Tính đến tháng 1/2002 sau 2 năm thi hành Luật doanh nghiệp đ- có 35.447 doanh nghiệp đăng kí kinh doanh với tổng số vốn đăng kí lên tới 58.158 tỉ đồng.3 Luật doanh nghiệp chứa đựng nhiều
Trang 1Tạp chí luật học - 55
ths Nguyễn Thị ánh Vân * uật doanh nghiệp được đánh giá là
bước tiến lớn của Việt Nam trong việc
tiếp thu những chuẩn mực chung của luật
công ti ở các nước phát triển trên thế giới.(1)
Có thể nói Luật doanh nghiệp đ- góp phần
đáng kể vào việc hoàn thiện môi trường
kinh doanh ở Việt Nam Theo các con số
thống kê, số lượng các doanh nghiệp đăng
kí kinh doanh trong năm 2000 gần như
tương đương với tổng số các doanh nghiệp
được thành lập từ năm 1991 đến năm 1999
Trong ba tháng đầu năm 2001, có khoảng
4000 doanh nghiệp được thành lập với tổng
số vốn đăng kí lên tới 4.400 triệu đồng.(2)
Trong năm 2001, số lượng các doanh
nghiệp đăng kí kinh doanh vẫn tiếp tục tăng
và lên tới 140% so với con số đó trong năm
2000 Tính đến tháng 1/2002 (sau 2 năm thi
hành Luật doanh nghiệp) đ- có 35.447
doanh nghiệp đăng kí kinh doanh với tổng
số vốn đăng kí lên tới 58.158 tỉ đồng.(3)
Luật doanh nghiệp chứa đựng nhiều nội
dung mới trước đây chưa được quy định
trong Luật công ti, có liên quan tới loại hình
doanh nghiệp, thủ tục thành lập doanh
nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp, vốn của
doanh nghiệp, bảo vệ cổ đông nhỏ, công
khai hóa thông tin và quản trị doanh
nghiệp Bài viết này xin được đề cập một
trong những vấn đề nói trên, đó là quy chế
điều chỉnh vốn của doanh nghiệp theo Luật
doanh nghiệp
Bàn về quy chế pháp lí điều chỉnh vốn của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp không thể không nói đến việc xóa bỏ vốn pháp định trong số các điều kiện được đặt
ra đối với người thành lập doanh nghiệp Trước đây Luật công ti (Điều 15) đề ra ba yêu cầu người thành lập công ti phải thỏa m-n để được thành lập công ti Một trong
ba yêu cầu đó là người thành lập công ti phải có vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh; vốn điều lệ không
được thấp hơn vốn pháp định do Hội đồng
Bộ trưởng quy định Để đảm bảo yêu cầu về vốn pháp định nói trên được thi hành, các nhà làm luật cũng đ- đưa vào Luật công ti các chế tài hành chính và hình sự (Điều 44)
áp dụng trong trường hợp người thành lập công ti khai man vốn để hoàn tất thủ tục thành lập công ti
Có thể nói rằng về mặt lí thuyết, yêu cầu về vốn pháp định đ- được quy định tương đối hoàn chỉnh trong Luật công ti Tuy nhiên, quy định đó đ- không phát huy hiệu lực trong gần mười năm thi hành Luật công ti Lí do chủ yếu là pháp luật cũng như bản thân Luật công ti đ- không có biện pháp cưỡng chế thi hành thích hợp và
L
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 256 - Tạp chí luật học
nghiêm khắc
Hiện nay Luật doanh nghiệp chỉ yêu
cầu các doanh nghiệp kinh doanh trong một
số ngành, nghề nhất định phải có vốn pháp
định (Điều 13) Các doanh nghiệp khác
không cần phải thoả m-n yêu cầu về vốn
pháp định khi thành lập
Việc xóa bỏ vốn pháp định đ- từng
được bàn luận sôi nổi trong giai đoạn dự
thảo Luật doanh nghiệp đang được xem xét
thông qua Lí do có nhiều song sự lo ngại
chính xoay quanh mối quan hệ giữa vốn
pháp định và yêu cầu bảo vệ chủ nợ của
doanh nghiệp Doanh nghiệp không cố vốn
pháp định, các chủ nợ của doanh nghiệp sẽ
rất có khả năng gặp phải rủi ro nếu không
có biện pháp pháp lí nào khác để hạn chế
các rủi ro đó
Luật doanh nghiệp đồng thời với việc
xóa bỏ vốn pháp định đ- đề ra một số quy
định nhằm bảo vệ chủ nợ của doanh nghiệp:
Thứ nhất, Luật doanh nghiệp đề ra một
số hạn chế đối với công ti trách nhiệm hữu
hạn (TNHH) và công ti cổ phần trong việc
chi trả lợi nhuận/cổ tức cho thành viên/cổ
đông (Điều 44, 67 Luật doanh nghiệp)
Theo những quy định này, các công ti chỉ
có thể chi trả lợi nhuận/cổ tức cho các thành
viên/cổ đông nếu kinh doanh có l-i, đ- nộp
đủ thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính
khác Thậm chí ngay sau khi chia lợi nhuận,
trả cổ tức, công ti vẫn phải đảm bảo khả
năng thanh toán đủ các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác khi đến hạn
Thứ hai, Luật doanh nghiệp áp đặt một
số điều kiện công ti TNHH phải thoả m-n
khi muốn giảm vốn điều lệ (khoản 3 Điều
43) Trường hợp giảm vốn điều lệ bằng
cách hoàn trả lại một phần vốn góp cho thành viên theo tỉ lệ vốn góp của họ thì phải
đảm bảo sau khi hoàn trả, công ti TNHH vẫn có thể thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
Thứ ba, Luật doanh nghiệp đề ra nguyên tắc khá chặt chẽ - nguyên tắc nhất trí - trong việc định giá tài sản dùng để góp vốn vào doanh nghiệp (Điều 23) Trường hợp vốn góp vào doanh nghiệp là tài sản và góp ở thời điểm thành lập doanh nghiệp, tất cả thành viên sáng lập là người định giá các tài sản đó Trường hợp vốn góp là tài sản nhưng thời điểm góp vốn lại được thực hiện sau khi doanh nghiệp đ- bước vào hoạt
động thì người định giá tài sản là hội đồng quản trị công ti cổ phần, hội đồng thành viên công ti TNHH hoặc tất cả thành viên hợp danh của công ti hợp danh
Thứ tư, Luật doanh nghiệp quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thành viên công ti TNHH đối với những thiệt hại phát sinh do không góp vốn đầy đủ và kịp thời như đ- cam kết (khoản 1 Điều 27) Như vậy, Luật doanh nghiệp đ- khai thác khá triệt để các biện pháp bảo vệ chủ
nợ của doanh nghiệp Vấn đề còn lại có lẽ
là làm thế nào để các biện pháp đó được
đảm bảo thực hiện nhằm đem lại sự an toàn thật sự cho các chủ nợ Việc xóa bỏ vốn pháp định đồng thời đề ra các biện pháp pháp lí cần thiết bảo vệ chủ nợ, xét về mặt lí thuyết là hoàn toàn hợp lí Các doanh nghiệp tuy không phải thoả m-n mức vốn tối thiểu bắt buộc theo quy định của pháp luật nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt có liên quan đến việc góp vốn, xác định giá trị vốn góp bằng tài sản, tăng
Trang 3Tạp chí luật học - 57
hoặc giảm vốn điều lệ và việc phân chia lợi
nhuận Việt Nam không phải là nước đi đầu
trong việc xóa bỏ mức vốn tối thiểu phải có
để thành lập doanh nghiệp ở Mĩ, đạo luật
công ti của các bang đều đ- lần lượt xóa bỏ
quy định về mức vốn tối thiểu bắt buộc
(minimum capital requirements) mà các
sáng lập viên của công ti phải thoả m-n khi
thành lập công ti.(4) Để bảo vệ chủ nợ, các
tòa án Mĩ thường sử dụng nhiều biện pháp
khác nhau kể cả việc phải phá vỡ “vỏ bọc
trách nhiệm hữu hạn bấy lâu đ- được coi là
tấm khiên vững chắc che chắn cho các cổ
đông công ti (Piercing the corporate veil)
nhằm truy cứu trách nhiệm của cổ đông
trong những trường hợp cần thiết.(5)
Như vậy, rõ ràng là chỉ có quy chế pháp
lí hoàn chỉnh thôi chưa đủ mà còn phải có
những biện pháp cưỡng chế thi hành
nghiêm khắc để các quy định đó được đảm
bảo thực hiện Thiếu các biện pháp cưỡng
chế thích hợp, các quy định pháp luật dù có
hoàn thiện đến mấy cũng sẽ trở nên hình
thức, không được thực thi trong cuộc sống
Vấn đề thứ hai cần đề cập khi bàn về
quy chế pháp lí điều chỉnh vốn của doanh
nghiệp là việc đa dạng hóa các loại hình cổ
phiếu mà các công ti cổ phần được phép
phát hành Các quy định về vốn của công ty
cổ phần là sự thay đổi quan trọng của Luật
doanh nghiệp so với Luật công ti Trước
đây, vấn đề cổ phiếu và cổ phần của công ti
cổ phần chỉ được quy định rất sơ sài trong
Luật công ti Ngược lại, Luật doanh nghiệp
đ- dành hẳn 7 điều khoản (từ Điều 52 đến
Điều 58) quy định về các loại cổ phần,
quyền và trách nhiệm của từng loại cổ đông
tương ứng.(6) Theo các quy định này, công ti
cổ phần có thể phát hành tới năm loại cổ phiếu: Cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đ-i biểu quyết, cổ phiếu ưu đ-i cổ tức, cổ phiếu
ưu đ-i hoàn lại và cổ phiếu ưu đ-i khác Trong các loại cổ phiếu này, cổ phiếu ưu
đ-i biểu quyết là vấn đề đáng được quan tâm Lí do là loại cổ phiếu này có thể gây ra
lo ngại cho nhà đầu tư vì nó có khả năng dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đ-i biểu quyết với các loại cổ đông khác trong công ti Các cổ
đông nhỏ rất có nguy cơ bị chèn ép vì sự tồn tại của loại cổ phiếu này
Thực tiễn pháp lí ở các nước cho thấy hầu như không có biện pháp pháp lí nào có thể áp dụng để đảm bảo sự bình đẳng giữa các tầng lớp cổ đông nếu cổ phiếu ưu đ-i biểu quyết được phép lưu hành Theo Luật doanh nghiệp, cổ phiếu ưu đ-i biểu quyết chỉ được áp dụng đối với hai nhóm cổ đông:
Tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ
đông sáng lập đồng thời ưu đ-i biểu quyết của cổ đông sáng lập cũng chỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Xuất phát từ sự cần thiết phải có sự kiểm soát của Nhà nước ở các doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cổ phiếu
ưu đ-i biểu quyết của nhóm cổ đông thứ nhất có thể cần phải duy trì Đối với nhóm
cổ đông thứ hai, quyền sở hữu loại cổ phiếu này nên được loại bỏ nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông nhỏ Nhìn chung đối với các nước đang trong giai đoạn chuyển đối, các nhà khoa học pháp lí đ- khuyên rằng nên thận trọng trong việc cho phép phát hành cổ phiếu ưu đ-i và tốt nhất là nên quy
định loại cổ phiếu được phép phát hành: Cổ
Trang 458 - Tạp chí luật học
phiếu thường; trường hợp vì lí do nào đó mà
loại cổ phiếu ưu đ-i cần được pháp luật thừa
nhận thì cũng không nên là cổ phiếu ưu đ-i
