Để khắc phục nhược điểm đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ thay khoản 3 Điều 21 Luật ĐTNN năm 1996 bằng Điều 21a nhằm quy định cụ thể các biện pháp đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư trong trường hợp do
Trang 1nghiên cứu - trao đổi
Đỗ Nhất Hoàng * ghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đ khẳng định kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh
tế, là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa
ở nước ta được khuyến khích phát triển lâu dài
và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác
Từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam năm 1987, hoạt động này đ thu
được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần
tích cực vào việc thực hiện thắng lợi của công
cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt
Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, hoạt
động đầu tư nước ngoài những năm qua cũng
đ bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế Đó là
nhận thức, quan điểm về đầu tư nước ngoài
chưa thực sự thống nhất và thông suốt ở các
cấp, các ngành; cơ cấu đầu tư nước ngoài còn
bất hợp lí và hiệu quả kinh tế - x hội của hoạt
động đầu tư nước ngoài chưa cao; môi trường
kinh tế và pháp lí còn nhiều hạn chế; công tác
quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài còn có
những mặt yếu kém; thủ tục hành chính còn
phiền hà; công tác cán bộ còn nhiều bất cập
Trong xu thế hội nhập, các nước xung quanh
đặc biệt là các nước ASEAN và Trung Quốc
liên tục có những cải tiến về chính sách, pháp
luật nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Pháp
luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trước
đây được coi là hấp dẫn, thông thoáng, nay
đang mất dần tính cạnh tranh Để khắc phục
tình trạng đó, góp phần cải tiến và nâng cao
sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, ngày 9/6/2000 Quốc hội
đ thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi năm 2000 (sau đây gọi tắt là Luật ĐTNN năm 2000) và ngày 31/7/2000 Chính phủ đ ban hành Nghị định số 24/2000/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật
ĐTNN năm 2000 Luật ĐTNN năm 2000 và Nghị định số 24/2000/NĐ-CP có nhiều điểm mới, thông thoáng hơn so với pháp luật đầu tư trước đây
1 Những quy định mới liên quan đến việc điều chỉnh các quan hệ cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam
1.1 Những năm vừa qua, do chính sách và pháp luật về đầu tư của Việt Nam có nhiều thay đổi đ làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của các nhà đầu tư và có không ít trường hợp còn gây thiệt hại đến lợi ích của các nhà đầu tư, làm cho họ không an tâm khi kinh doanh tại Việt Nam Để khắc phục nhược
điểm đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ thay khoản 3 Điều 21 Luật ĐTNN năm 1996 bằng
Điều 21a nhằm quy định cụ thể các biện pháp
đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư trong trường hợp do những thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của nhà
đầu tư, theo đó "trong trường hợp do thay đổi của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thì doanh nghiệp có vốn đầu tư
N
* Vụ pháp luật và xúc tiến đầu tư
Bộ kế hoạch và đầu tư
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh tiếp tục được hưởng các ưu đ,i
đ, được quy định trong giấy phép đầu tư và
Luật này hoặc được Nhà nước giải quyết thoả
đáng theo các biện pháp a) Thay đổi mục
tiêu dự án; b) Miễn, giảm thuế theo quy định
của pháp luật; c) Thiệt hại của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia
hợp đồng hợp tác kinh doanh được khấu trừ
vào thu nhập thuế của doanh nghiệp; d) Được
xem xét bồi thường thoả đáng trong một số
trường hợp cần thiết" (khoản 1 Điều 21a Luật
ĐTNN năm 2000) Đồng thời để khuyến
khích các nhà đầu tư nước ngoài, tại khoản 2
Điều 21a Luật ĐTNN còn ghi rõ: "Các quy
