Như vậy, đổi mới PPDH là xác định và thực hiện PPDH chưa được thực hiện, là phát triển PPDH đang thực hiện, là sự kết hợp hài hoà các PPDH không chỉ trong cả chương trình đào tạo mà ngay
Trang 1PGS.TS NGuyễn Ngọc Hòa *
iện nay, trong đào tạo đại học nói
chung cũng như trong đào tạo cử
nhân luật nói riêng yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH) đang được
đặt ra có tính cấp bách cho các giảng viên,
các nhà quản lí và cho các cơ sở đào tạo
Trong xu hướng đổi mới này có nhiều ý
kiến phê phán phương pháp giảng bài
(thuyết trình) và đòi hỏi phải thay thế
phương pháp truyền thống này bằng
PPDH tích cực mà đặc biệt là PPDH qua
tình huống
Theo chúng tôi, tất cả các PPDH, dù là
PPDH lấy người dạy là trung tâm hay
PPDH lấy người học là trung tâm, dù là
PPDH thụ động hay PPDH tích cực đều có
những mặt tích cực và mặt hạn chế Đổi
mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ toàn
bộ PPDH đang sử dụng để thay thế bằng
PPDH khác Đổi mới PPDH là lựa chọn ra
được những PPDH có hiệu quả, phù hợp
với nội dung học, đối tượng học, môi
trường học và trong chừng mực nhất định
phải phù hợp với cả người dạy học Như
vậy, đổi mới PPDH là xác định và thực
hiện PPDH chưa được thực hiện, là phát
triển PPDH đang thực hiện, là sự kết hợp
hài hoà các PPDH không chỉ trong cả
chương trình đào tạo mà ngay trong từng
môn học và từng giờ học.(1)
Trong đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở
đào tạo của chúng ta hiện nay, PPDH chủ
yếu và chiếm phần lớn thời lượng là phương pháp thuyết trình (giảng bài) Từ
đặc thù của chương trình đào tạo cử nhân luật, xét từ mục tiêu, nội dung cũng như từ
đối tượng đào tạo và môi trường đào tạo hiện nay, chúng tôi cho rằng PPDH truyền thống này vẫn sẽ là PPDH chủ yếu trong thời gian tới.(2) Do vậy, đổi mới PPDH trong đào tạo cử nhân luật trước hết phải là hoàn thiện phương pháp thuyết trình Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện các PPDH khác đang được thực hiện như phương pháp thảo luận, phương pháp diễn án và bổ sung thêm một số PPDH tích cực phù hợp với một số môn học cũng như giờ học cụ thể như PPDH qua tình huống, phương pháp semina
Hoàn thiện phương pháp thuyết trình phải xuất phát từ những điểm tích cực và những điểm hạn chế của phương pháp này Một trong những điểm tích cực của phương pháp thuyết trình là truyền đạt kiến thức nhanh và là phương pháp quen thuộc của cả người dạy và người học Điểm hạn chế nổi bật của phương pháp này là người học
đóng vai trò thụ động, không có điều kiện tham gia tích cực vào quá trình dạy học nên họ dễ nhàm chán, khó tập trung theo dõi bài giảng.(3)
Hoàn thiện phương pháp thuyết trình là
H
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm
hạn chế của phương pháp này Từ chúng tôi
đề xuất các biện pháp cụ thể sau:
1 Giảm tới mức tối thiểu nội dung
cần thuyết trình
Hiện nay, trong các trường đại học nói
chung cũng như trong các cơ sở đào tạo cử
nhân luật nói riêng, đang tồn tại hiện tượng
phổ biến là giáo viên lên lớp đều cố gắng
thuyết trình tất cả các nội dung của bài
học Cách giảng này có thể chấp nhận được
khi văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh,
chưa đầy đủ và chưa có giáo trình cũng như
tài liệu tham khảo phục vụ bài giảng Khi
đa có giáo trình và có các tài liệu tham
khảo thì cách giảng này hoàn toàn không
còn phù hợp nữa Hiện nay, các môn học
trong chương trình đào tạo cử nhân luật
không những đa có giáo trình (có thể có
nhiều loại tương ứng với mỗi cơ sở đào tạo
và mỗi loại hình đào tạo) mà còn có nhiều
sách tham khảo và cùng với đó là hệ thống
văn bản pháp luật và văn bản giải thích,
hướng dẫn tương đối đầy đủ Điều này
không cho phép duy trì việc thuyết trình tất
cả nội dung của bài học Giảng tất cả các
nội dung như vậy không chỉ gây ra sự
nhàm chán mà còn đòi hỏi phải có quỹ thời
gian lớn, gây ra sự quá tải về giờ lên lớp
cũng như xâm phạm đến quỹ thời gian
dành cho các hoạt động dạy và học khác
Cách giảng này cũng có thể là một trong
những nguyên nhân của tính thụ động
trong học tập của sinh viên, không khuyến
khích sinh viên tự đọc tài liệu cũng như
tham gia tích cực vào các hoạt động dạy
học khác
Do vậy, biện pháp đầu tiên nhằm nâng
cao chất lượng phương pháp thuyết trình là giới hạn nội dung thuyết trình
Trong các bài giảng về luật hiện nay, người dạy nhiều khi quá thiên về việc thuyết trình văn bản luật hiện hành theo kiểu giải thích luật Đây là điều không hợp
lí Dạy luật không đồng nhất với giải thích luật mà là truyền thụ kiến thức của khoa học luật Do vậy, theo chúng tôi, nội dung thuyết trình nên giới hạn chủ yếu ở quan
điểm khoa học trong việc giải quyết vấn đề
và chỉ trong phạm vi những vấn đề sau:
- Vấn đề cốt lõi mà việc hiểu nó là cơ
sở để có thể tiếp nhận và hiểu các vấn đề còn lại;
- Vấn đề phức tạp hoặc có nhiều quan
điểm khác nhau, sinh viên khó có thể tự giải quyết được mà đòi hỏi phải có sự dẫn dắt, giải thích, kết luận của người dạy học.(4)
Với nội dung được hạn chế trong phạm
vi như vậy chúng ta không chỉ có điều kiện trình bày sâu vấn đề cần thiết mà còn dành được thời gian cũng như tạo ra động cơ cho các hoạt động tích cực khác của sinh viên như đọc tài liệu, tham gia thảo luận, semina
Như vậy, trong thời gian giảng dạy lí thuyết (như cách gọi hiện nay), giáo viên phải thực hiện hai loại công việc Đó là thuyết trình nội dung cần thiết và giới thiệu, hướng dẫn người học nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị tham gia các hình thức dạy học khác
2 Thuyết trình không chỉ để người
học “biết” mà phải để người học “hiểu”
Đây là yêu cầu đặt ra (về mặt nội dung) cho bài thuyết trình ở tất cả các lĩnh vực
Trang 3Đối với khoa học luật, vấn đề này càng có
ý nghĩa đặc biệt Thuyết trình về luật
không chỉ để người học tiếp thu được nội
dung của luật mà phải để người học tiếp
thu được cơ sở lí luận và thực tiễn của luật
và từ đó có thể đánh giá được luật, có thể
so sánh luật Như vậy, thuyết trình không
chỉ nhằm trả lời câu hỏi: Là gì? mà còn
phải trả lời câu hỏi: Tại sao? Có mối liên
hệ như thế nào? Có trả lời được những câu
hỏi này thuyết trình mới giúp người học
hiểu được bản chất của vấn đề, dễ tiếp nhận
và lưu trữ thông tin Từ đó, họ mới có thể
có được phương pháp phát hiện và giải
quyết vấn đề
Giữa việc giới hạn nội dung thuyết
trình nêu ở điểm 1 và yêu cầu đặt ra của
thuyết trình có quan hệ chặt chẽ với nhau
Giới hạn nội dung thuyết trình là giúp
người dạy có điều kiện thời gian tập trung
thực hiện được yêu cầu của thuyết trình đối
với nội dung cần thiết Ngược lại, khi đạt
được yêu cầu này, thuyết trình lại giúp
người học có thể tự nghiên cứu những nội
dung không được thuyết trình
3 Thay thế thuyết trình theo kiểu
độc thoại hoàn toàn (đọc bài) bằng
thuyết trình theo kiểu nêu vấn đề
Thuyết trình theo kiểu độc thoại là kiểu
thuyết trình thể hiện rõ nhất sự thụ động
của người nghe Với kiểu thuyết trình này,
người dạy khó có thể duy trì được sự tập
trung của người học trong suốt giờ học
ngay cả trong trường hợp được coi là nói
hấp dẫn Trong khi đó, sự chú ý nghe giảng
là yếu tố quyết định giúp người nghe có thể
xử lí thông tin tốt Thuyết trình theo kiểu
nêu vấn đề là biện pháp tạo ra và khích lệ
sự tham gia tích cực của người học, khiến
họ tập trung chú ý (5) Với phương pháp thuyết trình này người dạy không trực tiếp cung cấp thông tin ngay mà phải nêu câu hỏi gợi ý, dẫn dắt, giúp người học tự phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc từng đơn vị kiến thức và từ đó hình thành thông tin cần thiết Như vậy, người học không còn là người thụ động tiếp nhận thông tin mà là người cùng tham gia tích cực với người dạy trong quá trình dạy học Họ phải cùng suy nghĩ, tìm lời giải cho các câu hỏi được đặt ra và có thể trình bày suy nghĩ của mình ở đây có sự
“giao lưu suy nghĩ, giao lưu nhận thức và trí tuệ ”(6)
Sau khi người học đa cùng suy nghĩ, cùng làm việc như vậy, người dạy mới truyền đạt thông tin như là kết quả của
sự chọn lọc, tổng hợp, bổ sung các ý kiến của người học
Thuyết trình theo kiểu nêu vấn đề không chỉ tạo hứng thú cho người học, dễ tiếp nhận và xử lí thông tin mà còn giúp họ hình thành phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, “phương pháp tư duy để làm việc trong thực tế và để có thể tự học suốt
đời người”.(7) Đối với người dạy, thuyết trình theo kiểu nêu vấn đề có thể giúp họ nắm bắt được ngay sự phản hồi về mức độ hiểu của ngưòi học để có điều chỉnh kịp thời Tuy nhiên, phương pháp dạy học này
có đòi hỏi cao hơn đối với người dạy trong khi chuẩn bị giáo án cũng như trong khi thuyết trình Họ không chỉ phải chuẩn bị kĩ các câu hỏi, các cách nêu vấn đề mà còn phải biết làm chủ và xử lí linh hoạt các tình
Trang 4huống xảy ra trong khi thuyết trình để đảm
bảo sự phù hợp về nội dung và cân đối về
thời gian giữa việc nêu vấn đề của người
dạy, cùng suy nghĩ, tham gia của người học
và trình bày của người dạy Ngoài ra, mức
độ áp dụng phương pháp nêu vấn đề còn
phụ thuộc vào từng môn học, từng bài học
cũng như từng đơn vị kiến thức
4 Phát huy tối đa phương pháp mô
hình hoá trong khi thuyết trình
Với phương pháp mô hình hoá, chúng
ta có thể thể hiện các khái niệm, các vấn đề
cũng như mối quan hệ giữa các khái niệm,
các vấn đề bằng hình ảnh dưới dạng hình
vẽ, sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu Và như vậy
chúng ta có trong tay những công cụ giải
thích quan trọng khi thuyết trình Trong
khoa học sư phạm, trình bày bằng hình ảnh
được coi là “một phương thức giao tiếp có
tác động rất mạnh và dễ nhớ”.(8)
Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi các hình
ảnh này được sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin không còn là hình ảnh “chết” mà
là hình ảnh “sống động”
Việc thực hiện phương pháp này trong
khi thuyết trình làm cho hình thức giao tiếp
của thuyết trình cũng như hoạt động của
người học không còn đơn điệu Hình thức
tiếp nhận thông tin qua nghe, nhìn được kết
hợp đan xen nhau là điều kiện tốt cho việc
tập trung, xử lí và lưu trữ thông tin của
người học.(9) Đối với người dạy, việc trình
bày bằng hình ảnh vừa giúp họ giảm bớt
việc dùng lời nói vừa giúp họ dễ dàng hơn
trong việc trình bày, giải thích
Trong thực tiễn, việc dùng hình ảnh có
thể được sử dụng để giải thích, minh hoạ
hoặc tóm tắt nội dung chủ yếu của bài thuyết trình Nhưng chúng ta cũng có thể dùng nó là phương tiện diễn tả toàn bộ nội dung bài thuyết trình.(10)
5 Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp thảo luận ngay trong buổi học, tiết học
Hiện nay, các cơ sở đào tạo luật thường
bố trí việc thuyết trình và việc thảo luận bài học theo các buổi học khác nhau Buổi thảo luận thường được tiến hành sau khi người dạy đa thuyết trình nhiều buổi Theo cách
bố trí này thời gian thuyết trình có thể kéo dài liên tục cả buổi học (5 tiết) và có thể tiếp sang các buổi khác Điều này dễ dẫn
đến sự nhàm chán cho cả người học và người dạy Theo chúng tôi, không nên bố trí các buổi giảng và thảo luận tách bạch nhau Một bài học cần chia thành các vấn
đề và cần tiến hành cả phương pháp thuyết trình và phương pháp thảo luận (kèm theo
có thể có cả bài kiểm tra nhỏ) khi giải quyết từng vấn đề hoặc nhóm vấn đề Như vậy, việc thảo luận không nhất thiết chỉ
được thực hiện trong buổi học riêng, sau khi đa thuyết trình xong toàn bộ một bài học mà có thể được thực hiện ngay trong cùng một tiết học hoặc buổi học, sau khi thuyết trình xong một hoặc một nhóm vấn
đề Sự thống nhất chặt chẽ hai phương pháp dạy học như vậy có thể đưa lại các lợi ích sau:
- Giảm thiểu sự đơn điệu gây nhàm chán;
- Tạo điều kiện tốt hơn cho việc thuyết trình vấn đề tiếp theo (người học do được củng cố thêm kiến thức qua thảo luận nên
Trang 5có điều kiện tham gia tốt hơn vào quá trình
dạy học tiếp theo; người dạy do nhận được
phản hồi từ phía người học đầy đủ hơn qua
thảo luận nên có thể kịp thời có điều chỉnh
cần thiết trong phần thuyết trình tiếp
theo );
- Tạo cho người học có thói quen
không có sự phân biệt giữa giờ thuyết trình
và giờ thảo luận trong việc đọc tài liệu,
chuẩn bị bài.(11)
6 Thay thế phương tiện dạy học
truyền thống bằng phương tiện kĩ thuật
hiện đại
Phương tiện dạy học truyền thống trong
thuyết trình là bảng và phấn (bút dạ) Hạn
chế của phương tiện dạy học này thể hiện
trước hết ở chỗ người dạy phải mất tương
đối nhiều thời gian cho việc trình bày và
tính thẩm mĩ của trình bày có thể không
cao, nhất là khi trình bày hình ảnh dưới
dạng sơ đồ, biểu đồ (12)
Phương tiện dạy học truyền thống này
đa dần dần được thay thế bằng các phương
tiện kĩ thuật khác tốt hơn Hiện nay,
phương tiện dạy học có hiệu quả nhất trong
thuyết trình là sử dụng phần mềm
Powerpoint bằng máy vi tính kết nối với
máy chiếu đa năng Với phần mềm này,
người thuyết trình có thể soạn sẵn kết cấu
bài giảng, câu hỏi nêu vấn đề, tóm tắt kết
luận giải quyết vấn đề dưới dạng chữ viết
hoặc hình ảnh như sơ đồ, biểu, bảng Khi
thuyết trình, người dạy học có thể điều
khiển cho từng nội dung chuẩn bị (hoặc
từng phần nhỏ của mỗi nội dung) lần lượt
xuất hiện trên màn hình máy chiếu theo
tiến trình dạy học với tốc độ, kiểu xuất
hiện, màu sắc (và có thể kèm theo âm thanh) như ý muốn
Việc sử dụng phần mềm này đem lại nhiều lợi ích cho cả người dạy và người học Người dạy không tốn thời gian và công sức cho việc trình bày bảng, có điều kiện áp dụng tối đa phương pháp mô hình hoá, dễ thuyết trình và không cần nói nhiều Đối với người học, đây là biện pháp tạo ra sự hứng thú học tập cho họ rất
có hiệu quả và đặt họ luôn trong tình trạng nghe, nhìn kết hợp với nhau Điều này có lợi cho quá trình tiếp nhận, xử lí và lưu trữ thông tin của người học.(13)
Một lợi thế khác của thuyết trình có sử dụng phần mềm Powerpoint là có thể giảm thiểu tối đa thời gian “chết” vì người dạy không phải dừng để trình bày bảng Do vậy, có thể tiết kiệm thời gian thuyết trình
và dành thời gian tiết kiệm được cho thảo luận.(14)
7 Kết hợp hoàn thiện phương pháp giảng bài với hoàn thiện phương pháp thảo luận và với đổi mới phương pháp
đánh giá kết quả học tập
Phương pháp dạy học là tổng hợp các phương pháp khác nhau, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, phương pháp giảng bài và phương pháp thảo luận là hai phương pháp chủ yếu Hoàn thiện phương pháp giảng bài không chỉ đòi hỏi phải kết hợp phương pháp dạy học này với các phương pháp dạy học khác
mà còn đòi hỏi các phương pháp dạy học này cũng phải được hoàn thiện theo cho phù hợp Trong các phương pháp dạy học kèm theo phương pháp giảng bài, phương
Trang 6pháp thảo luận giữ vị trí đặc biệt quan
trọng Giảng bài và thảo luận là hai phần
không thể tách rời của từng bài học Nội
dung và hình thức thực hiện của giảng bài
và của thảo luận phụ thuộc hoàn toàn vào
nhau Do vậy, hoàn thiện phương pháp
giảng bài đòi hỏi trước hết phải có sự hoàn
thiện phương pháp thảo luận như là sự hỗ
trợ cần thiết
Đánh giá kết quả học tập là khâu cuối
của quá trình dạy học nhưng cũng có ảnh
hưởng ngược trở lại quá trình dạy học trước
đó Một mặt, nội dung đánh giá (thi, kiểm
tra) phải phù hợp với nội dung học Mặt
khác, hình thức tổ chức đánh giá có ảnh
hưởng đến thái độ, ý thức học tập cũng như
phương pháp học của người học Qua đó,
hình thức tổ chức đánh giá có ảnh hưởng
nhất định đến hiệu quả của phương pháp
giảng dạy Do đó, hoàn thiện phương pháp
giảng bài không thể tách rời sự đổi mới
phương pháp đánh giá kết quả học tập.(15)./
(1).Xem: Trần Hữu Luyến, mục đích, cơ sở, nội
dung và giải pháp đổi mới phương pháp dạy học
ở trường đại học và cao đẳng, Tạp chí giáo dục
số 9/2002, tr.33
(2) Đây cũng là “phương pháp được sử dụng rộng
rai nhất ở các trường đại học và cao đẳng trên khắp
thế giới” (Willbert J Mc Keachie, Teaching Tips,
1999, Houghton Miflin - Những thủ thuật trong
dạy học - Bản dịch tiếng Việt của Dự án Việt -
Bỉ: Đào tạo giáo viên các trường sư phạm 7 tỉnh
phía Bắc Việt Nam, tr.37); Xem: Lê Công Triêm,
Tiếp cận phương pháp thuyết trình theo hướng đề
cao vai trò chủ thể của sinh viên, Tạp chí giáo
dục số 1/2001, tr.23
(3).Xem: Sđd, tr.38; G Petty, Teaching today,
1998, Stanley Thomes - Giảng dạy ngày nay -
Bản dịch tiếng Việt của Dự án Việt - Bỉ: Đào tạo
giáo viên các trường sư phạm 7 tỉnh phía Bắc Việt Nam, tr.133
(4) Xem: Lê Công Triêm Sđd, tr.24
(5) Theo Wilbert J Mc Keachie các biện pháp làm cho người nghe chú ý có thể là: Thay đổi trong cách nói (cường độ, tốc độ, điệu bộ ); liên hệ bài giảng với những vấn đề liên quan đến sinh viên hay bằng các ví dụ sinh động Sđd, tr.41
(6).Xem: Nguyễn Như ý, cần chuyển cách dạy và học đơn thoại sang cách dạy và học đối thoại, Tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 3/1996, tr.10
(7).Xem: Nguyễn Như ý, Sđd
(8) G Petty, Sđd, tr.150
(9) Theo nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Cao Thị Thặng và Phạm Thị Lan Hương thì khả năng lưu trữ thông tin trong trường hợp nghe là 15%, nhìn là 20%, nghe và nhìn là 25% (áp dụng dạy và học tích cực bộ môn hóa học, tr.37 Tài liệu của Dự án Việt - Bỉ: Đào tạo giáo viên các trường sư phạm 7 tỉnh phía Bắc Việt Nam)
(10).Xem: Nguyễn Văn Phán, Phương pháp sơ đồ hóa trong dạy học Tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 8/1998 tr.16
(11) Hiện nay, nhiều sinh viên luật thường có thói quen chỉ chuẩn bị bài cho buổi thảo luận Việc tổ chức thảo luận cũng còn nhiều bất cập Chúng tôi
có thể sẽ có bài viết riêng về vấn đề này Tuy nhiên cũng phải khẳng định ngay là nhiều người chưa hiểu
đúng về thảo luận và do vậy chưa coi trọng thảo luận Họ quan niệm thảo luận chỉ là kiểm tra, nhắc lại kiến thức được truyền thụ trong giờ thuyết trình
và do vậy có thể chỉ bố trí trợ giảng hoặc người chưa giảng được làm nhiệm vụ này
(12) Đó là chưa kể đến vấn đề vệ sinh học đường (13) Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng người học trong trường hợp này đòi hỏi phải làm việc với cường độ cao hơn
(14) Qua thực tế giảng dạy một số lớp cao học bằng phương tiện này, tác giả thấy có thể tiết kiệm
được khoảng 20% thời gian
(15) Về đổi mới hình thức đánh giá kết quả học tập, tác giả có bài viết đăng trong Tạp chí luật học
Số 3/2002