hay vi phạm ngoài giờ hành chính thì việc
nộp tiền phạt tại điểm thu tiền phạt của kho
bạc lại gây không ít khó khăn cho người bị
xử phạt Phải nói rằng rất khó có thể có được
cách giải quyết toàn thiện, toàn mĩ mà chỉ có
thể tìm giải pháp tối ưu trong những điều
kiện có thể Sự dung hoà những quy định của
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm
1989 và Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính
năm 1995, trong Pháp lệnh xử lí vi phạm
hành chính năm 2002 một mặt quy định tiền
phạt phải nộp tại kho bạc nhà nước, mặt khác
cho phép người bị phạt nộp tiền phạt tại chỗ
trong những trường hợp nhất định vừa có khả
năng ngăn ngừa tiêu cực, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho người vi phạm khi nộp tiền phạt
Có thể nói, quá trình xây dựng ba pháp
lệnh kể trên thể hiện nỗ lực tìm kiếm những
yếu tố hợp lí thông qua quá trình thường
xuyên theo dõi, đánh giá khả năng tác động,
tính khả thi của từng quy định và yêu cầu của
thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm
hành chính Mỗi pháp lệnh ra đời đánh dấu
bước phát triển mới và là sự phát triển liên
tục trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lí của những quy định trước Tuy nhiên, Pháp lệnh
xử lí vi phạm hành chính năm 2002 vẫn còn một số vấn đề cần được xem xét tiếp, đó là: + Sự thiếu thống nhất của những quy
định trong cùng một văn bản
- Điều 43 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 quy định các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử
lí vi phạm hành chính bao gồm: Tạm giữ người; tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; bảo l:nh hành chính; quản lí người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn Theo quy định này, tạm giữ giấy phép lưu hành phương tiện, giấy phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan là biện pháp bảo đảm xử lí vi phạm hành chính Nhưng biện pháp này không
được đề cập trong Điều 43 Để đảm bảo tính thống nhất nội tại của văn bản, Điều 43 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 cần
được bổ sung biện pháp này
- Tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm xử lí vi phạm hành chính Khoản 1 Điều 46 quy định: “Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ
được áp dụng trong trường hợp cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lí hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành chính” Như vậy, tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính chỉ được áp dụng trong hai trường hợp:
Trang 51 Cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết
định xử lí; 2 Ngăn chặn ngay vi phạm hành
chính, ngoài ra không còn được áp dụng
trong trường hợp nào khác Tại khoản 3 Điều
57 thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền
tạm giữ phương tiện vi phạm khi phạt tiền mà
người bị phạt không có giấy phép lái xe hoặc
giấy phép lưu hành phương tiện cho đến khi
người đó chấp hành xong quyết định Việc
tạm giữ phương tiện vi phạm trong trường
hợp này là cần thiết để bảo đảm xử lí vi
phạm Song rõ ràng trường hợp này không
thuộc hai trường hợp nói trên nên khoản 1
Điều 46 cần bổ sung trường hợp này Tức là,
tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính
được áp dụng trong ba trường hợp: 1 Cần để
xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử
lí; 2 Ngăn chặn ngay vi phạm hành chính; 3
Khi người vi phạm bị phạt tiền không có giấy
phép lái xe, giấy phép lưu hành phương tiện
+ Thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi
phạm hành chính
Thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm
hành chính có giá trị pháp lí rõ rệt vì đó là
mốc thời gian để xác định khi nào thì người
vi phạm hành chính không bị xử phạt nữa
Theo Điều 10, thời hiệu xử phạt vi phạm
hành chính được tính từ ngày vi phạm hành
chính được thực hiện Vấn đề đặt ra là cần
hiểu “ngày vi phạm hành chính được thực
hiện” là ngày nào Trên thực tế, có vi phạm
xảy ra trong chốc lát như hành vi vượt đèn
đỏ, có vi phạm xảy ra trong khoảng thời gian
rất dài, có thể tới mấy năm như vi phạm
trong lĩnh vực tài chính, môi trường, xây
dựng Ngày vi phạm được thực hiện có thể
hiểu là:
- Ngày vi phạm bắt đầu được thực hiện,
bất kể hành vi kéo dài bao lâu;
- Ngày vi phạm chấm dứt, vi phạm đ: hoàn thành và kết thúc một cách tự nhiên hoặc người vi phạm đ: tự chấm dứt hành vi
vi phạm;
- Ngày vi phạm bị phát hiện và đình chỉ Trong ba cách hiểu trên thì cách hiểu thứ nhất là sát nghĩa với cụm từ “ngày vi phạm hành chính được thực hiện” nhất Nhưng theo cách hiểu này, trường hợp hành vi kéo dài thì
có thể hành vi vẫn đang xảy ra nhưng thời hiệu đ: hết Điều này không phản ánh đúng bản chất của thời hiệu và chắc hẳn đây không phải là ý tưởng mà nhà làm luật muốn thể hiện
Hai cách hiểu sau rất ít sức thuyết phục
về mặt ngữ nghĩa của cụm từ “ngày vi phạm hành chính được thực hiện” nhưng lại phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính và thời hiệu xử phạt khi đó mới thực sự có ý nghĩa Vậy khi quy định thời hiệu này cần quy định là thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là một năm (hoặc hai năm) kể từ ngày vi phạm hành chính chấm dứt hoặc bị phát hiện thì mới thích hợp Tóm lại, xây dựng pháp luật là hoạt động phức tạp, thực tiễn lại luôn biến động nên không thể ngay lập tức có được các quy định hoàn chỉnh Hoàn thiện pháp luật là nhiệm vụ mang tính thường xuyên Thực hiện nhiệm
vụ này cần quan tâm tới hai yêu cầu có tính nguyên tắc là: Bám sát sự vận động của x: hội và yêu cầu quản lí đất nước; không ngừng theo dõi, đánh giá giá trị thực tế của các văn bản pháp luật để phát hiện và đáp ứng kịp thời nhu cầu sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành hay ban hành văn bản pháp luật mới./