định mới ưu đ,i hơn được ban hành sau khi
được cấp phép đầu tư sẽ được áp dụng cho
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh" Với những quy định này, Luật ĐTNN
của Việt Nam đ xác lập nguyên tắc bảo đảm
quyền lợi của các nhà đầu tư khi có sự thay
đổi về chính sách, pháp luật
1.2 Luật ĐTNN năm 1996 quy định
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên
nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh tự đảm bảo nhu cầu về tiền nước ngoài
cho hoạt động của mình Quy định này gây
nhiều khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất
hàng thay thế nhập khẩu, hoặc doanh nghiệp
không có hàng xuất khẩu, không có nguồn thu
ngoại tệ tại chỗ Quy định này cũng chưa phù
hợp với các nguyên tắc của WTO vì hạn chế
doanh nghiệp được quyền tiếp cận nguồn
ngoại tệ của các ngân hàng Để khắc phục hạn
chế này, Điều 33 của Luật ĐTNN năm 2000
đ có sự sửa đổi căn bản, đó là thay quy định
doanh nghiệp tự cân đối ngoại tệ bằng việc
cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được mua ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao dịch vng lai và các giao dịch được phép khác theo pháp luật về quản lí ngoại hối; Chính phủ bảo
đảm cân đối ngoại tệ đối với một số rất ít các
dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kì; bảo
đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với sản xuất thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu và đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng
và đối với một số dự án quan trọng khác Những quy định mới này đ tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và tạo cơ sở pháp lí cho các ngân hàng
được quyền quyết định mua, bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuỳ khả năng và điều kiện của mình
1.3 Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, khoản 2 Điều 35 Luật ĐTNN năm 2000 đ quy định: "Trong trường hợp đặc biệt được Ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản ở nước ngoài" Điểm sửa đổi này đ khắc phục
được hạn chế của khoản 2 Điều 35 Luật
ĐTNN năm 1996, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phạm vi kinh doanh rộng về việc mở tài khoản
đồng thời vẫn bảo đảm được sự quản lí, giám sát trên cơ sở có sự xem xét và phê chuẩn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam khi cho mở tài khoản
1.4 Việc đền bù, giải phóng mặt bằng là một trong những vấn đề nan giải có ảnh hưởng rất lớn đến triển khai các dự án đầu tư sau khi
được cấp giấy phép Trong thời gian vừa qua,
Trang 3nghiên cứu - trao đổi
do thiếu xác định rõ ràng trách nhiệm trong
việc đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện
các dự án đầu tư nước ngoài nên mặc dù mất
nhiều kinh phí nhưng thời gian thường kéo dài
và nhiều dự án vẫn không triển khai được Để
tháo gỡ khó khăn này, Điều 46 Luật ĐTNN
năm 2000 đ bổ sung quy định mới: "Trong
trường hợp bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị
quyền sử dụng đất thì bên Việt Nam có trách
nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng và hoàn
thành các thủ tục để được quyền sử dụng đất
Trong trường hợp Nhà nước Việt Nam cho
thuê đất thì uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư
tổ chức thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt
bằng và hoàn thành các thủ tục cho thuê đất"
(khoản 2) Quy định này đ nâng cao trách
nhiệm của bên Việt Nam ngay từ khi hình
thành dự án đến khi triển khai thực hiện dự án
đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho
các dự án nhanh chóng được triển khai
1.5 Theo quy định của Luật đất đai, các tổ
chức, cá nhân được thế chấp tài sản gắn liền
với đất và giá trị quyền sử dụng đất để vay
vốn tại các tổ chức tín dụng Việt Nam nếu đ
trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc trả
trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời
gian thuê đất còn lại ít nhất là 05 năm Việc
