1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Khu vực thương mại tự do và đầu tư ASEAN" docx

6 462 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khu Vực Thương Mại Tự Do Và Đầu Tư ASEAN
Tác giả TS. Vũ Đức Long
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 95,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại bỏ hàng rào thuế quan Các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ ASEAN theo lộ trình trong vòng 15 năm xuống 0 - 5%.. Riên

Trang 1

TS Vũ Đức Long *

ác nước ASEAN là bạn hàng lớn của Việt

Nam và là những nước có đầu tư trực tiếp

chiếm tới hơn 20% về dự án và 30% về vốn

đầu tư đăng kí của các nước đầu tư vào Việt

Nam Trong danh sách 10 quốc gia dẫn đầu về

đầu tư vào Việt Nam thì có 3 nước ASEAN,

trong đó Singapore là nước đầu tư lớn nhất Số

lượng hàng hóa trao đổi giữa nước ta và các

nước ASEAN ngày càng tăng, chiếm tỉ trọng

đáng kể trong tổng lượng hàng xuất nhập khẩu

của Việt Nam Tham gia sâu, rộng vào hoạt

động của khu vực thương mại tự do và đầu tư,

ASEAN đD mở ra khả năng to lớn cho việc hội

nhập nền kinh tế của nước ta vào nền kinh tế

của các nước trong khu vực

Tháng 2 năm 1998, Hội nghị cấp cao

ASEAN họp tại Hà Nội đD thông qua Chương

trình Hà Nội, thực hiện tầm nhìn 2020, trong

đó đưa ra 10 biện pháp tăng cường hợp tác

trong lĩnh vực tài chính và kinh tế vĩ mô Hai

biện pháp hàng đầu là đẩy nhanh việc thực

hiện khu vực thương mại tự do ASEAN

(AFTA) và thực hiện Hiệp định khung về khu

vực đầu tư ASEAN (AIA)

I Khu vực thương mại tự do

ASEAN (AFTA)

Phát triển thương mại giữa các nước

ASEAN là mục đích mà các nước ASEAN đD

đặt ra ngay từ những ngày đầu thành lập

Ngay trong Tuyên bố Hội nghị bộ trưởng

ngoại giao ASEAN ngày 8/8/1967 các nước

ASEAN đD đặt ra mục đích thúc đẩy sự tăng

trưởng kinh tế (điểm 1) và hợp tác có hiệu quả

hơn để sử dụng tốt nền nông nghiệp Từ năm

1977, Thỏa thuận ưu đDi thương mại (PTA)

được đưa vào thực hiện Đây là chương trình

đầu tiên nhằm đẩy mạnh thương mại nội bộ ASEAN Nội dung của chương trình là các nước thành viên cam kết về việc áp dụng mức thuế quan ưu đDi trên cơ sở đàm phán đa phương hoặc song phương, sau đó mức cam kết đưa ra sẽ được áp dụng cho tất cả các thành viên ASEAN theo nguyên tắc tối huệ quốc

Về căn bản, việc áp dụng ưu đDi thuế quan theo PTA tuy là bước tiến trong quan hệ thương mại giữa các nước ASEAN vào thời

điểm kí kết nhưng nó vẫn còn hạn chế cơ bản

là thuế quan chỉ được cắt giảm ở mức độ nhất

định mà chưa thực sự được xóa bỏ Đồng thời các hàng rào phi thuế quan vẫn còn tồn tại, do

đó, gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của thương mại trong nội bộ khuôn khổ khu vực ASEAN

Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

đD đặt ra những thách thức to lớn đối với ASEAN trong việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa ASEAN trên thị trường quốc tế

và tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài Chính vì vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư tại Singapore ngày 28/1/1992, nguyên thủ các nước ASEAN đD có quyết định quan trọng nhằm nâng cao hơn nữa mức độ hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đó là thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc kí kết hiệp định về chương trình ưu đDi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

Mục tiêu của AFTA là loại bỏ hoàn toàn

C

* Bộ tư pháp

Trang 2

các hàng rào cản trở thương mại đối với hầu

hết hàng hóa trong nội bộ ASEAN, kể cả thuế

quan và các loại hàng rào phi thuế quan

AFTA được thực hiện thông qua Hiệp định

CEPT, bao gồm các nội dung sau:

