Để lựa chọn thể nhân có tư cách là người đại diện hợp pháp của pháp nhân ngân hàng thương mại, thông thường có hai phương thức: Một là, điều lệ của pháp nhân phải chỉ định rõ ai sẽ có q
Trang 1rên nguyên tắc, pháp nhân ngân hàng
thương mại vì không phải là một thực
thể vật chất nên chỉ có thể thực hiện các
quyền, nghĩa vụ của nó thông qua một thể
nhân có tư cách là đại diện của pháp nhân
Để lựa chọn thể nhân có tư cách là người đại
diện hợp pháp của pháp nhân ngân hàng
thương mại, thông thường có hai phương
thức: Một là, điều lệ của pháp nhân phải chỉ
định rõ ai sẽ có quyền thay mặt pháp nhân
ngân hàng thương mại thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của nó trong các quan hệ pháp luật
với chủ thể khác; hai là, người được điều lệ
của pháp nhân ngân hàng thương mại chỉ định
làm đại diện có thể lập văn bản uỷ quyền cho
người khác thay mình thực hiện các hành vi
đại diện
Trong phương thức thứ nhất, pháp nhân
ngân hàng thương mại sẽ lựa chọn được
người đại diện cho mình một cách trực tiếp
bằng ý chí tập thể của các thành viên pháp
nhân (thông qua bản điều lệ của pháp nhân)
nên thẩm quyền đại diện của người này
thường rất rộng, có thể bao gồm tất cả các
hành vi pháp lí mà pháp nhân ngân hàng
thương mại có thể thực hiện theo pháp luật
Còn trong phương thức thứ hai, các thành
viên pháp nhân chỉ lựa chọn được người đại
diện cho mình một cách gián tiếp, thông qua
ý chí của một thể nhân khác (người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân như đã được chỉ
định trong điều lệ) bằng văn bản uỷ quyền nên thẩm quyền đại diện của người được uỷ quyền sau này thường hạn chế hơn, có thể chỉ được phép đại diện cho pháp nhân ngân hàng thương mại trong một số trường hợp nhất định như đã được ghi trong văn bản uỷ quyền
Ở nước ta, pháp luật quy định khá rõ ràng
và chi tiết về các hình thức đại diện hợp pháp cho pháp nhân nói chung và pháp nhân ngân hàng thương mại nói riêng, bao gồm hình thức đại diện theo pháp luật và hình thức đại diện theo uỷ quyền Tuy nhiên, trong thực tế giao dịch pháp lí của ngân hàng thương mại trên thị trường, việc xác định người đại diện hợp pháp cho pháp nhân ngân hàng thương mại để từ đó xác định tính có hiệu lực hay không của các giao dịch pháp lí do người này xác lập và thực hiện nhân danh pháp nhân ngân hàng thương mại đôi khi gặp phải những khó khăn nhất định Những khó khăn này thường liên quan đến các vấn đề rất thực tiễn như như việc xác định các hình thức văn bản uỷ quyền hợp lệ trong giao dịch pháp lí của ngân hàng (chứng cứ chứng minh về sự đại diện); hiệu lực pháp lí của sự đại diện và vấn đề hậu quả pháp lí của giao dịch khi người đại diện cho ngân hàng thương mại hành xử vượt quá phạm vi được uỷ quyền;
T
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
NguyÔn v¨n TuyÕn *
Trang 2vấn đề chấp nhận hay khụng cỏc tập quỏn
thương mại và thụng lệ quốc tế về việc uỷ
quyền trong giao dịch thương mại của ngõn
hàng; vấn đề phõn định trỏch nhiệm phỏp lớ
của người đại diện và của người được đại
diện khi giao dịch thương mại của ngõn hàng
được xỏc lập, thực hiện; vấn đề nhõn viờn
ngõn hàng cú thể trở thành người đại diện
hợp phỏp cho ngõn hàng thương mại hay
khụng, khi nào…? Cú thể nhận thấy tất cả
những khú khăn này đều xoay quanh chủ đề
người đại diện hợp phỏp của ngõn hàng
thương mại và việc khắc phục những khú
khăn này sẽ cú ý nghĩa, tỏc dụng quan trọng
trong quỏ trỡnh xỏc lập, thực hiện giao dịch
thương mại cũng như xỏc định đường lối giải
quyết cỏc tranh chấp phỏt sinh từ giao dịch
thương mại của ngõn hàng thương mại
Theo chỳng tụi, ở gúc độ phỏp lớ cú thể
xem xột vấn đề đại diện hợp phỏp của phỏp
nhõn ngõn hàng thương mại trờn những khớa
cạnh chủ yếu sau đõy:
Trước tiờn, chỳng tụi cho rằng cần nhận
thức rừ hơn về bản chất phỏp lớ của quan hệ
đại diện cũng như cỏc hỡnh thức đại diện hợp
phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại
Việc xỏc định một cỏch chớnh xỏc về hỡnh
thức đại diện của người được coi là đại diện
hợp phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương
mại sẽ là điều kiện, tiền đề quan trọng để xỏc
định vấn đề hiệu lực của cỏc giao dịch phỏp lớ
do phỏp nhõn ngõn hàng thương mại xỏc lập
và thực hiện với khỏch hàng Theo quan niệm
truyền thống, mọi phỏp nhõn núi chung và
phỏp nhõn ngõn hàng thương mại núi riờng
đều cú thể xỏc lập cho mỡnh hai hỡnh thức đại
diện, đú là đại diện theo phỏp luật và đại diện
theo uỷ quyền như trờn đó đề cập Chỳng tụi cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “đại diện theo phỏp luật” để phõn biệt với “đại diện theo uỷ quyền” khụng phải trong mọi trường hợp đều chớnh xỏc Thật vậy, trờn tinh thần của nguyờn tắc tự định đoạt, chỉ cú cỏc thành viờn phỏp nhõn chứ khụng phải Nhà nước mới cú quyền lựa chọn và chỉ định ai sẽ làm người đại diện cho phỏp nhõn do mỡnh thành lập ra trong cỏc quan hệ phỏp luật với chủ thể khỏc Vai trũ chủ yếu của Nhà nước ở đõy là thừa nhận hay khụng thừa nhận giỏ trị phỏp lớ của sự lựa chọn đú Cũn vai trũ thứ yếu của Nhà nước trong trường hợp này là nếu cỏc thành viờn phỏp nhõn khụng thể lựa chọn được người đại diện hợp phỏp cho phỏp nhõn
do họ thành lập ra thỡ khi đú Nhà nước mới chỉ định thay để đảm bảo quyền lợi chung cũng như quyền lợi tư của cỏc bờn giao dịch
Khi đó, chỉ người nào được pháp luật (chứ không phải điều lệ của pháp nhân) chỉ định làm đại diện cho pháp nhân mới được coi là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
Theo thông lệ, pháp luật các nước thường quy
định người đứng đầu pháp nhân mặc nhiên
được coi là đại diện theo pháp luật của pháp nhân, trừ khi điều lệ của pháp nhân hoặc quyết định thành lập pháp nhân đ2 có chỉ
định cụ thể về người đại diện cho mình
Như vậy, theo nhận thức của chỳng tụi,
cú thể quan niệm người được điều lệ của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại chỉ định làm đại diện hợp phỏp cho phỏp nhõn, thực chất cũng chỉ là người đại diện theo sự uỷ quyền trực tiếp của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại mà bằng chứng về sự uỷ quyền này chớnh là điều lệ của phỏp nhõn quy định
Trang 3Sự uỷ quyền trong trường hợp này khụng
phải là hợp đồng uỷ quyền mà là hành vi
phỏp lớ đơn phương thể hiện ý chớ tập thể của
cỏc thành viờn phỏp nhõn Cũn đối với trường
hợp thứ hai, người đại diện theo chỉ định của
điều lệ phỏp nhõn kớ văn bản uỷ quyền lại
cho người thứ ba, chỳng tụi quan niệm đõy
cũng là hỡnh thức đại diện theo uỷ quyền
nhưng là sự uỷ quyền giỏn tiếp (vỡ phải thụng
qua ý chớ của một thể nhõn khỏc - người kớ
văn bản uỷ quyền) Quan hệ uỷ quyền này
khụng phải phỏt sinh giữa người kớ văn bản
uỷ quyền mà là phỏp nhõn do người đú được
chỉ định làm đại diện, với người được uỷ
quyền sau này Vỡ thế, người kớ văn bản uỷ
quyền (vớ dụ, chủ tịch hội đồng quản trị hoặc
tổng giỏm đốc điều hành của ngõn hàng
thương mại) sẽ khụng cú tư cỏch là người uỷ
quyền mà thực chất chỉ cú tư cỏch là đại diện
cho người uỷ quyền - phỏp nhõn ngõn hàng
thương mại Qua sự phõn tớch trờn đõy, chỳng
ta nhận thấy cú sự trựng hợp về tư cỏch phỏp
lớ là cả người được điều lệ của phỏp nhõn
ngõn hàng thương mại chỉ định làm đại diện
lẫn người được uỷ quyền sau này đều cú tư
cỏch giống nhau, đú là tư cỏch của người
được uỷ quyền, mặc dự phương thức uỷ
quyền và phạm vi uỷ quyền cú thể khỏc nhau
Túm lại, về cỏc hỡnh thức đại diện hợp
phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại,
theo chỳng tụi chỉ cú thể chấp nhận một
trường hợp duy nhất được xem là hỡnh thức
đại diện theo phỏp luật, đú là trường hợp
phỏp luật quy định một cỏch cụ thể người
đứng đầu pháp nhân, ví dụ, tổng giỏm đốc
của ngõn hàng thương mại là người đại diện
đương nhiờn của phỏp nhõn ngõn hàng
thương mại khi điều lệ của phỏp nhõn này khụng cú quy định cụ thể về việc lựa chọn người đại diện Cũn cỏc trường hợp khỏc, kể
cả trường hợp điều lệ của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại cú chỉ định tổng giỏm đốc
là người đại diện cho ngõn hàng thương mại thỡ cũng đều phải được nhỡn nhận như là hỡnh thức đại diện theo uỷ quyền Sự phõn biệt giữa đại diện theo phỏp luật với đại diện theo
uỷ quyền khụng chỉ cú tỏc dụng làm phong phỳ thờm lớ luận khoa học phỏp lớ về vấn đề đại diện của phỏp nhõn mà cũn cú ý nghĩa thực tiễn trong việc xỏc định phạm vi cũng như thẩm quyền đại diện của những người đại diện
Một cỏch khỏi quỏt, cú thể nhận thấy hai hỡnh thức đại diện này khỏc nhau ở chỗ, nếu trong hỡnh thức đại diện theo phỏp luật, người đại diện sẽ đương nhiờn cú quyền thực hiện tất cả những hành vi phỏp lớ mà phỏp nhõn do
họ là đại diện cú thể làm theo luật định, nhõn danh phỏp nhõn và hành xử vỡ quyền lợi của phỏp nhõn thỡ trong hỡnh thức đại diện theo
uỷ quyền, người đại diện - người được uỷ quyền chỉ cú thể làm những gỡ mà văn bản uỷ quyền cho phộp Vỡ thế, khi một phỏp nhõn ngõn hàng thương mại xỏc lập cỏc văn bản uỷ quyền cho người đại diện, cho dự đú là văn bản quan trọng nhất của phỏp nhõn như bản điều lệ hay là những hỡnh thức văn bản uỷ quyền khỏc thỡ nhất thiết phần nội dung cụng việc uỷ quyền cho người đại diện làm thay nhõn danh mỡnh cũng phải được quy định một cỏch rừ ràng và cụ thể
Thứ hai, cần cú nhận thức rừ ràng hơn về
cỏc tiờu chớ để xỏc định tư cỏch đại diện của người đại diện cho phỏp nhõn ngõn hàng
Trang 4thương mại Chỉ khi nào chỳng ta cú nhận
thức đỳng đắn về cỏc tiờu chớ xỏc định tư
cỏch đại diện của người đại diện cho phỏp
nhõn ngõn hàng thương mại thỡ khi đú mới cú
thể xỏc định một cỏch chớnh xỏc và khỏch
quan về hiệu lực phỏp lớ của giao dịch cũng
như đường lối giải quyết tranh chấp phỏt sinh
từ giao dịch Chỳng tụi nhận thức rằng mặc