quy định như vậy khiến các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài không vay được vốn để
thực hiện các dự án đầu tư, vì các tổ chức tín
dụng Việt Nam nhìn chung không có đủ vốn
để cho vay, nhất là các khoản vay lớn và dài
hạn; trong khi các tổ chức tín dụng nước ngoài
là nguồn cho vay chủ yếu lại không được nhận
thế chấp giá trị quyền sử dụng đất Do đó,
Luật ĐTNN năm 2000 đ bổ sung điểm mới
(khoản 3 Điều 46) cho phép "Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được thế chấp tài
sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụng
đất để bảo đảm vay vốn tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam" Như vậy, từ nay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thế chấp quyền sử dụng đất ở cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam để vay vốn
1.6 Để tránh rủi ro đối với các dự án BOT
và các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng, các nhà đầu tư luôn yêu cầu Chính phủ phải bảo lnh các nghĩa vụ về tài chính và chia sẻ rủi ro với họ Đây là yêu cầu chính
đáng vì việc tôn trọng đầy đủ các cam kết đó
từ phía Chính phủ là điều kiện quan trọng, nhiều khi mang tính tiên quyết để nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư, tìm kiếm được nhà tài trợ và để triển khai dự án thành công Tuy nhiên, các cam kết thường rất khác nhau đối với các dự án Trong tình hình đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ bổ sung điều mới (Điều 66), trong đó quy định rõ cơ chế pháp lí về bảo lnh đối với một số dự án đăc biệt quan trọng, theo đó "Căn cứ vào nguyên tắc quy định của Luật này, Chính phủ có thể kí các thoả thuận với nhà đầu tư nước ngoài hoặc đưa ra những biện pháp bảo l,nh, đảm bảo về đầu tư" Quy
định này đ tạo môi trường pháp lí rất thuận lợi cho việc thu hút đầu tư
1.7 Về nguyên tắc, mọi hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ quy
định của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, nước
ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa
và hệ thống chính sách, pháp luật đang trong quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn chỉnh Có thể có những vấn đề trong lĩnh vực ĐTNN mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể; mặt khác, nước ta đang chủ động hội nhập
Trang 4nghiên cứu - trao đổi
kinh tế quốc tế; đ trở thành thành viên chính
thức của nhiều tổ chức quốc tế, đ kí nhiều
điều ước quốc tế liên quan đến các hiệp định
đa phương và song phương Do đó, để đảm
bảo tính rõ ràng, ổn định của hệ thống pháp
luật, phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam
kết quốc tế mà Việt Nam đ kí đồng thời làm
cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư tại
Việt Nam, Luật ĐTNN 2000 đ bổ sung
khoản 2 Điều 66 quy định: "Trong trường hợp
pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên
có thể thoả thuận trong hợp đồng việc áp
dụng pháp luật của nước ngoài nếu việc áp
dụng luật của nước ngoài không trái với
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam" Quy định này đ xác lập nguyên tắc
pháp lí để giải quyết mối quan hệ giữa pháp
luật Việt Nam và pháp luật quốc tế phù hợp
với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
2 Những quy định mới có liên quan
đến việc mở rộng quyền tự chủ của doanh
nghiệp
2.1 Trên cơ sở các quy định của Luật
ĐTNN năm 2000, Nghị định số
24/2000/NĐ-CP đ quy định cho phép bên nước ngoài
trong hợp đồng hợp tác kinh doanh được thành
lập tại Việt Nam văn phòng điều hành với tư
cách đại diện cho bên nước ngoài hợp doanh
(Điều 9) Điều 9 của Nghị định còn quy định
cụ thể quyền và nghĩa vụ của văn phòng điều
hành của bên hợp doanh nước ngoài Những
quy định cụ thể này đ tháo gỡ được khó khăn
cho các nhà đầu tư, khắc phục được tình trạng
"vượt rào" đ xảy ra những năm trước đây
2.2 Điều 14 Luật ĐTNN năm 2000 đ
giảm bớt nội dung những vấn đề cần phải
quyết định theo nguyên tắc nhất trí, chỉ để lại
2 nội dung là sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh
nghiệp; bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng giám đốc,
phó tổng giám đốc thứ nhất Như vậy, so với quy định của Luật ĐTNN năm 1996, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm kế toán trưởng, quyết toán thu chi tài chính hàng năm, quyết toán công trình và vay vốn đầu tư không bắt buộc phải
áp dụng nguyên tắc nhất trí Trong điều kiện hiện nay, khi vốn góp còn hạn chế, chủ yếu bằng quyền sử dụng đất và năng lực cán bộ Việt Nam còn yếu thì việc giữ nguyên tắc nhất trí đối với một số vấn đề quan trọng vẫn là biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước Việt Nam, của bên Việt Nam và lao
động Việt Nam trong liên doanh
2.3 Trước đây, Luật ĐTNN năm 1996 mới chỉ đề cập việc cho phép thành lập và chấm dứt hoạt động doanh nghiệp mà chưa đề cập các hình thái vận động như chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp Vì vậy, khi có vấn đề phát sinh, việc giải quyết thường phải thực hiện theo phương châm "xử lí linh hoạt" nên
có nhiều khó khăn, vướng mắc Để khắc phục vấn đề này, Luật ĐTNN năm 2000 đ bổ sung
Điều 19a cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh trong quá trình hoạt động được chuyển đổi hình thức
đầu tư, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập 2.4 Để mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc cơ cấu lại vốn đầu tư phù hợp với quy mô đầu tư theo nhu cầu của thị trường trong từng thời kì, Nghị định số 24/2000/NĐ-CP, tại Điều 9 đ quy định cho phép doanh nghiệp cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định trong trường hợp thay đổi mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức, giá trị góp vốn pháp định và các trường hợp khác
được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận Về nguyên tắc, việc cơ cấu lại vốn đầu tư không được làm giảm tỉ lệ vốn pháp định
Trang 5nghiên cứu - trao đổi
xuống dưới mức 30% so với tổng vốn đầu tư
của doanh nghiệp
2.5 Về chuyển nhượng vốn, Luật ĐTNN
năm 1996 đ có quy định cho phép các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chuyển
nhượng vốn, tuy nhiên, thủ tục còn phức tạp
và mang tính áp đặt Lần này, Luật ĐTNN
năm 2000 đ sửa đổi, bỏ các quy định về hợp
đồng chuyển nhượng vốn phải được cơ quan
quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài chuẩn
y; về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
buộc phải ưu tiên chuyển nhượng cho bên
Việt Nam và miễn giảm thuế trong trường hợp
chuyển nhượng cho các doanh nghiệp Việt
Nam (Điều 34)
2.6 Về giải thể doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, thực tiễn đ cho thấy, quy định
tại khoản 2 Điều 52 của Luật ĐTNN năm
1996 không phù hợp nữa, vì việc cho phép
một bên đơn phương đề nghị chấm dứt hoạt
động với sự chấp thuận của cơ quan quản lí
nhà nước về đầu tư nước ngoài đ gây bất bình
đẳng giữa các bên liên doanh, buộc các cơ
quan nhà nước phải can thiệp vào hoạt động
bình thường của doanh nghiệp Để xử lí vấn
đề này, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa đổi, cho
phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
chấm dứt hoạt động "theo các điều kiện chấm
dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng,
điều lệ doanh nghiệp hoặc thoả thuận giữa
các bên" (khoản 2 Điều 52)
2.7 Về thanh lí, phá sản đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật ĐTNN
năm 2000 đ có quy định bổ sung quan trọng:
"Trong quá trình thanh lí tài sản doanh
nghiệp, nếu xét thấy doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản thì việc giải quyết phá sản
của doanh nghiệp được thực hiện theo thủ tục
pháp luật về phá sản doanh nghiệp" (khoản 2
