Tuy được quy định là dấu hiệu định tội, định khung hình phạt và là tình tiết tăng nặng TNHS khá sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam trước đây và trong BLHS năm 1999 hiện nay nhưng việc
Trang 1ThS Phạm Văn Báu *
o tính nguy hiểm cao cho x hội của hành
vi phạm tội xâm phạm vào đối tượng
được pháp luật bảo vệ nói chung, luật hình sự
nói riêng đặc biệt là trẻ em nên trong luật hình
sự Việt Nam từ trước đến nay “phạm tội đối với
trẻ em” luôn được quy định là tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) Tình tiết
này chẳng những đ được quy định là tình tiết
tăng nặng buộc tòa án phải xét đến khi quyết
định hình phạt mà còn được quy định là dấu
hiệu định tội danh và dấu hiệu định khung hình
phạt của nhiều tội phạm Trước BLHS năm
1985, phạm tội đối với trẻ em mới chỉ được quy
định là dấu hiệu định tội của hai tội: Tội giao
cấu với người dưới 16 tuổi và tội dâm ô(1)
, là dấu hiệu định khung hình phạt của tội hiếp
dâm.(2)
Trong BLHS năm 1985, phạm tội đối
với trẻ em được quy định là dấu hiệu định tội
của bốn tội: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a);
tội giao cấu với trẻ em (Điều 114); tội bắt trộm,
mua bán hoặc đánh tráo trẻ em (Điều 149) và
tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 202a), là dấu
hiệu định khung hình phạt của năm tội, đó là:
Tội cưỡng dâm người chưa thành niên (điểm a
khoản 2 Điều 113 a); tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma tuý (điểm c khoản 2, điểm đ
khoản 3 Điều 185i); tội cưỡng bức lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (điểm
d khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 185m); tội
mua dâm người chưa thành niên (điểm a khoản
3 Điều 202a) và tội chứa mại dâm, tội môi giới
mại dâm (điểm a khoản 3 Điều 202) còn trong
BLHS năm 1999, phạm tội đối với trẻ em được quy định là dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung hình phạt với phạm vi khá rộng - là dấu hiệu định tội của 7 tội sau: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112); tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114); tội giao cấu với trẻ em (Điều 115); tội dâm ô
đối với trẻ em (116); tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120); tội cố ý gây thương tích (Điều 104) và tội vi phạm quy
định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228), là dấu hiệu định khung hình phạt của 13 tội, đó là: Tội giết người (điểm c khoản 1 Điều 93); tội
đe doạ giết người (Điều 103); tội cố ý gây thương tích (khoản 2, 3 Điều 104); tội hành hạ người khác (Điều 110); tội bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 134); tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (điểm c khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 197); tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (điểm
c khoản 2 Điều 198); tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (điểm
d khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 200); tội dụ
dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (điểm c khoản 2 Điều 252); tội chứa mại dâm (điểm a khoản 3 Điều 254), tội môi giới mại dâm (điểm a khoản 3 Điều 255);
và tội mua dâm người chưa thành niên (điểm b khoản 2 Điều 256) Trong trường hợp không
được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định
D
* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
khung hình phạt, theo điểm h khoản 1 Điều 48
BLHS thì “phạm tội đối với trẻ em” là tình tiết
tăng nặng TNHS
Phạm tội đối với trẻ em có dấu hiệu đặc
biệt so với các trường hợp phạm tội khác ở đối
tượng bị xâm hại là trẻ em Mặc dù luật hình sự
không trực tiếp định nghĩa trẻ em là người như
thế nào nhưng theo quy định của Luật chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em năm 1991 và
những quy định của BLHS thì trẻ em là những
người chưa đủ 16 tuổi trong một số tội danh trẻ
em còn được giới hạn và phân biệt như sau: Là
người “từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (khoản 1
Điều 112, khoản 1 Điều 115 ) hoặc là người
“chưa đủ 13 tuổi” (khoản 4 Điều 112, điểm d
khoản 3 Điều 197 ) Phạm tội đối với trẻ em
có tính nguy hiểm cho x hội cao hơn so với
trường hợp phạm tội đối với các đối tượng bình
thường khác bởi người phạm tội đ xâm phạm
đến những người dưới 16 tuổi, những người
không hoặc khó có điều kiện tự vệ, tự bảo vệ
mình, những người đòi hỏi phải được ưu tiên
bảo vệ trước mọi sự xâm hại của tội phạm
Việc mở rộng phạm vi trừng trị và trừng trị
nghiêm khắc các hành vi xâm hại đối với trẻ
em không chỉ thể hiện thái độ nghiêm khắc của
Nhà nước và nhân dân ta trước tình hình phạm
tội đối với trẻ em còn có xu hướng gia tăng,
góp phần răn đe, ngăn chặn tình trạng phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng này mà còn góp phần
thực hiện các quy định khác của pháp luật và
các cam kết quốc tế của Nhà nước trong việc
bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Tuy được quy định là dấu hiệu định tội,
định khung hình phạt và là tình tiết tăng nặng
TNHS khá sớm trong pháp luật hình sự Việt
Nam trước đây và trong BLHS năm 1999 hiện
nay nhưng việc áp dụng tình tiết “phạm tội đối
với trẻ em” trong thực tế vẫn còn một số vướng mắc cần được tháo gỡ như việc xác định tội danh, khung hình phạt đối với các trường hợp
có sự không phù hợp giữa thực tế khách quan (đối tượng bị xâm hại là trẻ em) và ý thức chủ quan của người có hành vi xâm hại (tưởng và cho rằng đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em) được giải quyết theo nguyên tắc nào? và việc xác định tuổi, cách tính tuổi của nạn nhân trong các vụ án xâm phạm trẻ em khi nạn nhân không có bất cứ một giấy tờ gì chứng minh tuổi hoặc tuy có nhưng không đáng tin cậy sẽ được giải quyết như thế nào? Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng chưa có văn bản giải thích chính thức các vướng mắc này.(3) Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tiếp tục trao đổi
và bày tỏ ý kiến của mình trong việc tháo gỡ các vướng mắc trên
1 Trường hợp có sự không phù hợp giữa thực tế khách quan - đối tượng bị xâm hại với ý thức chủ quan của người có hành vi xâm hại
Hiện nay, trong khoa học pháp lí hình sự có các cách hiểu khác nhau về việc áp dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” trong định tội,
định khung hình phạt cũng như trong quyết
định hình phạt
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” nếu thỏa mn đầy đủ các điều kiện về khách quan nạn nhân là trẻ em và về chủ quan người phạm tội biết rõ nạn nhân là trẻ em
Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Khi áp dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ em chỉ cần chứng minh về khách quan nạn nhân là trẻ em, không cần chứng minh về chủ quan người phạm tội phải biết rõ nạn nhân là trẻ em.(4)
Trang 3Quan điểm thứ ba cũng tương tự quan điểm
hai khi bàn về trách nhiệm hình sự của người
phạm tội giao cấu với trẻ em, quan điểm này
cho rằng “tuổi của người bị hại là một thực tế
khách quan không phụ thuộc vào nhận thức của
người phạm tội Do đó, chỉ cần xác định được
người bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,
người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS theo Điều
114 BLHS.(5)
Như vậy, nếu theo quan điểm thứ nhất thì
chỉ khi có đầy đủ cơ sở khách quan và chủ
quan của TNHS mới được áp dụng tình tiết
“phạm tội đối với trẻ em” Còn theo quan điểm
thứ hai và thứ ba - bất kể thái độ chủ quan của
người phạm tội là gì, biết hay không biết đối
tượng bị xâm hại là trẻ em, muốn hay không
muốn xâm hại trẻ em không loại trừ việc bị áp
dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” Nếu
thực tế đối tượng bị xâm hại là trẻ em lại thiếu
cơ sở chủ quan của TNHS và như thế là đ rơi
vào quan điểm mà chúng ta vẫn thường phê
phán là “quy tội khách quan”
Theo chúng tôi mỗi quan điểm trên đây đều
có hạt nhân hợp lí của nó song chưa thật đầy
đủ, tuyệt đối hóa một quan điểm nào trên đây
đều chưa giải quyết đúng đắn TNHS của người
phạm tội Về nguyên tắc, việc xác định và truy
cứu TNHS đối với người phạm tội về hành vi
nguy hiểm cho x hội nào đó khi và chỉ khi có
đầy đủ các cơ sở khách quan và chủ quan của
TNHS Truy cứu TNHS người nào đó về tình
tiết “phạm tội đối với trẻ em” cũng không có
ngoại lệ - không nằm ngoài nguyên tắc này
trong trường hợp người phạm tội có sai lầm thì
vấn đề TNHS của họ phải được giải quyết theo
nguyên tắc sai lầm
Trong thực tế khi phạm tội đối với trẻ em
có thể xảy ra các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Có sự thống nhất giữa thực
tế khách quan - đối tượng bị xâm hại là trẻ em
và về chủ quan người phạm tội biết rõ đối tượng mình xâm hại là trẻ em;
Trường hợp 2: Thực tế khách quan - đối tượng bị xâm hại là trẻ em nhưng về chủ quan người phạm tội không biết và cho rằng đối tượng mình xâm hại không phải là trẻ em; Trường hợp 3: Thực tế khách quan - đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em nhưng
về chủ quan người phạm tội lại cho rằng đối tượng mình xâm hại là trẻ em và mong muốn xâm hại đối tượng này;
Trường hợp 4: Cũng có khi người phạm tội không quan tâm đối tượng bị xâm hại là ai, là trẻ em hay không phải là trẻ em đều mong muốn xâm hại;
Trường hợp 5: Người phạm tội cố tình không khai rõ ý thức chủ quan của mình Theo BLHS, các tội quy định tình tiết
“phạm tội đối với trẻ em” dù là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt đều là các tội cố
ý Trong trường hợp được cân nhắc đến khi quyết định hình phạt, người phạm tội cũng chỉ phải chịu TNHS khi có lỗi cố ý đối với tình tiết
đó - nghĩa là người phạm tội phải nhận thức
được đối tượng bị xâm phạm là trẻ em Cố ý phạm tội là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho x hội của hành vi, tính gây thiệt hại cho x hội của hành
vi đang thực hiện trên cơ sở nhận thức những tình tiết khách quan của nó - những tình tiết tạo nên tính nguy hiểm cho x hội của hành vi, những tình tiết đó có thể là mặt thực tế của hành vi, là đối tượng của hành vi Phạm tội
đối với trẻ em có dấu hiệu đặc trưng ở đối tượng bị xâm hại là trẻ em Do đó, chỉ coi là cố
ý phạm tội khi người phạm tội nhận thức được
Trang 4nghiên cứu - trao đổi
đối tượng mình xâm hại là trẻ em Trên cơ sở lí
thuyết như vậy có thể khẳng định: Một người
chỉ bị coi là cố ý phạm tội đối với trẻ em khi họ
nhận thức được đối tượng bị xâm hại là trẻ em
Nếu không nhận thức được sẽ loại trừ sự cố ý
Nếu buộc một người không nhận thức được đối
tượng bị xâm hại là trẻ em phải chịu TNHS về
tình tiết tăng nặng này là buộc tội khách quan
Vì vậy, để giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS
của người phạm tội trong các vụ án có đối
tượng bị xâm hại là trẻ em, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phải chứng minh người
phạm tội nhận thức được hoặc buộc phải nhận
thức được hoặc không nhận thức được, không
buộc phải nhận thức được đối tượng bị xâm hại
là trẻ em Vấn đề phức tạp chính là ở chỗ này
Việc chứng minh này còn phức tạp hơn nhiều
khi người phạm tội cố tình không khai rõ ý
thức chủ quan của mình khi ranh giới giữa trẻ
em với không còn là trẻ em rất mong manh Ví
dụ, giữa trẻ em chưa đủ 13 tuổi (nhưng gần đủ
13 tuổi) với trẻ em đủ 13 tuổi; giữa trẻ em chưa
đủ 16 tuổi (nhưng gần đủ 16 tuổi) với người đủ
16 tuổi về mặt pháp lí thì đ rõ nhưng với người
phạm tội và bất kì ai thì không dễ dàng phân
biệt được trong thực tế nếu không phải là người
thân trong gia đình Thậm chí thực tế còn có
không ít ông bố, bà mẹ thiếu trách nhiệm đến
mức không biết con mình sinh ngày tháng năm
nào, không làm giấy khai sinh, không biết con
mình học lớp mấy khi có sự việc xảy ra mới
lo đến các giấy tờ này Vì vậy, buộc người
phạm tội “phải biết” trong nhiều trường hợp
cũng là không thực tế
Trong luật hình sự Việt Nam cũng đ gặp
sự phức tạp tương tự, đó là vấn đề xác định tội
danh cho những trường hợp trong đó có sự
không phù hợp giữa ý thức chủ quan của người
phạm tội và thực tế khách quan về tính chất của quan hệ x hội bị xâm phạm khi giải quyết TNHS của người phạm các tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội xâm phạm sở hữu của công dân theo quy định của BLHS năm 1985 và các pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản ban hành ngày 21/10/1970 trước đây Để giải quyết trường hợp phức tạp này luật hình sự Việt Nam đ chấp nhận các hướng giải quyết khác nhau sau đây:
- Nếu ý thức chủ quan của người phạm tội
rõ ràng thì định tội theo ý thức chủ quan;
- Nếu ý thức chủ quan của người phạm tội không rõ ràng (không quan tâm tài sản bị xâm phạm thuộc sở hữu nào) thì định tội theo thực
tế khách quan.(6)
- Trong trường hợp người phạm tội không biết được ai là chủ sở hữu của tài sản (tài sản XHCN hay tài sản của công dân) hoặc người phạm tội cố tình không khai rõ ý thức chủ quan của mình, nếu xác định được tài sản đó thuộc
sở hữu XHCN thì kết án về tội xâm phạm sở hữu XHCN Nếu xác định đó là tài sản của công dân thì kết án về tội phạm sở hữu của công dân.(7)
Như vậy, luật hình sự Việt Nam không chủ trương tuyệt đối hóa cách giải quyết nào mà chấp nhận các cách giải quyết khác nhau trong việc xác định tội danh đối với người phạm tội xâm phạm sở hữu khi có sự không phù hợp giữa “thực tế khách quan” và “ý thức chủ quan” cũng như khi người phạm tội “không biết được
ai là chủ sở hữu của tài sản” Theo chúng tôi, lí thuyết này có thể được vận dụng để giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội đối với trẻ
em khi có sự “không phù hợp” và “không biết” tương tự Cụ thể là:
Trang 5- Nếu có sự thống nhất giữa thực tế khách
quan - đối tượng bị xâm hại là trẻ em và ý thức
chủ quan của người phạm tội - người phạm tội
biết đối tượng mình xâm hại là trẻ em - người
phạm tội phải chịu TNHS về tình tiết phạm tội
đối với trẻ em trong việc định tội, định khung
hoặc là căn cứ để tăng nặng TNHS khi quyết
định hình phạt;
- Nếu người phạm tội không quan tâm đối
tượng bị xâm hại là trẻ em hay không phải là
trẻ em và đều mong muốn xâm hại thì:
+ Nếu xác định thực tế đối tượng bị xâm
hại là trẻ em thì người phạm tội phải chịu
TNHS về tình tiết “phạm tội đối với trẻ em”;
+ Nếu xác định thực tế đối tượng bị xâm
hại không phải là trẻ em thì người phạm tội
không phải chịu TNHS về tình tiết “phạm tội
đối với trẻ em”
- Nếu có sự không phù hợp giữa thực tế
khách quan với ý thức chủ quan (trường hợp 2
và 3), sự lầm tưởng của người phạm tội là có
căn cứ được chứng minh qua các biểu hiện
trước, trong và sau khi phạm tội, các biểu hiện
bên ngoài khác của nạn nhân, quan hệ giữa
người phạm tội với nạn nhân, hoàn cảnh xảy
ra việc thì định tội theo ý thức chủ quan cụ
thể là:
+ Thực tế khách quan đối tượng bị xâm hại
là trẻ em nhưng về chủ quan người phạm tội
lầm tưởng không phải là trẻ em thì người phạm
tội không phải chịu TNHS về tình tiết “phạm
tội đối với trẻ em”;
+ Thực tế khách quan đối tượng bị xâm hại
không phải là trẻ em nhưng về chủ quan người
phạm tội lầm tưởng là trẻ em và mong muốn
xâm hại trẻ em thì người phạm tội phải chịu
TNHS về tình tiết “phạm tội đối với trẻ em”
- Nếu người phạm tội cố tình không khai rõ
ý thức chủ quan của mình, sự lầm tưởng là không có căn cứ thì:
+ Nếu xác định thực tế đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì người phạm tội phải chịu TNHS về tình tiết “phạm tội đối với trẻ em”; + Nếu xác định thực tế đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em thì người phạm tội không phải chịu TNHS về tình tiết “phạm tội
đối với trẻ em”
Chấp nhận các hướng giải quyết khác nhau trên đây sẽ bảo đảm được tính có căn cứ và công minh, công bằng của pháp luật hình sự Việt Nam, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn
đa dạng và phức tạp Việc tuyệt đối hóa cách giải quyết nào đó theo chúng tôi sẽ là hữu khuynh, điều đó dẫn đến quyết định của các cơ quan pháp luật và cuối cùng là bản án của tòa
án sẽ không “thấu tình - đạt lí” Quyết định đó, bản án đó khó có điều kiện đạt được các mục
đích “không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội
mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho x hội ” (Điều 27 BLHS năm 1999)
2 Việc xác định tuổi và cách tính tuổi của nạn nhân trong các vụ án xâm phạm
đến trẻ em Trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm đến trẻ em có vấn đề hết sức phức tạp nữa là việc xác định tuổi và cách tính tuổi của nạn nhân khi nạn nhân hoàn toàn không có bất cứ loại giấy tờ gì hoặc căn cứ nào
để chứng minh độ tuổi của họ hoặc tuy có một
số giấy tờ nhưng lại không đáng tin cậy như chỉ
có bản sao giấy khai sinh quá hạn, giấy khai sinh mà khi đi học hay thi chuyển cấp mới xin Giám định pháp y với trình độ chuyên môn và kĩ thuật hiện nay ở nước ta khó xác
định được chính xác năm sinh chưa nói đến
Trang 6nghiên cứu - trao đổi
tháng sinh của nạn nhân Trong một số trường
hợp phức tạp, cơ quan giám định chỉ có thể đưa
ra kết luận tuổi của nạn nhân là khoảng 12 đến
13 tuổi, hoặc 15 đến 16 tuổi,(8)
mà với pháp luật
- là căn cứ để xác định có hay không có TNHS
không thể nói khoảng từ tuổi đến tuổi được
Nếu chấp nhận kết luận này của giám định
pháp y thì biết lấy tuổi nào của nạn nhân làm
căn cứ cho việc truy cứu hay không truy cứu
TNHS người có hành vi xâm hại Ví dụ: Người
đ thành niên giao cấu có sự thuận tình với
người mà giám định pháp y kết luận trong độ
tuổi từ 12 đến 13 tuổi Nếu lấy tuổi 12 làm căn
cứ thì người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội
hiếp dâm trẻ em theo (khoản 4 Điều 112
BLHS) còn nếu lấy tuổi 13 làm căn cứ thì
người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội giao
cấu với trẻ em (khoản 1 Điều 115 BLHS).(9)
Trong trường hợp chỉ xác định được năm sinh
mà không xác định được tháng sinh hoặc xác
định được tháng sinh nhưng không xác định
được ngày sinh có thể xác định tuổi của nạn
nhân theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02
ngày 5/1/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hay không Theo Nghị quyết
này nếu không xác định được chính xác ngày
sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của
tháng và nếu cũng không có điều kiện xác định
chính xác tháng sinh thì ngày sinh là ngày
31/12 của năm sinh Theo chúng tôi, Nhà nước
cần có thái độ rõ ràng và sớm nhất về cách tính
tuổi của nạn nhân trong các trường hợp nêu
trên Trong khi chưa có văn bản giải thích
chính thức thì nên chấp nhận các hướng giải
quyết sau đây:
- Nếu có giấy tờ hợp lệ chứng minh ngày,
tháng, năm sinh của nạn nhân thì giấy tờ đó là
căn cứ để xác định tuổi của nạn nhân;
- Nếu không có các giấy tờ chứng minh hoặc tuy có nhưng không hợp lệ, không đáng tin thì cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp:
Điều tra, giám định, đối chất với các nhân chứng và đặc biệt việc có mặt của nạn nhân tại các cơ quan pháp luật cũng là một trong những căn cứ để biết tuổi thật của họ
- Còn nếu không xác định được ngày sinh thì ngày sinh sẽ là ngày cuối cùng của tháng, nếu không xác định được tháng sinh thì ngày sinh là ngày 31/12 của năm sinh như hướng dẫn của Nghị quyết số 02 nói trên./
(1), (2) Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1 tr.396,
397, 392
(3) Hiện có một giải thích về tội giao cấu với người dưới
16 tuổi trong bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 Bản tổng kết này viết “tội giao cấu với người dưới 16 tuổi là một tội cố ý trực tiếp nên can phạm phải nhận thức được trạc tuổi của người bị hại”
(4) Trích dẫn ý trong Tạp chí kiểm sát số 3/1999 theo BLHS đ sửa đổi bổ sung năm 1997
(5) Báo cáo bổ sung công tác xét xử về hình sự của tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao 10/1/1999
(6).Xem: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trường đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H.1998
(7) Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại hội nghị tổng kết toàn ngành tòa án năm 1991
(8) Theo các chuyên gia giám định của Viện khoa học
kĩ thuật hình sự Bộ công an, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ở những nước tiên tiến giám định pháp y cũng chỉ xác định chính xác tuổi của nạn nhân trong các vụ án xâm phạm trẻ em đến 75% còn 25% giám định pháp y chỉ đưa ra được kết luận tuổi của nạn nhân là khoảng 12
đến 13 tuổi, 13 đến 14 tuổi hoặc 15 đến 16 tuổi Trong các trường hợp này kết luận của giám định pháp y không thể được xem là căn cứ duy nhất để xác định TNHS mà phải được xem xét tổng hợp với các căn cứ khác
(9) Về vấn đề phức tạp này có thể xem bài viết “Vụ án nghệ sĩ Vương Linh hiếp dâm trẻ em cần phải giám định
để biết tuổi thật của người bị hại” đăng trên báo pháp luật số 85 ra ngày 9/4/2002