1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu " potx

6 337 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 129,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, khái niệm quyền sở hữu được hiểu dưới góc độ là mức độ xử sự quyền năng mà pháp luật cho phép chủ sở hữu được thực hiện các hành vi nhất định như chiếm hữu, sử dụng, định đoạt lê

Trang 1

TS Bïi §¨ng HiÕu * hái niệm quyền sở hữu là khái niệm cốt

lõi, cơ bản nhất của luật dân sự Nếu ta

hình dung luật dân sự như một ngôi nhà thì

chế định tài sản và quyền sở hữu được coi là

trụ cột của ngôi nhà đó Trong các tài liệu

pháp lí hiện nay, khái niệm quyền sở hữu

được đề cập theo ba góc độ khác nhau

Thứ nhất, quyền sở hữu được tiếp cận

dưới góc độ là quan hệ pháp luật - quan hệ

pháp luật dân sự về sở hữu Nếu xuất phất từ

góc độ này thì quyền sở hữu được phân tích

với đầy đủ các bộ phận cấu thành của bất cứ

quan hệ pháp luật nói chung như chủ thể,

khách thể, đối tượng, nội dung, căn cứ xác

lập, căn cứ chấm dứt,

Thứ hai, khái niệm quyền sở hữu có thể

được tiếp cận dưới góc độ là tập hợp các quy

định pháp luật về sở hữu (nghĩa khách quan)

Dưới góc độ này thì việc tiếp cận với vấn đề

quyền sở hữu sẽ được thực hiện thông qua

việc hệ thống hoá các văn bản quy phạm

pháp luật do Nhà nước ban hành để điều

chỉnh các quan hệ sở hữu Các quy phạm này

chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật

khác nhau như Hiến pháp, Bộ luật dân sự và

các văn bản quy phạm pháp luật khác

Thứ ba, khái niệm quyền sở hữu được

hiểu dưới góc độ là mức độ xử sự (quyền

năng) mà pháp luật cho phép chủ sở hữu

được thực hiện các hành vi nhất định (như

chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) lên tài sản

theo ý chí của mình (nghĩa chủ quan) Dưới góc độ này, quyền sở hữu được coi là một trong những quyền năng cơ bản nhất mà một chủ thể có thể có được đối với tài sản (bên cạnh các quyền khác đối với tài sản như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, quyền dụng ích cá nhân ) Các phân tích sau đây của bài viết chỉ đề cập khái niệm quyền

sở hữu theo khía cạnh thứ ba này

Khái niệm quyền sở hữu được hình thành rất sớm Chưa có tài liệu nào có thể khẳng định được chính xác thời điểm hình thành khái niệm quyền sở hữu Chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng một số khái niệm khác của luật dân sự phát sinh muộn hơn và thậm chí còn được coi như một hệ luận của quyền sở hữu (như khái niệm thừa kế, sở hữu trí tuệ, ) Hơn nữa, khái niệm quyền sở hữu trải qua nhiều giai đoạn tiến hoá khác nhau, mỗi giai đoạn mang những nét đặc trưng riêng Mục đích chính của bài viết này là cố gắng khái quát hoá sự phát triển của khái niệm quyền sở hữu từ lúc hình thành ban đầu cho đến nay Mỗi giai đoạn có những đặc điểm pháp lí cơ bản khác biệt và tạo nên những thế hệ riêng biệt của khái niệm quyền