biểu quyết.(7)
Vấn đề thứ ba trong quy chế điều chỉnh
vốn của doanh nghiệp cần bàn tới là quy
định về chuyển nhượng vốn của công ti
TNHH Đối với công ti TNHH có từ hai
thành viên trở lên, Điều 32 Luật doanh
nghiệp cho phép các thành viên công ti
được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ
vốn góp của mình nhưng vốn đó phải được
chào bán cho các thành viên còn lại của
công ti với cùng điệu kiện Việc chuyển
nhượng vốn góp cho người không phải là
thành viên chỉ được phép tiến hành nếu các
thành viên còn lại của công ti không mua
hoặc không mua hết
Như vậy, Luật doanh nghiệp đ- dành
quyền ưu tiên mua trước (Preemptiveright)
cho các thành viên công ti TNHH Quy
định này là hoàn toàn thỏa đáng và cũng đ-
được luật công ti ở nhiều nước áp dụng Tuy
nhiên, Luật doanh nghiệp Việt Nam lại
không có quy định nhằm đảm bảo cơ chế
định giá công bằng cho phần vốn được
chuyển nhượng Khoản 2 Điều 31 Luật
doanh nghiệp chỉ quy định nguyên tắc xác
định giá mua lại vốn góp của thành viên
trong trường hợp thành viên đó bỏ phiếu
chống hoặc phản đối bằng văn bản đối với
quyết định của hội đồng thành viên về một
số vấn đề nhất định Trường hợp thành viên
công ti không có phản đối gì đối với quyết
định của công ti mà chỉ đơn thuần muốn
chuyển nhượng phần vốn góp của mình thì
lại không có nguyên tắc pháp lí nào để xác
định giá vốn được chuyển nhượng
Để đảm bảo cho quyền ưu tiên mua trước được thực hiện trong thực tế, cần phải
có quy chế pháp lí rõ ràng về việc xác định giá của phần vốn được chuyển nhượng Thiếu quy chế định giá này, quy định của pháp luật về quyền ưu tiên mua trước sẽ trở nên hình thức và không được thi hành trong thực tiễn Thành viên có nhu cầu chuyển nhượng vốn rất có thể chào bán phần vốn của mình với giá cao cho các thành viên khác của công ti nhằm tạo cơ hội cho người không phải là thành viên công ti mua được phần vốn đó Luật doanh nghiệp không quy
định là điều kiện chào bán cho người không phải là thành viên công ti phải giống như hoặc khắt khe hơn điều kiện chào bán cho thành viên công ti
Trên đây là một vài vấn đề cần quan tâm trong quá trình thực hiện cũng như hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vốn của doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp./
(1).Xem: ‘Vietnam’ APECA Press Release, (http:/Apecsec.org/whatsnew/Press/Rel 52 - 99 Html)
(2).Xem: Báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu tư, số 1690/BKH - QLKT, ngày 25/3/2001 “Báo cáo tình hình một năm thực hiện Luật doanh nghiệp”, tr.5 (3).Xem: “Enterpprise Law Triggers Business in Vietnam”, Asia Pulse Japnuary 29, 2002 Tuesday (LexisNexis)
(4).Xem: William P Hackney & Tracey R Benson,
“Shareholder Liability for Inadequate Capital” University of Pittburge Law Review, (1982), tr 852,
897 - 898, (LexisNexis)
(5)Xem: Robert Charles Clark, “Corporate Law” (1986, Aspen Law & Business), tr.71 - 74
(6).Xem: Điều 52 đến Điều 58
(7).Xem: “General Principles of Company Law for Transition Economies”, (1999) 24 Lowa journal of Corporation Law, tr.243 (LexisNexis)