1 Loại bỏ hàng rào thuế quan

Các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện

lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với

hàng hóa có xuất xứ ASEAN theo lộ trình

trong vòng 15 năm xuống 0 - 5%

Tuy nhiên, trước xu hướng tự do hóa

thương mại toàn cầu đang được thúc đẩy mạnh

mẽ và xuất phát từ nhu cầu tăng cường hợp tác

phát triển của các thành viên, ASEAN đD

quyết định đẩy nhanh quá trình tự do hóa

thương mại trong khu vực bằng việc rút ngắn

thời hạn hoàn thành AFTA

Hiệp định CEPT áp dụng đối với tất cả các

hàng hóa có xuất xứ ASEAN bao gồm: Hàng

công nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chế

biến Riêng đối với nông sản chưa chế biến

mang tính chất nhạy cảm với nền kinh tế của

các nước ASEAN thì tới tận ngày 26/9/1994

các nước mới đưa vào phạm vi thực hiện Hiệp

định CEPT những quy định đặc biệt riêng về

thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảm thuế,

mức thuế xuất ban đầu và sau khi hoàn thành

cắt giảm Các sản phẩm được xác định là cần

thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xD

hội, sức khỏe và cuộc sống của con người và

động, thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị

nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ của các nước

thành viên ASEAN sẽ không được đưa vào

Hiệp định CEPT

a Các danh mục hàng hóa

Để triển khai AFTA, các nước ASEAN

phân loại các hàng hóa trong biểu thuế nhập

khẩu thành bốn danh mục với lộ trình cắt giảm

được xây dựng cho từng danh mục cụ thể Nội

dung và lộ trình cắt giảm thuế của từng danh

mục như sau:

- Danh mục cắt giảm ngay (IL) gồm các sản phẩm mà các nước thành viên đD sẵn sàng cắt giảm thuế Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộc danh mục này được chia thành hai

lộ trình: Lộ trình cắt giảm bình thường và lộ trình cắt giảm nhanh

+ Lộ trình cắt giảm bình thường: Việc cắt giảm thuế xuống 0 - 5% sẽ được thực hiện trong vòng 15 năm (từ ngày 1/1/1993 đến ngày 1/1/2008) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện AFTA, các nước ASEAN đD quyết

định đẩy nhanh mốc thời gian này Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 6 tháng 12/1998 tại Hà Nội, các nguyên thủ đD nhất trí

đẩy mốc thời gian hoàn thành việc cắt giảm thuế xuống 0 - 5% đến ngày 1/1/2002 đối với ASEAN - 6 (gồm Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapore, Thái Lan và Brunây)

Đối với các nước thành viên mới gia nhập ASEAN, thời hạn này chậm hơn, tới ngày 1/1/2006 cho Việt Nam, ngày 1/1/2008 cho Lào, Mianma và ngày 1/1/2010 cho Campuchia

+ Lộ trình cắt giảm nhanh: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư năm 1992 đD xác định 15 nhóm mặt hàng cần cắt giảm thuế nhanh trong vòng bảy năm, đó là dầu thực vật, hóa chất, phân bón, sản phẩm cao su, giấy và bột giấy, đồ gỗ và song mây, đá quý và đồ trang sức, xi măng, dược phẩm, chất dẻo, các sản phẩm bằng da, hàng dệt, các sản phẩm gốm và thuỷ tinh, điện cực đồng, hàng điện tử

- Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) là danh mục gồm các sản phẩm mà các nước chưa sẵn sàng cắt giảm thuế ngay Theo quyết

định của Hội nghị bộ trưởng AEM - 26 từ ngày 22 đến ngày 23/9/1994, danh mục này sẽ

được chuyển dần sang danh mục cắt giảm ngay trong vòng năm năm, kể từ ngày 1/1//1996 đến ngày 1/1/2000 đối với ASEAN

- 6

Trang 3

- Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) là

danh mục các sản phẩm sẽ không được đưa

vào tham gia AFTA vì lí do bảo vệ an ninh

quốc gia, bảo vệ đạo đức xD hội, bảo vệ sức

khỏe và cuộc sống của con người và động,

thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ

thuật, lịch sử và khảo cổ

- Danh mục nhạy cảm (SEL) Hiệp định

CEPT, ngay từ đầu không bao gồm các sản

phẩm nông nghiệp chưa chế biến Tuy nhiên,

xuất phát từ nhận thức về vai trò của hàng

nông sản chưa chế biến đối với phần lớn các

nước ASEAN cũng như về số lượng các nhóm

mặt hàng lớn, thuế quan nhập khẩu cao được

các nước áp dụng đối với những mặt hàng này,

tại Hội nghị AEM - 26/9/1994, các bộ trưởng

kinh tế đD quyết định đưa nông sản chưa chế

biến vào phạm vi của Hiệp định CEPT để thực

hiện AFTA Theo quyết định tại Hội nghị này,

các sản phẩm nông sản chưa chế biến được

phân loại thành ba danh mục: Danh mục cắt

giảm ngay, danh mục loại trừ tạm thời và danh

mục nhạy cảm

Đối với hai danh mục đầu, lộ trình cắt

giảm thuế sẽ thực hiện theo lộ trình chung

cùng với các mặt hàng khác thuộc danh mục

tức là sẽ đạt mức thuế 0 - 5% vào năm 2002

cho các nước ASEAN - 6, năm 2006 cho Việt

Nam, năm 2008 cho Lào và Mianma

Đối với các sản phẩm trong danh mục

nhạy cảm, việc cắt giảm sẽ được xử lí theo cơ

chế riêng Các nước đD nhất trí về sự cần thiết

phải có thỏa thuận đặc biệt đối với việc cắt

giảm thuế cho danh mục này Tại Hội nghị hội

đồng AFTA lần thứ 9 vào tháng 4/1996, các

nước đD nhất trí về thời hạn để đưa các sản

phẩm hàng hóa trong danh mục này vào Hiệp

định CEPT từ 1/1/2010 Tại Hội nghị AEM -

31 tháng 9/1999, các bộ trưởng kinh tế

ASEAN đD chính thức kí nghị định thư về các

sản phẩm nhạy cảm và nhạy cảm cao để thể

chế hóa lộ trình cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm theo Hiệp

định CEPT

b Thời hạn triển khai đối với thành viên mới

Nguyên tắc được các nước ASEAN chấp thuận đó là căn cứ vào thời điểm gia nhập, tình hình phát triển kinh tế - xD hội của các thành viên mới mà các nước thành viên luôn tạo điều kiện để các thành viên mới này có đủ thời gian thực hiện các chương trình hợp tác

Đối với Việt Nam, vì tham gia thực hiện Hiệp định CEPT chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm (bắt đầu từ ngày 1/1/1996),

do đó, thời hạn thực hiện các lộ trình cho các danh mục trên cũng như thời hạn hoàn thành AFTA được chấp nhận sẽ chậm hơn các nước thành viên cũ tương xứng Thời hạn hoàn thành AFTA (tức là tất cả các dòng thuế trong

IL đạt 0 - 5%) của Việt Nam là năm 2006 Cũng như vậy, thời hạn hoàn thành chuyển toàn bộ các dòng thuế từ TEL sang IL là năm

2003, mỗi năm 20% số sản phẩm trong danh mục này phải được chuyển vào IL

Đối với các thành viên mới là Lào và Mianma sẽ bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT

từ ngày 1/1/1998 và kết thúc vào ngày 1/1/2008 Campuchia bắt đầu thực hiện CEPT

từ ngày 1/1/2000 và kết thúc vào ngày 1/1/2010

c Vấn đề đẩy nhanh AFTA Hiện nay trong ASEAN có xu hướng thúc

đẩy nhanh hơn nữa việc triển khai thực hiện AFTA để thúc đẩy thương mại trong nội bộ khu vực, tăng tính cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài và đáp lại thách thức của các khu vực kinh tế khác Cho tới nay, nội dung này tập trung và một số điểm chính như sau:

- Đẩy nhanh mốc thời gian hoàn thành AFTA Từ mốc thời gian là 2008 trước đây,

đến nay các thành viên ASEAN đD đẩy nhanh

Trang 4

thời hạn này tới năm 2002 cho ASEAN - 6,

năm 2006 cho Việt Nam và năm 2008 cho Lào

và Mianma

- Đẩy nhanh việc chuyển các dòng thuế

trong danh mục loại trừ tạm thời sang danh

mục cắt giảm ngay

- Chuyển các mặt hàng trong danh mục

nhạy cảm sang các danh mục khác đồng thời

đẩy nhanh việc cắt giảm thuế cho các mặt

hàng còn lại trong danh mục này

- Rà soát lại và rút bớt các mặt hàng trong

danh mục loại trừ hoàn toàn, chỉ giữ lại những

mặt hàng được xác định theo Điều 9 của Hiệp

định CEPT

- Giảm thuế các mặt hàng theo CEPT

xuống 0% vào năm 2010 đối với các nước

thành viên cũ ASEAN - 6 và năm 2015 với các

nước thành viên mới

Thực hiện các chương trình thuận lợi hóa

thương mại, bao gồm các thỏa thuận công

nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và hài hòa hóa về

hải quan và nhiều chương trình khác

d Các sản phẩm được hưởng ưu đ+i trong

khuôn khổ CEPT/AFTA

Để được hưởng những ưu đDi về thuế nhập

khẩu theo Hiệp định CEPT, các sản phẩm cần

phải thỏa mDn đồng thời các điều kiện cơ bản

sau đây:

- Sản phẩm đó phải có thuế xuất dưới 20%

- Sản phẩm đó phải thỏa mDn quy chế xuất

xứ ASEAN tức là phải có ít nhất 40% thành

phần của nó có xuất xứ từ các nước ASEAN và

phải có giấy chứng nhận xuất xứ (Mẫu D) do

cơ quan được chính phủ của từng nước cho

phép cấp

2 Loại bỏ hàng rào phi thuế quan

(NTBS)

Để tiến tới việc hoàn thành AFTA, Điều 5

của Hiệp định CEPT còn xác định mục tiêu

loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn

chế số lượng, hạn ngạch giá trị nhập khẩu,

giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm

được hưởng ưu đDi thuế quan

Với mục tiêu được đưa ra theo Hiệp định, năm 1995 các nước ASEAN đD thành lập nhóm công tác về vấn đề các hàng rào phi thuế quan để xác định và xây dựng chương trình hủy bỏ các hàng rào phi thuế quan ảnh hưởng

đến thương mại khu vực Dựa trên kết quả của nhóm công tác, các nước đD xác định nhiều biện pháp ảnh hưởng rộng và chủ yếu đối với thương mại hàng hóa ASEAN là phụ thu hải quan và các hàng rào cản trở thương mại (TBT) Năm 1995, phụ thu hải quan được áp dụng trên 2.683 dòng thuế và các hàng rào cản trở thương mại (bao gồm cả các yêu cầu về

đặc điểm sản phẩm) ảnh hưởng tới trên 975 dòng thuế của các nước Trên cơ sở đó, tại phiên họp Hội đồng AFTA lần thứ 8, các nước ASEAN đD thống nhất quyết định thời hạn loại

bỏ các hàng rào cản trở thương mại đến hết năm 2003

Các hàng rào phi thuế quan đối với thương mại khu vực ASEAN rất đa dạng và tạo ra nhiều trở ngại làm giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu ý nghĩa của việc cắt giảm thuế quan Do

đó, vấn đề loại bỏ các hàng rào phi thuế quan

được các nước ASEAN rất chú trọng trong quá trình thực hiện AFTA

3 AFTA đối với Việt Nam Ngày 15/12/1995, tại Hội nghị thượng

đỉnh ASEAN lần thứ 5 tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), Việt Nam đD kí kết Nghị định thư gia nhập Hiệp định CEPT để thực hiện AFTA Theo các điều khoản và điều kiện gia nhập, Việt Nam phải thực hiện các cam kết:

- áp dụng, trên cơ sở có đi có lại, ưu đDi tối huệ quốc và ưu đDi quốc gia cho các nước thành viên ASEAN Cung cấp các thông tin phù hợp về chính sách thương mại theo yêu cầu;

Trang 5

- Chuẩn bị một danh mục để cắt giảm thuế

quan và bắt đầu thực hiện việc giảm thuế có

hiệu lực từ ngày 1/1/1996 và hoàn thành thuế

suất 0 - 5% vào ngày 1/1/2006;

- Chuyển các sản phẩm được loại trừ tạm

thời theo 5 phần bằng nhau vào danh mục cắt

giảm ngay bắt đầu từ ngày 1/1/1999, kết thúc

ngày 1/1/2003, và chuẩn bị danh mục các sản

phẩm cho từng phần được chuyển hàng năm;

- Chuyển dần các sản phẩm nông nghiệp

được loại trừ tạm thời vào danh mục cắt giảm

ngay bắt đầu từ ngày 1/1/2000, kết thúc ngày

1/1/2006 và chuẩn bị danh mục các sản phẩm

cho từng phần được chuyển hàng năm

Các danh mục cụ thể:

+ Danh mục loại trừ hoàn toàn: Gồm 213

nhóm mặt hàng, chiếm 6,2% biểu thuế nhập

khẩu Danh mục này được xây dựng phù hợp

với Điều 9 của Hiệp định CEPT về loại trừ

chung, gồm các mặt hàng có ảnh hưởng đến an

ninh quốc gia, cuộc sống và sức khỏe của con

người và động, thực vật, ảnh hưởng đến các

giá trị lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ và một số

mặt hàng mà hiện nay Việt Nam đang nhập

khẩu nhiều từ các nước ASEAN mà không có

khả năng xuất khẩu và đang có thuế suất cao

trong biểu thuế

+ Danh mục loại trừ tạm thời: Gồm 1.345

nhóm mặt hàng, chiếm 39,2% nhóm mặt hàng

trong biểu thuế nhập khẩu và chủ yếu gồm các

mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt

hàng tuy có thuế suất cao hơn 20% nhưng

trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế nhập

khẩu hoặc các mặt hàng đang được áp dụng

các biện pháp phi thuế quan

+ Danh mục cắt giảm ngay: Gồm 1.633

nhóm mặt hàng, chiếm 53% tổng số nhóm mặt

hàng trong biểu thuế nhập khẩu Danh mục

này chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang

có thuế suất dưới 20%, tức là các mặt hàng

thuộc diện có thể áp dụng ưu đDi ngay theo Hiệp định CEPT

+ Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm: Gồm 23 mặt hàng, chủ yếu là các mặt hàng nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo

hộ cao như các loại thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo, đường mía

Đối với Việt Nam, năm 2000 sẽ đạt 3.573 dòng thuế trên tổng số 4.827 dòng trong danh mục cắt giảm ngay, tương đương khoảng 74% tổng số dòng thuế Đây là tỉ lệ cao nhất so với các thành viên mới khác của ASEAN

II Khu vực đầu tư ASEAN Các nước ASEAN đD rất thành công trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài so với nhiều nước khác ở châu á và các nước đang phát triển khác Trong giai đoạn từ năm 1993 - 1998, tổng vốn đầu tư nước ngoài của ASEAN đạt 132 tỉ USD, chiếm khoảng 6% tổng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới và với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, năm 1993 là 15,9 tỉ USD, năm 1994 là 19,6 tỉ USD, năm 1995 là 21,6 tỉ USD, năm 1996 là 25,9 tỉ USD và năm 1997 là 21,4 tỉ USD Tuy nhiên, trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế - tài chính của khu vực, đầu tư nước ngoài vào ASEAN đD giảm sút Sau khủng hoảng, đầu tư dần dần được khôi phục

Để thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào ASEAN và đầu tư trong nội bộ ASEAN, các nước ASEAN đD thực hiện một số sáng kiến nhằm tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực thị trường, vốn, khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài Các nước ASEAN đD thông qua Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 15/12/1987 Việt Nam kí Hiệp định này cùng với Brunây, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapore và Thái Lan

Theo Hiệp định này, mỗi bên kí kết sẽ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho

đầu tư của bên kí kết khác tại lDnh thổ nước

Trang 6

mình Các khoản đầu tư của công dân hoặc

pháp nhân của một bên kí kết tại lDnh thổ của

bên kí kết khác, trong mọi thời điểm, sẽ được

đối xử công bằng và thỏa đáng, được bảo hộ

đầy đủ và đảm bảo an toàn (Điều 3) Các bên

kí kết sẽ cố gắng đơn giản hóa và hữu hiệu hóa

các thủ tục và quá trình chấp thuận đầu tư

nhằm tạo điều kiện cho các dòng đầu tư Các

khoản đầu tư của công dân, pháp nhân của bất

kì bên kí kết nào sẽ không bị tước đoạt quyền

sở hữu hoặc bị quốc hữu hóa hoặc biện pháp

tương tự, trừ trường hợp để sử dụng vì mục

đích công ích hoặc vì mục đích, lợi ích công

cộng và được thực hiện theo đúng thủ tục quy

định của pháp luật, trên cơ sở không phân biệt

đối xử và phải được bồi thường tương xứng

Khoản bồi thường đó phải bằng giá trị thị

trường của các khoản đầu tư bị tước đoạt ngay

trước thời điểm các biện pháp tước đoạt được

công bố chính thức và được tự do chuyển ra

nước ngoài bằng đồng tiền tự do chuyển đổi

Khoản bồi thường nêu trên sẽ được thanh toán

và trả không chậm trễ Công dân hoặc pháp

nhân bị tước đoạt có quyền yêu cầu cơ quan tư

pháp hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền của

bên kí kết đó xem xét lại

Mọi tranh chấp phát sinh trực tiếp từ đầu

tư giữa bên kí kết và công dân hoặc pháp nhân

của bất kì bên kí kết nào được giải quyết thông

qua việc dàn xếp thân hữu giữa các bên tranh

chấp Nếu vụ tranh chấp không thể giải quyết

được bằng dàn xếp thì trong thời hạn 6 tháng

kể từ khi phát sinh, mỗi bên tranh chấp có thể

lựa chọn trọng tài Với sự nhất trí của cả bên

tranh chấp, vụ tranh chấp có thể được đưa ra

một trong các tổ chức sau đây: Trọng tài quốc

tế giải quyết các tranh chấp đầu tư (ICSID)

hoặc ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại

(UNCITRAL) hoặc Trung tâm trọng tài Kuala

Lumpur hoặc trọng tài khu vực khác của

ASEAN

Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN đD được các nước kí kết ngày 7/10/1998 nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực và khắc phục các hạn chế của cuộc khủng hoảng Mục đích của Hiệp định này là tạo ra khu vực đầu tư tự do trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các nước ngoài ASEAN vào năm 2020 thông qua hàng loạt các chương trình tự do hóa, thu hút và tạo thuận lợi cho đầu tư như sau:

- Hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho

đầu tư ASEAN;

- Phối hợp xúc tiến đầu tư và tăng cường hiểu biết;

- Tự do hóa đầu tư;

- Dành ưu đDi quốc gia và ưu đDi tối huệ quốc để khuyến khích đầu tư ASEAN;

- Thúc đẩy lưu chuyển dòng vốn, lao động

có tay nghề và công nghệ giữa các nước thành viên;

- Mở cửa tất cả các ngành cho các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư ASEAN nói riêng;

- Mở rộng vai trò của khu vực tư nhân trong các hoạt động hợp tác có liên quan đến

đầu tư

Để thực hiện các chương trình và mục tiêu

được đề ra, hiện nay các nước đang tiến hành xây dựng các danh mục ngành nghề để áp dụng các ưu đDi về đDi ngộ quốc gia và mở cửa thị trường, danh mục loại trừ tạm thời không

áp dụng các ưu đDi, danh mục ngành nghề nhạy cảm và danh mục loại trừ hoàn toàn để thông báo cho các nước ASEAN khác và đi tới

lộ trình tự do hóa cụ thể các ngành nghề cho

đầu tư của khu vực

Với việc triển khai Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, nhất định luồng đầu tư vào các nước ASEAN sẽ được tăng cường, môi trường đầu tư sẽ trở nên thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn./

Ngày đăng: 23/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w