sở hữu Các thế hệ này của khái niệm quyền

sở hữu được phân tích không gắn kết với bất

K

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

kì những mốc thời gian nào của lịch sử phát

triển xã hội, bởi lẽ điều đó còn phụ thuộc

vào lịch sử lập pháp của mỗi quốc gia

Thậm chí tại một số quốc gia, khái niệm

quyền sở hữu khi bắt đầu được áp dụng đã

mang tính kế thừa và có thể không trải qua

những thế hệ đầu tiên trong các thế hệ sẽ

được nêu dưới đây Hơn nữa, trong thực tế

luôn tồn tại đồng thời nhiều tài liệu nghiên

cứu của nhiều luật gia khác nhau, mỗi tài

liệu chịu ảnh hưởng của những cách hiểu

khác nhau về quyền sở hữu

Có thể khái quát hoá quá trình phát triển

của khái niệm quyền sở hữu thông qua bốn

thế hệ cơ bản, thể hiện bốn cách hiểu khác

nhau về quyền sở hữu

1 Thế hệ thứ nhất tài sản thể hiện tư

cách nhân thân của chủ sở hữu

Đây là giai đoạn sơ khai trong lịch sử

phát triển chế định sở hữu Khái niệm quyền

sở hữu ban đầu được hiểu khác xa rất nhiều

so với cách hiểu của chúng ta ngày nay

Trong giai đoạn sơ khai này mới chỉ có khái

niệm chủ sở hữu chứ chưa có khái niệm

quyền sở hữu Tài sản khi đó được hiểu như

là sự tiếp nối tư cách cá nhân của chủ sở

hữu Ai xâm phạm đến tài sản của một người

(lấy mất con thú săn được, hoa trái thu lượm

được) là xúc phạm tới cá nhân người đó

Thời La Mã cổ đại có quan niệm: Một người

kiện kẻ trộm không phải vì mình có quyền

sở hữu mà vì người ăn trộm đã xúc phạm

đến danh dự của mình thông qua hành vi ăn

trộm đó Kẻ trộm khi đó bị coi là kẻ xúc

phạm (bị kiện theo phương thức kiện hành vi

trộm cắp - actio furti) chứ chưa được coi là

người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của

người khác (chưa áp dụng các phương thức kiện bảo vệ quyền sở hữu như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình - actio rei vindicatio, hay phương thức kiện đòi lại tài sản bị trộm - condictio furtiva) Quan niệm

đó dẫn đến một loạt các hệ quả pháp lí quan trọng sau đây:

- Theo quan niệm đó mà pháp luật La

Mã giai đoạn cổ đại đã quy định cho phép chủ sở hữu không những được lấy lại tài sản

bị trộm mà còn được trả thù lại sự xúc phạm

đó đối với kẻ trộm như chặt tay, giam giữ, giết, bán làm nô lệ, phạt gấp nhiều lần tài sản trộm, (1) Cần lưu ý rằng trộm cắp thời đó được coi là vi phạm tư pháp và được điều chỉnh bởi hệ thống luật tư chứ không phải bởi luật công như ngày nay

- Nếu tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không có sự xúc phạm đến nhân thân của

chủ sở hữu (ví dụ: Chủ sở hữu cho người

khác mượn tài sản, sau đó người mượn lại đem bán tài sản đó đi) thì chủ sở hữu không được quyền đòi lại.(2)

- Cũng theo quan niệm đó mà luật La Mã thời kì cổ đại đã quy định: Nếu có nhiều kẻ trộm cùng ăn trộm một tài sản thì hành vi của mỗi kẻ trộm được coi là những sự xúc phạm riêng biệt đối với chủ sở hữu Khi đó mỗi kẻ trộm phải trả cho người bị trộm toàn

bộ tài sản đã ăn trộm (có bao nhiêu kẻ trộm cùng thực hiện việc trộm cắp thì chủ sở hữu được hưởng ngần ấy lần tài sản của mình).(3)

Ví dụ: Hai kẻ trộm cùng ăn trộm một con ngựa thì khi bị bắt mỗi kẻ trộm phải nộp cho người bị trộm một con ngựa

- Do tài sản là sự tiếp nối tư cách nhân thân của chủ sở hữu, do đó, khi chủ sở hữu

Trang 3

chết thì tư cách nhân thân chấm dứt, tài sản

trở thành vô chủ Một số tài liệu khảo cổ cho

thấy thời xa xưa, nhiều dân tộc có tập quán:

Sau khi một người chết đi thì tài sản của

người đó (tiền bạc, đồ dùng quý giá, thậm

chí cả nô lệ) cũng được chôn theo Cùng với

đó một nguyên tắc pháp lí được hình thành

dưới thời La Mã cổ đại có nội dung như

sau: “Việc lấy đi tài sản của người chết

không được coi là ăn trộm”.(4) Trong giai

đoạn này, chế định thừa kế chưa được hình

thành rõ nét, chưa có quy định cụ thể cho

việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang

cho những người còn sống

2 Thế hệ thứ hai - quyền sở hữu vật là

quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối

và theo ý chí của mình đối với vật

Với sự phát triển của giao lưu dân sự thì

khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ hai dần

được hình thành và được hiểu là “quyền

thống trị tuyệt đối của một chủ thể lên vật”

Quyền sở hữu là một loại vật quyền quan

trọng nhất thể hiện sự phụ thuộc tuyệt đối và

vô hạn của vật đối với chủ sở hữu Chủ sở

hữu có mọi quyền năng đối với vật Việc xác

lập quyền sở hữu đối với vật trả lời cho câu

hỏi: Vật này của ai?

Đối với vật cụ thể thì không thể có bất kì

chủ thể nào có nhiều quyền năng hơn chính

chủ sở hữu vật đó Mọi hành vi tác động lên

vật hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính

chủ sở hữu đó Các đặc điểm cơ bản của

quyền sở hữu được khái quát hoá là: 1) Tính

chất tuyệt đối; 2) Tính độc nhất; 3) Mọi xử

sự; 4) Theo ý chí của chủ sở hữu; 5) Vô thời

hạn; 6) Việc thực hiện quyền sở hữu không

dẫn tới chấm dứt quyền sở hữu đó Cũng từ

khi có cách hiểu này mà chủ sở hữu mới được bảo vệ bằng những phương thức kiện

vật quyền (ví dụ: Kiện đòi lại tài sản thuộc

sở hữu của mình)

Cũng trong giai đoạn này mới hình thành nên nguyên tắc: “Một người không thể chuyển giao cho người khác nhiều hơn những gì mình

có” (tiếng La tinh: “Nemo ad alium plus juris

transferre potest, quam ipse habet”) Và hệ quả trực tiếp của nguyên tắc này là nếu tài sản đã được chuyển giao từ người chiếm hữu bất hợp pháp sang cho người thứ ba thông qua giao dịch dân sự thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại tài sản từ người thứ ba đó

Ví dụ: Một người mua phải tài sản do trộm cắp có được thì phải trả lại cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu đòi lại Bởi lẽ, bản thân kẻ trộm không có quyền sở hữu đối với vật trộm được, do đó không thể chuyển giao quyền sở hữu sang cho người mua (không thể chuyển giao cái mà chình mình không có), khi đó người mua phải tài sản trộm cắp sẽ không thể trở thành chủ sở hữu tài sản mua được

Tại đây phát sinh vấn đề: Một người khi mua tài sản nào đó thường sẽ băn khoăn không biết người bán cho mình có đích thực là chủ sở hữu tài sản không Nếu người bán mà không phải chủ sở hữu tài sản thì đến một lúc nào đó sau khi mua chủ

sở hữu biết sẽ đòi lại, bên mua khi đó bị buộc phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản mình đã mua Nhằm khắc phục tận gốc vấn

đề này mà pháp luật các nước mới bắt đầu hình thành cơ chế đăng kí tài sản Phương thức đăng kí tài sản ban đầu được áp dụng đối với bất động sản, sau đó áp dụng dần

Trang 4

cho các loại tài sản khác là động sản

Cách làm đã cho phép chủ sở hữu có mọi

quyền năng đối với tài sản, do đó ở thế hệ

thứ hai ta không thấy có sự liệt kê các quyền

năng cơ bản của chủ sở hữu

3 Thế hệ thứ ba - quyền sở hữu vật

được hiểu thông qua việc liệt kê cụ thể các

quyền năng cấu thành của chủ sở hữu đối

với vật của mình

Trên thực tế, trong xã hội công dân, mọi

hành vi của mỗi thành viên, trong đó kể cả

hành vi đối với tài sản của chính mình cũng

chỉ giới hạn trong phạm vi cho phép sao cho

không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích

hợp pháp của các chủ thể khác cũng như lợi

ích của toàn xã hội, của cộng đồng nói chung

Chính vì lí do đó, quyền năng của chủ

sở hữu mới luôn bị hạn chế trong giới hạn

luật định Quyền năng vô hạn của chủ sở

hữu đối với vật “của mình” chỉ được thể

hiện với ý nghĩa lớn hơn so với bất kì một

chủ thể nào khác chứ không bao giờ có thể

nhiều hơn những gì pháp luật quy định

Nói cách khác, quyền sở hữu khi đó được

hiểu là tập hợp một số quyền năng cụ thể

của chủ sở hữu mà pháp luật quy định Bắt

đầu hình thành khái niệm quyền sở hữu thế

hệ thứ ba - liệt kê cụ thể các quyền năng

cấu thành của quyền sở hữu vật Cách hiểu

này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật

nhiều quốc gia những thế kỉ vừa qua

Dưới thời cộng hoà La Mã thì quyền sở

hữu được hiểu bao gồm năm quyền năng

là: 1) Quyền chiếm hữu; 2) Quyền sử

dụng; 3) Quyền hưởng dụng lợi ích từ việc

sử dụng vật; 4) Quyền định đoạt số phận

vật; 5) Quyền kiện đòi lại vật từ người

chiếm hữu bất hợp pháp

Điều 544 Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp quy định chủ sở hữu tài sản có hai quyền

năng là “hưởng thụ và định đoạt vật một

cách tuyệt đối, miễn là không sử dụng tài sản vào những việc mà pháp luật cấm” Theo quy định tại Điều 903 Bộ luật dân sự Liên bang Đức thì chủ sở hữu vật có hai

quyền năng “định đoạt vật theo ý chí của

mình và được bảo vệ khỏi mọi sự tác động của người khác lên vật

Pháp luật các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mĩ thì lại liệt kê cụ thể hơn các quyền năng của chủ sở hữu vật (thậm chí có thể có đến 10 - 12 quyền năng) Điểm đặc biệt ở chỗ các quyền năng này lại có thể được hình thành theo các nhóm không giống nhau tại nhiều chủ thể khác nhau

Trong tài liệu nghiên cứu của các luật gia trên thế giới cũng có thể hiện rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề liệt

kê các quyền năng của chủ sở hữu vật Luật gia Italia Pugliatti cho rằng quyền sở hữu bao gồm hai quyền năng cơ bản là quyền sử dụng và quyền định đoạt.(5) Luật gia người Đức Haas T bên cạnh ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt lại muốn bổ sung thêm quyền năng thứ tư là quyền quản lí.(6) Một số luật gia muốn đưa ra hàng loạt các quyền năng cụ thể mà chủ sở hữu có thể

có được để ghép chúng vào với nhau Ví dụ:

Luật gia Honore A nêu ra danh mục mười một các quyền năng và yếu tố khác nhau của quyền sở hữu:

“1) Quyền chiếm hữu (hiểu theo nghĩa hẹp như nắm giữ cơ học);

2) Quyền sử dụng (trực tiếp tác động để

Trang 5

khai thác công dụng hữu ích của vật);

3) Quyền quản lí (quyết định việc cho ai

sử dụng và sử dụng như thế nào);

4) Quyền thu lợi tức (thu nhận các lợi ích

vật chất từ hai quyền trên);

5) Quyền tiêu huỷ, tiêu dùng, thay đổi

vật theo ý muốn của mình;

6) Quyền bảo quản giữ gìn, không cho

người khác tước đoạt;

7) Quyền chuyển giao vật;

8) Tính chất vô thời hạn;

9) Không được sử dụng vật với mục đích

gây hại cho người khác;

10) Có thể mang đi bảo đảm trả nợ, bị xử

lí cho việc trả nợ;

11) Quyền khôi phục lại các quyền năng

nêu trên khi chúng bị xâm phạm”.(7)

Một số luật gia khác (như luật gia Mĩ

Becker) hưởng ứng theo quan điểm này và

còn bổ sung trong mỗi ngữ cảnh khác nhau

thì nội dung quyền sở hữu có thể khác nhau,

chỉ cần trong đó có ít nhất một trong 5 quyền

năng đầu tiên là được Theo đó, quan điểm

này cho phép tồn tại nhiều loại quyền sở hữu

cùng tồn tại song song đối với một vật.(8)

4 Thế hệ thứ tư - mở rộng hơn khái

niệm quyền sở hữu vật (thuộc thế hệ thứ

ba) sang liệt kê các quyền năng cụ thể của

chủ sở hữu tài sản nói chung (bao gồm

vật, tiền và các tài sản vô hình)

Khái niệm quyền sở hữu của luật dân sự

Việt Nam cũng như của Liên bang Nga và

của một số nước Đông Âu khác đang ở vào

thế hệ thứ tư này Theo đó quyền sở hữu vật

được mở rộng thành quyền sở hữu tài sản

nói chung (cho cả vật, tiền, giấy tờ trị giá

được bằng tiền và các quyền tài sản) và được hiểu thông qua ba quyền năng cấu thành là chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Khoản 1 Điều 209 Bộ luật dân sự Liên bang Nga quy định: “Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử

dụng và định đoạt tài sản của mình”.(9) Khái niệm quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay thuộc thế hệ thứ tư Điều 173 Bộ luật dân sự quy định: “Quyền sở

hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

Trong BLDS có chứa các quy định về quyền sở hữu các tài sản vô hình (quyền sở

hữu đối với quyền tài sản) Ví dụ: Tại Điều

422 BLDS về đối tượng của hợp đồng mua

bán có quy định: “3- Trong trường hợp đối

tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản, thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán

Hoặc như Điều 442 BLDS về hợp đồng

mua bán quyền tài sản có quy định: “1-

Trong trường hợp mua bán quyền tài sản, thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua, còn bên mua phải trả tiền cho bên bán

3 Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua

nhận được giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu

đối với quyền về tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng kí việc chuyển giao quyền sở hữu, nếu

pháp luật có quy định”

Khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ tư đang được coi là hoàn thiện và thông dụng nhất trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, ngay từ bây giờ cách hiểu đó cũng đang tiềm

Trang 6

ẩn nhiều vấn đề bất cập chưa giải quyết

được Các vấn đề này là hệ quả tất yếu của

việc áp dụng đồng thời cơ chế ba quyền năng

cho nhiều loại tài sản khác nhau (vật, tiền,

giấy tờ trị giá được bằng tiền, quyền tài sản)

Vấn đề thứ nhất liên quan đến hai loại

tài sản là tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền

Hai loại tài sản này có điểm đặc biệt là

chúng chỉ có chức năng trao đổi, chứ không

thể khai thác công dụng hữu ích từ chính

đồng tiền hay từ chính tờ giấy tiền, tờ giấy trị

giá được bằng tiền Hai loại tài sản này chỉ

mang lại lợi ích cho chủ sở hữu khi nó được

chủ sở hữu chuyển giao sang cho chủ thể

khác kèm theo đó chuyển giao luôn quyền sở

hữu (tức thực hiện quyền định đoạt chứ

không phải là quyền sử dụng) Đó cũng là sự

khác biệt cơ bản giữa chúng đối với vật Từ

đó nhận thấy quyền sử dụng khó có thể được

coi là quyền năng của chủ sở hữu tiền, giấy tờ

trị giá được bằng tiền

Vấn đề thứ hai liên quan đến quyền sở

hữu đối với quyền tài sản Quyền tài sản

được coi là tài sản vô hình, không nắm giữ

được Vậy chủ sở hữu sẽ thực hiện quyền

chiếm hữu như thế nào đối với loại tài sản vô

hình đó Việc chiếm hữu tài sản vô hình là

không thể thực hiện được Chủ sở hữu chỉ có

thể chiếm hữu được một số giấy tờ minh

chứng cho quyền tài sản của mình mà thôi

Vấn đề tiếp theo được đặt ra khi nghiên

cứu quyền sở hữu tài sản thông qua ba quyền

năng là trong nhiều trường hợp một người

không phải là chủ sở hữu nhưng lại có cả ba

quyền năng đó Điều 180 BLDS quy định:

“Người không phải là chủ sở hữu cũng có

quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật” Ví dụ: Pháp

luật quy định hầu như cho phép các doanh nghiệp nhà nước có cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho doanh nghiệp đó quản lí Ngược lại, có những trường hợp một người là chủ sở hữu tài sản nhưng lại không được thực hiện cả ba quyền năng chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản của mình Ví dụ:

Trường hợp tài sản đang trong thời gian cầm

cố được giao cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

(Xem tiếp trang 66)

(1).Xem: - Các điều 6 - 11 Luật Hammurabi của Vương quốc Babilon vào những năm 1792 - 1750 trước Công nguyên

- Các điều 12 - 18 Bảng VIII Luật 12 Bảng (Duedecim Tabulae) của Nhà nước La Mã ban hành năm 449 trước Công nguyên

(2), (3).Xem: Gai III, 197, 2002

(4) Digesta 47,19,2.1; Codex.9,32; Gai III, 201 (5) Pugliatti S Il trransferimento dell situazioni soggettive Milano, 1964

(6) Haas T Ist “Nutzungseigentum” nosh Eigentum? Inaug Diss Marburg.1976 S 146

(7) Honore A.M Ownership // Oxford Essays in Jurisprudence Oxford, 1961, P 107 - 147

(8) Becker L Property Rignts Philosophical Foundations L., 1977, P 20 - 21

(9) BLDS Liên bang Nga, Phần thứ nhất được thông qua ngày 21/10/1994, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995

Ngày đăng: 23/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w