Điều 53) đồng thời, Luật ĐTNN năm 2000 cũng quy định: "Trong trường hợp bên Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất mà doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản thì giá trị còn lại của quyền sử dụng đất đ, góp vốn thuộc tài sản thanh lí của doanh nghiệp" (khoản 4
Điều 53) Với những quy định này, Luật
ĐTNN năm 2000 đ thiết lập phương thức mới về thanh lí và giải quyết phá sản, khắc phục được những hạn chế của Luật ĐTNN năm 1996
2.8 Để đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu và hoạt động thương mại của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị định
số 24/2000/NĐ-CP, tại chương 7 đ có những quy định mới về xoá bỏ thủ tục đăng kí, phê duyệt kế hoạch nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước của của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh trừ các hàng hoá thuộc danh mục cấm nhập khẩu và danh mục nhập khẩu có điều kiện; mở rộng quyền chủ động của doanh nghiệp trong việc nhập khẩu máy móc thiết bị, trừ thiết bị, máy móc đ qua sử dụng thuộc danh mục cấm nhập khẩu, doanh nghiệp được quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế, kĩ thuật của việc nhập khẩu máy móc thiết bị đ qua sử dụng nhưng phải bảo đảm các yêu cầu chung về kĩ thuật, môi trường theo quy định của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường Đơn giản hoá thủ tục giám định máy móc thiết bị theo hướng không yêu cầu giám định đối với thiết bị, máy móc
đ qua đấu thầu; Khi nhập khẩu không phải xuất trình chứng chỉ giám định cho hải quan Trường hợp có sự sai lệch giữa tình trạng thực
tế của máy móc thiết bị với tờ khai hải quan
Trang 6nghiên cứu - trao đổi
thì nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm trước pháp
luật
2.9 Về tuyển dụng lao động, trước đây chỉ
cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài trực tiếp tuyển dụng lao động Việt Nam
sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày mà tổ chức
cung ứng lao động Việt Nam không đáp ứng
được Hiện nay Nghị định số 24/2000/NĐ-CP
ngày 31/7/2000 của Chính phủ, tại Điều 83
đ quy định rút ngắn xuống còn 15 ngày
3 Nhóm các quy định về mở rộng các
ưu đãi về thuế, tài chính
3.1 Theo quy định của Luật ĐTNN năm
1996, khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhà
đầu tư nước ngoài phải nộp khoản thuế chuyển
lợi nhuận là 5%, 7%, 10% số lợi nhuận
chuyển ra nước ngoài, tuỳ thuộc vào quy mô
góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn
pháp định doanh nghiệp Để cải thiện môi
trường đầu tư, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa
đổi theo hướng giảm mức thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài xuống các mức tương
ứng là 3%, 5% và 7% Riêng nhà đầu tư vào
khu công nghiệp, khu chế xuất và nhà đầu tư
là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì
hưởng mức ưu đi nhất 3%; còn nhà đầu tư
đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục
đào tạo, nghiên cứu khoa học nếu không đạt
mức vốn để hưởng mức ưu đi hơn thì cũng
chỉ nộp tối đa là 5%
3.2 Nhằm khuyến khích thu hút đầu tư
nước ngoài và tháo gỡ khó khăn đối với các dự
án đang hoạt động, Luật ĐTNN năm 2000 đ
sửa đổi, bổ sung một số quy định về miễn
thuế nhập khẩu, thể hiện ở khoản 2 và khoản 4
Điều 47 Theo đó, nhiều phương tiện, vật tư,
máy móc, nguyên liệu, linh kiện được miễn thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, khuyến khích mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Đồng thời để tháo gỡ những vướng mắc về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các dự án
đầu tư nước ngoài, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa đổi, quy định các thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải nhập khẩu đồng bộ (kể cả trong nước đ sản xuất được hoặc chưa sản xuất được) và vật tư trong nước chưa sản xuất
được đều là đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT
3.3 Về việc chuyển lỗ của doanh nghiệp, Luật ĐTNN năm 1996 quy định chỉ cho phép doanh nghiệp liên doanh được chuyển lỗ sang năm tiếp theo và được bù khoản lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng không quá 5 năm Quy định đó chưa thật sự công bằng, vì vậy, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa
đổi, cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được áp dụng như doanh nghiệp liên doanh được chuyển lỗ sang năm tiếp theo
và được bù khoản lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng không quá 5 năm 3.4 Về việc lập quỹ, Luật ĐTNN năm
1996 quy định sau khi nộp thuế lợi tức, doanh nghiệp liên doanh phải trích 5% lợi nhuận còn lại để lập quỹ dự phòng với giới hạn bằng 10% vốn pháp định Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp rất cần vốn mở rộng kinh doanh nhưng vẫn phải dành khoản tiền không nhỏ để lập quỹ dự phòng trong khi mục đích sử dụng quỹ
dự phòng lại không được quy định cụ thể Do
đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa đổi, cho
Trang 7nghiên cứu - trao đổi
phép doanh nghiệp được quyền tự quyết định
lập các quỹ sau thuế như quy định tại Luật
doanh nghiệp và không áp đặt tỉ lệ bắt buộc
doanh nghiệp phải trích từ lợi nhuận để lập
quỹ dự phòng (Điều 40)
4 Nhóm các quy định về cải tiến thủ
tục hành chính, tăng cường sự quản lí của
Nhà nước
4.1 Về đăng kí cấp phép đầu tư, thời hạn
cấp giấy phép đầu tư, Luật ĐTNN năm 2000
đ có bước tiến mới trong việc cải cách thủ tục
hành chính nhằm đơn giản hoá việc cấp phép
đầu tư đối với các dự án đơn giản, nằm trong
quy hoạch và thuộc diện khuyến khích đầu tư
Những cải tiến đó được quy định tại Điều 60
Theo đó, cơ quan cấp giấy phép đầu tư xem
xét đơn và thông báo quyết định cho nhà đầu
tư chậm nhất trong vòng 45 ngày kể từ khi
nhận được hồ sơ hợp lệ (trước là 60 ngày);
trường hợp đăng kí cấp giấy phép đầu tư sẽ
xem xét và thông báo quyết định trong vòng
30 ngày (trước là 45 ngày) Đây là quy định
chung, còn trường hợp đầu tư vào các khu
công nghiệp, khu chế xuất hoặc đối với các dự
án có tính chất đơn giản thì thời gian xem xét,
cấp phép có thể không quá 10 ngày
4.2 Luật ĐTNN năm 2000 còn có những
quy định mới về khen thưởng nhằm động viên
kịp thời đối với tổ chức, cá nhân nhà đầu tư
nước ngoài có thành tích xuất sắc trong kinh
doanh, có đóng góp lớn vào công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước (Điều 63); chế độ
thanh tra, kiểm tra (Điều 64)
4.3 Để tăng cường công tác quản lí nhà
nước về đầu tư nước ngoài, Luật ĐTNN năm
2000 đ quy định rõ 6 nội dung quản lí nhà
nước về đầu tư nước ngoài tại Điều 54 và được
cụ thể hoá trong các điều của chương V Trên cơ sở của các quy định này, Nghị định số 24/2000/NĐ-CP đ cụ thể hoá thành các quy
định tại các chương X và XI của Nghị định
Đồng thời, để bảo đảm cho việc quản lí nhà nước và tạo sự chủ động cho các nhà đầu tư, kèm theo Nghị định số 24 còn có thêm 2 Phụ lục, trong đó công bố rõ danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, danh mục lĩnh vực
đặc biệt khuyến khích đầu tư, danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư, danh mục lĩnh vực
đầu tư có điều kiện, danh mục lĩnh vực không cấp giấy phép đầu tư Danh mục máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải được miễn thuế nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hợp doanh; danh mục các nhóm trang thiết bị được miễn thuế nhập khẩu một lần của doanh nghiệp khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kĩ thuật, siêu thị
Tóm lại, với những điểm mới đ được phân tích ở trên, Luật ĐTNN năm 2000 và Nghị định số 24/2000/NĐ-CP đ củng cố cơ
sở pháp lí cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn với chất lượng cao hơn, tháo gỡ những vướng mắc khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây và so với một số nước trong khu vực Đồng thời cũng đ tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế và đảm bảo các cam kết quốc tế./