Cũng như một số hoạt động chứng khoán khác đang tồn tại theo quy định hiện hành, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán mặc dù đ được các chủ thể thực hiện trong thực tế nhưng dường như phá
Trang 1
ThS Phạm Thị Giang Thu * Nguyễn Ngọc Lương
hị trường chứng khoán Việt Nam đ tròn
một năm tuổi, đây là giai đoạn có ý
nghĩa quan trọng cho việc định hình loại thị
trường bậc cao này ở Việt Nam Để các chủ
thể tham gia vào thị trường hiệu quả và đúng
pháp luật, hoạt động tư vấn đầu tư chứng
khoán được hiểu là hoạt động chứng khoán
không thể thiếu tại thị trường Cũng như một
số hoạt động chứng khoán khác đang tồn tại
theo quy định hiện hành, hoạt động tư vấn
đầu tư chứng khoán mặc dù đ được các chủ
thể thực hiện trong thực tế nhưng dường như
pháp luật còn đang bỏ ngỏ Trong phạm vi
bài viết này, chúng tôi xin phép trình bày
một số suy nghĩ về pháp luật đối với hoạt
động đầu tư chứng khoán hiện hành
1 Về chủ thể tiến hành hoạt động tư
vấn đầu tư chứng khoán
Xuất phát từ bản chất của tư vấn đầu tư
chứng khoán là hình thức kinh doanh chứng
có thể tiến hành nếu đủ điều kiện luật định
Điều kiện cơ bản là công ti phải có giấy phép
hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán do Uỷ
ban chứng khoán nhà nước cấp, có đủ vốn
pháp định cho hoạt động tư vấn đầu tư chứng
khoán Tuy nhiên, thực tế hiện nay một số
doanh nghiệp, không có đủ những điều kiện
nêu trên nhưng cũng tiến hành hoạt động tư
vấn đầu tư chứng khoán Chẳng hạn, đối với một công ti tài chính là thành viên trong tổng công ti 90, 91, ngoài nhiệm vụ huy động và
sử dụng vốn với hiệu quả cao nhất số vốn tạm thời nhàn rỗi giữa các thành viên trong tổng công ti, họ còn có nhiệm vụ huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp hoặc giúp các doanh nghiệp thành viên huy động vốn từ bên ngoài Trong trường hợp doanh nghiệp thành viên có nhu cầu phát hành chứng khoán ra công chúng, nhiệm vụ của công ti tài chính không loại trừ việc tư vấn cho nhà phát hành Ví dụ, công ti tài chính bưu điện
có thể tư vấn cho công ti cổ phần cáp mà không cần tới hoạt động của các công ti chứng khoán Trong trường hợp các công ti thành viên có nhu cầu đầu tư chứng khoán,
họ cũng có thể nhận tư vấn từ công ti tài chính này Nếu so sánh dịch vụ mà tổ chức tín dụng nêu trên cung cấp và dịch vụ do các công ti chứng khoán cung cấp còn nhiều vấn
đề cần xem xét Thứ nhất, về chi phí phải trả thì chi phí phải trả cho công ti tài chính thành viên chắc chắn thấp hơn nhiều so với công ti chứng khoán (vì đây chính là lợi ích
được đặt ra khi thành lập công ti tài chính nằm trong các tổng công ti) Thứ hai, về chất
T
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2lượng dịch vụ, cần phải thừa nhận rằng các tổ
chức tín dụng không phải là tổ chức chuyên
doanh chứng khoán nên chất lượng tư vấn có
thể "khác" so với tổ chức chuyên nghiệp
Tuy nhiên, theo ý kiến chúng tôi, thực tế
hoạt động hiện nay cho thấy các tổ chức tín
dụng đ có năng lực kinh doanh tiền tệ, vì
vậy, khả năng phân tích đầu tư tài chính của
họ cũng rất đáng "nể", có thể so sánh với bất
kì công ti chứng khoán nào Thứ ba, nếu như
cần môi trường cạnh tranh để đảm bảo cung
cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất
thì sự tham gia của các tổ chức tín dụng
trong trường hợp này là cần thiết Tuy nhiên,
vấn đề đặt ra ở chỗ, theo quy định hiện hành,
chỉ các công ti chứng khoán được Uỷ ban
chứng khoán nhà nước cấp giấy phép mới
được thực hiện hoạt động tư vấn đầu tư
trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh
số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 cho phép
công ti chứng khoán và công ti quản lí quỹ
đầu tư chứng khoán cùng có thể được hoạt
động tư vấn đầu tư nhưng cho đến thời điểm
hiện nay thì chưa có công ti quản lí quỹ nào
được thành lập (do nhiều nguyên nhân khách
quan khác nhau trong đó không thể không
tính tới hệ thống pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán cũng như tâm lí
của dân cư), số lượng các công ti chứng
khoán còn rất khiêm tốn Vì vậy, nên chăng
pháp luật cho phép đối tượng là một số loại