dự người đại diện của phỏp nhõn ngõn hàng
thương mại vốn là thể nhõn cú tờn gọi riờng,
cú đời sống tõm lớ riờng và cú thõn phận
phỏp lớ riờng, hoàn toàn độc lập với thõn
phận phỏp lớ của phỏp nhõn ngõn hàng
thương mại nhưng khi họ đúng vai trũ là
người đại diện cho phỏp nhõn ngõn hàng
thương mại thỡ họ phải hành động vì quyền
lợi của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại chứ
không thể bị chi phối bởi ý chí cá nhân hay
các lợi ích của cá nhân mình
Xuất phỏt từ nhận thức như vậy, chỳng
tụi cho rằng việc xỏc định tư cỏch đại diện
của người đại diện cho ngõn hàng thương mại
trong khi xỏc lập và thực hiện cỏc giao dịch
phỏp lớ với khỏch hàng cần phải dựa vào cỏc
tiờu chớ cơ bản sau đõy:
1 Xỏc định xem người đại diện đú được
chỉ định bằng phương thức và bằng chứng
nào: Phỏp luật? Điều lệ của phỏp nhõn hay
văn bản uỷ quyền hợp lệ khỏc? Đõy là tiờu
chớ về mặt hỡnh thức để xỏc định tư cỏch đại
diện cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại
của thể nhõn nào đú Nếu khụng cú bằng
chứng cụ thể về sự đại diện thỡ khụng thể xỏc
định được người nào đú cú tư cỏch là đại diện
hợp phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương
mại hay khụng Trong thực tiễn giao dịch
phỏp lớ của ngõn hàng thương mại, việc xỏc
định cỏc bằng chứng về sự đại diện luụn là
vấn đề phức tạp, rắc rối và nhiều khi gặp phải những khú khăn khụng thể giải quyết được
do phỏp luật chưa quy định rừ ràng, đầy đủ
về cỏc hỡnh thức văn bản uỷ quyền được coi
là hợp lệ Theo chỳng tụi, để đảm bảo quyền lợi hợp phỏp cho cỏc bờn giao dịch cũng như đảm bảo nguyờn tắc tự định đoạt và tự do ý chớ trong quỏ trỡnh giao dịch, phỏp luật cần chấp nhận nguyờn tắc tập quỏn trong giao dịch thương mại là phỏp nhõn ngõn hàng thương mại cú thể bày tỏ ý chớ đớch thực của mỡnh trong việc lựa chọn người đại diện bằng bất kỡ hỡnh thức nào cú thể chứng minh được
Với nguyờn tắc này, cú thể chấp nhận cỏc văn bản sau đõy như là bằng chứng hợp lệ về việc
uỷ quyền đại diện: a) Điều lệ của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại; b) Quyết định bổ nhiệm phú tổng giỏm đốc, giỏm đốc chi nhỏnh, trưởng văn phũng đại diện; c) Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng uỷ quyền cử đại diện cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại trong giao dịch với người thứ ba; d) Văn bản phõn
cụng nhiệm vụ cho cỏ nhõn cỏn bộ, nhõn viờn
của ngõn hàng thương mại; e) Cỏc văn bản khỏc thể hiện ý chớ đớch thực của phỏp nhõn ngõn hàng thương mại trong việc lựa chọn người đại diện cho mỡnh Với nhận thức như trờn, chỳng tụi quan niệm người đúng vai trũ đại diện hợp phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại trong giao dịch với khỏch hàng
cú thể là bất kỡ thể nhõn nào cú năng lực phỏp luật và năng lực hành vi để thực hiện cỏc cụng việc giao dịch nhõn danh phỏp nhõn ngõn hàng thương mại Theo quan niệm này, người cú khả năng tiếp nhận tư cỏch làm đại diện hợp phỏp cho phỏp nhõn ngõn hàng thương mại khụng chỉ là chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giỏm đốc hay giỏm đốc chi
Trang 5nhánh mà còn có thể là chính các nhân viên
ngân hàng đang thực hiện các công việc được
giao bởi ngân hàng thương mại Tuy nhiên,
do địa vị pháp lí của các nhân viên ngân hàng
vốn không phải là những người giữ chức vụ
quản lí hay điều hành ngân hàng nên họ sẽ
chỉ được coi là người đại diện hợp pháp cho
ngân hàng thương mại trong một số khâu của
quá trình giao dịch, chẳng hạn như tiếp nhận
hồ sơ vay vốn, thẩm định hồ sơ và lập báo
cáo thẩm định, xây dựng và gửi văn bản giao
dịch cho khách hàng, tư vấn hay trả lời khách
hàng về các vấn đề liên quan đến nội dung
công việc giao dịch
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn giao dịch,
để tránh các quan điểm tranh luận không cần
thiết về việc xác định người đại diện hợp
pháp cho ngân hàng thương mại khi giao dịch
với khách hàng, chúng tôi cho rằng pháp luật
cần có quy định bắt buộc các ngân hàng
thương mại phải công khai hoá cho khách
hàng biết về những người đại diện hợp pháp
cho mình Khi đó, khách hàng mặc nhiên sẽ
bị coi như đã biết hoặc buộc phải biết về
những người đại diện hợp pháp của ngân
hàng thương mại Do vậy, họ có thể tự quyết
định về việc có xác lập giao dịch hay không
với ngân hàng thương mại
2 Xác định xem người đại diện đó nhân
danh ai khi tiến hành các giao dịch với người
thứ ba: Nhân danh pháp nhân ngân hàng
thương mại hay nhân danh chính họ? Đây là
một trong số các tiêu chí quan trọng về nội
dung để xác định tư cách đại diện của người
đại diện cho pháp nhân ngân hàng thương
mại Sở dĩ như vậy là vì bản chất của quan hệ
đại diện là một quan hệ uỷ quyền, trong đó
người được uỷ quyền (bên đại diện) nhân
danh người uỷ quyền (bên được đại diện) để hành xử vì quyền lợi hợp pháp của người uỷ quyền Nếu trong quan hệ uỷ quyền này, người được uỷ quyền được chỉ định rõ là họ đồng thời có tư cách đại diện cho người uỷ quyền thì mặc nhiên họ phải hiểu rằng mình
có nghĩa vụ nhân danh bên uỷ quyền để hành động Nhưng nếu có bằng chứng chứng minh
người được uỷ quyền (ví dụ, tổng giám đốc
hoặc giám đốc chi nhánh của ngân hàng thương mại) đã không nhân danh bên uỷ quyền (pháp nhân ngân hàng thương mại) mà nhân danh chính mình khi thực hiện các công việc được uỷ quyền thì trong trường hợp đó
họ không phải là người đại diện cho bên uỷ quyền - pháp nhân ngân hàng thương mại Khi đó, pháp nhân ngân hàng thương mại hoàn toàn không bị sự ràng buộc với giao dịch pháp lí do người này xác lập và thực hiện Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp lí việc tìm ra bằng chứng về việc người được uỷ quyền đã không nhân danh bên uỷ quyền mà nhân danh chính mình là điều rất khó khăn nên pháp nhân ngân hàng thương mại khó thoát khỏi trách nhiệm liên đới với tư cách người được đại diện Chúng tôi đồng ý với quan điểm của TS Nguyễn Ngọc Điện cho rằng việc xác định người được uỷ quyền nhân danh ai khi xác lập và thực hiện giao dịch sẽ
là căn cứ để phân biệt trường hợp uỷ quyền đại diện (ví dụ: Hợp đồng đại lí bảo hiểm)
với trường hợp uỷ quyền không đại diện (ví dụ: Hợp đồng đại lí vận chuyển hàng hoá
hoặc hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu hàng hoá trong thương mại).(1)
3 Xác định xem người đại diện đó hành
xử có phù hợp với phạm vi và thẩm quyền đại diện hay không? Trên nguyên tắc, người
Trang 6đại diện phải hành động phù hợp với phạm vi
công việc được uỷ quyền đại diện Tuy nhiên,
trong thực tiễn giao dịch pháp lí của ngân
hàng thương mại, có thể xảy ra trường hợp
người được chỉ định làm đại diện hợp pháp
cho pháp nhân ngân hàng thương mại đã xác
lập và thực hiện giao dịch thương mại vượt
quá thẩm quyền đại diện hoặc hoàn toàn
không có thẩm quyền đại diện Trong những
trường hợp như vậy, nhà làm luật cho rằng
pháp nhân ngân hàng thương mại sẽ không bị
ràng buộc về mặt pháp lí với giao dịch do
người được chỉ định làm đại diện cho mình
xác lập Lí do là ở chỗ, trong những trường
hợp này người được chỉ định làm đại diện
thực chất không có tư cách là đại diện cho
pháp nhân ngân hàng thương mại Khi đó,
mọi hậu quả pháp lí xảy ra cho các bên có
liên quan đều do người xác lập giao dịch
không có hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện
chịu trách nhiệm trực tiếp đối với người thứ
ba ngay tình Tuy nhiên, xuất phát từ nhu cầu
thực tiễn, tập quán giao dịch cũng như pháp
luật đều chấp nhận rằng nếu người được đại
diện (ở đây ngụ ý chỉ pháp nhân ngân hàng
thương mại) đồng ý ràng buộc với giao dịch
pháp lí do người đại diện xác lập vượt quá
phạm vi uỷ quyền (hoặc xác lập khi không có
thẩm quyền đại diện) bằng cách hoàn thành
các thủ tục uỷ quyền cho hợp lệ thì giao dịch
đó vẫn có hiệu lực đối với người được đại
diện (pháp nhân ngân hàng thương mại)
4 Xác định xem người đại diện đó có xác
lập và thực hiện giao dịch vì quyền lợi của
pháp nhân ngân hàng thương mại không hay
vì quyền lợi chính họ? Tiêu chí này tương đối
khó xác định trong thực tiễn giao dịch pháp lí
của ngân hàng thương mại, bởi lẽ, đôi khi
quyền lợi của pháp nhân ngân hàng thương mại và quyền lợi của cá nhân người đại diện cho nó không thể xác định ranh giới và tách
biệt rõ ràng Ví dụ: Ông X là giám đốc của
một chi nhánh của ngân hàng thương mại A, được uỷ quyền đại diện cho pháp nhân ngân hàng thương mại A kí hợp đồng tín dụng cho doanh nghiệp B vay tiền để sau đó doanh nghiệp này cho gia đình ông X vay lại một phần vốn trong số tiền đã vay của ngân hàng
Trong trường hợp này, có phải ông X đã hành động vì quyền lợi của ngân hàng thương mại A không hay chỉ vì quyền lợi cá nhân của ông ta và phải chăng giao dịch pháp
lí mà ông ta xác lập không có hiệu lực? Theo chúng tôi, câu trả lời trong trường hợp này là giao dịch vẫn có hiệu lực nếu chứng minh được rằng việc xác lập giao dịch này không
hề ảnh hưởng đến mục tiêu chính của việc cho vay và không gây hậu quả bất lợi gì đáng
kể cho pháp nhân ngân hàng thương mại
Tóm lại, qua sự phân tích trên đây về hình thức đại diện và các tiêu chí xác định người đại diện cho pháp nhân ngân hàng thương mại, chúng tôi mong muốn tham góp một vài ý kiến nhằm góp phần nhận thức lại vấn đề đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại Trên cơ sở đó, tạo điều kiện cho việc xem xét vấn đề hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng nói riêng cũng như xác định đường lối giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch này trong thực tiễn đời sống./
(1).Xem: TS Nguyễn Ngọc Điện, “Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam”, Nxb
Trẻ thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, tr 403