tổ chức tín dụng (cụ thể ở đây là các công ti
tài chính và ngân hàng thương mại) cũng có
thể được thực hiện tư vấn đầu tư chứng
khoán sẽ giải quyết được các vấn đề nêu
trên Kiến nghị này có lẽ không đồng nhất
với quan điểm khi ban hành Luật tổ chức tín dụng Một lí do khi thông qua Luật tổ chức tín dụng không cho phép các tổ chức tín dụng kinh doanh chứng khoán trực tiếp nhằm tránh tình trạng san sẻ rủi ro trong kinh doanh chứng khoán với rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán cũng giống như việc cung cấp các dịch vụ có "hàm lượng tri thức" cao khác, yêu cầu về kiến thức, kĩ năng chuyên môn và
đạo đức nghề nghiệp được đặt lên hàng đầu chứ không phải yêu cầu về vốn; rủi ro xảy ra
đối với tư vấn đầu tư chứng khoán là rủi ro
về uy tín mà không phải lúc nào cũng là rủi
ro về vật chất
2 Về nội dung tư vấn Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt
động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích liên quan đến
Ngoài các quy định trong Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, không có quy định nào khác cụ thể hoá về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán Pháp luật chỉ quy định, khi tiến hành hoạt động tư vấn đầu tư, công ti chứng khoán được nhận phí nhưng cũng không quy định khung giá như một số hoạt
Nếu như các hoạt động kinh doanh khác, công ti chứng khoán phải thực hiện hoạt
động kinh doanh trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản thì đối với nội dung này, pháp luật không quy định tính bắt buộc về mặt hình
những thế pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể nào về nội dung tư vấn mà
Trang 3các chuyên gia có thể cung cấp cho khách
hàng, trách nhiệm của người tư vấn đối với
nội dung tư vấn của mình, điều kiện của
người thực hiện tư vấn đầu tư, căn cứ để tư
vấn đầu tư Đây là mảng pháp luật hầu như
còn bỏ ngỏ đối với hoạt động kinh doanh này
trong khi đó hoạt động tư vấn đầu tư đ được
tiến hành trong thực tế Về nguyên tắc, các
chủ thể tiến hành kinh doanh bao giờ cũng
có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích
tốt nên nếu không có những quy định như
chúng tôi đ đề cập thì không thể đảm bảo
quyền lợi cho người đầu tư được Một khía
cạnh được giới luật gia nghiên cứu về thị
trường chứng khoán quan tâm là nội dung về
tư vấn đầu tư chứng khoán như vậy có bao
gồm tư vấn pháp lí liên quan đến chứng
khoán? Chẳng hạn, một số vấn đề như quyền
và nghĩa vụ của chủ sở hữu chứng khoán, tỉ
lệ nắm giữ chứng khoán của các tổ chức và
cá nhân, tranh chấp và giải quyết tranh chấp
phát sinh liên quan tới người đầu tư chứng
khoán Theo cách hiểu hiện nay về tư vấn
đầu tư chứng khoán thì hoạt động này dường
như chỉ liên quan đến tư vấn đầu tư tài chính
đối với chứng khoán mà không chu diên
(mặc dù ở phạm vi rất khái quát) tới loại hình
kinh doanh dịch vụ đặc biệt này Nhưng nếu
giả định rằng hoạt động tư vấn đầu tư chứng
khoán được đề cập chỉ bao gồm tư vấn đầu tư
tài chính theo cách hiểu trên thì một số nội
dung liên quan đến khách hàng như cấu trúc
vốn trong doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng
vốn trong doanh nghiệp lại không được đề
cập trong hoạt động này Mặt khác, nếu chỉ
xác định tư vấn đầu tư ở phạm vi hẹp như vậy
sẽ không đảm bảo nhu cầu của thị trường và
đặc biệt, giảm đi vai trò của các chuyên gia
pháp luật đối với thị trường; trong khi đó thị trường chứng khoán có độ nhạy cảm cao nên
sự tham gia của các chuyên gia pháp lí lại là bắt buộc đề tạo sự ổn định thị trường Pháp luật nhiều nước quy định nhân viên môi giới, tư vấn đầu tư, quản lí danh mục đầu tư phải
là các luật gia Khác với pháp luật Việt Nam, luật chứng khoán các nước quy định khá chi tiết về vấn đề này Trong toàn bộ Chương V Nghị định thi hành Luật chứng khoán Hàn Quốc đ đề cập nhiều nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán như chủ thể được phép thực hiện tư vấn, điều kiện của các chuyên gia tư vấn, đăng kí hành nghề của công ti và cá nhân thực hiện hoạt động tư vấn, nội dung tư vấn, các loại báo cáo, kí quỹ về trách nhiệm tư vấn (9) Với những quy định chi tiết như vậy, trong quá trình hoạt động, các công ti cùng với khách hàng có được hành lang pháp
lí cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình và
đảm bảo tính minh bạch của thị trường Vì vậy, theo ý kiến chúng tôi, cần sớm phải làm
rõ nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán bằng các văn bản pháp luật
3 Về phạm vi tư vấn Hiện nay có một số tác giả cho rằng hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán chỉ thực hiện đối với trường hợp chứng khoán
Theo quan
điểm của chúng tôi, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán có thể áp dụng đối với cả trường hợp phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ Nhà đầu tư cũng như nhà phát hành, không phân biệt đối với trường hợp phát hành ra công chúng hay phát hành riêng
lẻ đều có nhu cầu huy động vốn và sử dụng vốn với hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ
Trang 4cho phép của pháp luật Với lí do như vậy, họ
luôn cần tới dịch vụ tư vấn đầu tư chứng
khoán Cũng có thể hiểu hoạt động tư vấn
đầu tư chứng khoán là hoạt động mang tính
chuyên ngành nên được quy định trong văn
bản chuyên ngành (Nghị định số
48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998) nhưng
không có nghĩa nó chỉ áp dụng đối với hoạt
động kinh doanh chứng khoán tại thị trường
tập trung Chẳng hạn, khi quy định về hoạt
hoặc hoạt động sử dụng quỹ đầu tư chứng
khoán của công ti quản lí quỹ đầu tư(12), tại
văn bản này cũng quy định rõ các chủ thể
nêu trên được kinh doanh không chỉ đối với
các chứng khoán đ phát hành ra công chúng
mà còn được giao dịch đối với các chứng
khoán phát hành riêng lẻ Quy định này cũng
được áp dụng tương tự đối với hoạt động
quản lí danh mục đầu tư của công ti chứng
khoán
Tuy nhiên, liên quan đến phạm vi tư vấn,
chúng tôi cũng quan tâm tới giới hạn mà
chuyên gia tư vấn được phép thực hiện đối
với khách hàng của mình Hiện nay, pháp
luật cũng chưa có quy định về giới hạn tư
vấn hoặc các điều cấm mà chuyên gia tư vấn
không được phép thực hiện Chẳng hạn, các
thông tin liên quan tới việc tư vấn mua hoặc
bán loại chứng khoán nhất định trong khoảng
thời gian liên tục, tư vấn với những cam kết
chắc chắn Những hành vi kể trên có thể
gây ra những biến động giá trên thị trường
không xuất phát từ chính nhu cầu thị trường,
ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của
các nhà đầu tư ngay tình Pháp luật các nước
có thể đưa ra những quy định rất cụ thể, thậm chí áp dụng tiền kí quỹ đối với tổ chức tư vấn đầu tư và đối với ngay chuyên gia tư vấn Đây chính là biện pháp đảm bảo trong chừng mực nhất định đối với chất lượng tư vấn, thực hiện đúng các giới hạn của pháp luật
(Xem tiếp trang 65)
(1), (2).Xem: Điều 29, 30 Nghị định số
48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
(3).Xem: Điều 11, Quy chế về tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ti quản lí quỹ (Ban hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
(4).Xem: Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
(5).Xem: Luật tổ chức tín dụng 1997
(6).Xem: Khoản 11 Điều 2 Nghị định số
48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
(7).Xem: Thông tư 01/2000/TT-UBCK1 ngày 17/4/2000 của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước hướng dẫn tạm thời chế độ thu phí đối với khách hàng của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán
(8).Xem: Khoản 1 Điều 38, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
(9).Xem: Enforcement Decree Of The Securities And Exchange Act Korea Securities And Exchange Commission Securitis Supervisory Board 1996.3 (10).Xem: Thanh Thảo "Cần quy định cụ thể hơn về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán" Báo đầu tư chứng khoán 9/7/2001
(11).Xem: Khoản 3 Điều 23, Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ti chứng khoán (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước)
(12).Xem: Điều 14 Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ti quản lí quỹ (Ban hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước)