Cụ thể như sau: "Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đ& quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơ
Trang 1Vấn đề Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự
Dương Tuyết Miên *
hi xây dựng các CTTP cụ thể tại Phần
các tội phạm của Bộ luật hình sự
(BLHS), nhà làm luật đ) dự liệu và quy định
loại và mức hình phạt áp dụng cho các tội
phạm đó Tuy nhiên, trên thực tế, khi người
phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù
tòa án có thể tuyên cho người phạm tội hình
phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt
nhưng xét về mức độ tương xứng giữa tội
phạm và hình phạt thì hình phạt đó vẫn còn
nặng Vì vậy, luật cho phép tòa án quyết
định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn Trường hợp này, khoa
học luật hình sự gọi là quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của BLHS
Trong BLHS năm 1985, chế định quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS
được quy định tại khoản 3 Điều 38 nhưng
chưa có tên gọi riêng như BLHS hiện hành
Cụ thể như sau: "Khi có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt
dưới mức thấp nhất mà điều luật đ& quy định
hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc
loại nhẹ hơn Lí do của việc giảm nhẹ này
phải được ghi trong bản án"
Quy định trên của khoản 3 Điều 38 còn
chung chung, chưa rõ ràng, gây nên tình
trạng vận dụng tùy tiện, thiếu thống nhất
Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng nói
trên, ngày 19/4/1989 Toà án nhân dân tối cao
ra Nghị quyết số 01/89/HĐTP hướng dẫn
việc áp dụng khoản 3 Điều 38
Theo Nghị quyết số 01/89/HĐTP, điều
kiện để tòa án quyết định hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển
sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là
phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ tức là phải
có ít nhất từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên trong
đó phải có một tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 38 BLHS năm 1985 Việc Nghị quyết số 01/89/HĐTP quy định trong các tình tiết giảm nhẹ phải có ít nhất 1 tình tiết quy định ở khoản 1 Điều 38 là tương đối hợp lí, hạn chế tình trạng tùy tiện trong việc
áp dụng bởi vì các tình tiết giảm nhẹ TNHS không chỉ do BLHS trực tiếp quy định mà còn có thể do tòa án tự xác định Khoản 2
Điều 38 BLHS năm 1985 quy định: "Khi quyết định hình phạt, tòa án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi trong bản án" Trong thực tế, các tình tiết giảm nhẹ rất đa dạng, phong phú, nhà làm luật không thể dự liệu được hết
Do vậy, luật đ) trao quyền cho tòa án tùy từng vụ án cụ thể xác định các tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS cho bị cáo Nếu so sánh giữa 2 loại tình tiết giảm nhẹ nói trên thì những tình tiết quy định ở khoản 1 Điều
38 có tính phổ biến hơn và được tổng kết từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
Do vậy, ở mức độ nhất định, những tình tiết giảm nhẹ này có giá trị pháp lí cao hơn những tình tiết giảm nhẹ do tòa án tự xác
định Cần lưu ý rằng các tình tiết giảm nhẹ
do tòa án tự xác định phải là những tình tiết
có ý nghĩa thực sự trong việc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo Tuy nhiên, trong thực tiễn vận dụng, tại một số bản án, một số tình tiết giảm nhẹ được xác định thuộc loại nói trên chưa phải là những tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS cho bị cáo như bị cáo là sinh viên,
bị cáo đ) từng công tác tại địa phương, các bị cáo là anh em ruột Qua nghiên cứu 184 bản án có áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS
K
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2năm 1985 thì có 3 bản án thuộc trường hợp
nói trên chiếm tỉ lệ 1,63% Ví dụ, tại Bản án
số 163/HSST ngày 27/4/1999 của Tòa án
nhân dân tỉnh ĐN đ) coi "Số tiền giả đ& được
thu hồi một ít, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, bị
cáo khi phạm tội còn trong độ tuổi vị thành
niên " là những tình tiết giảm nhẹ để áp
dụng khoản 3 Điều 38 là không đúng
Nghiên cứu hồ sơ vụ án cho thấy một số ít
tiền giả đ) thu hồi được là do nỗ lực của cơ
quan điều tra, tuổi đời của hầu hết các bị cáo
là ngoài 20 tuổi, riêng bị cáo T vào thời điểm
phạm tội là 20 tuổi Chính vì vậy, bản án nói
trên đ) bị viện kiểm sát kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm để xét xử lại theo hướng tăng
hình phạt cho các bị cáo
Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ đồng thời
hành vi phạm tội của bị cáo phải tương ứng
với mức cao của khung hình phạt thì tòa án
giảm nhẹ hình phạt trong khung hình phạt
cho bị cáo Nghĩa là trong những trường hợp
nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị
cáo phải bị phạt ở mức cao của khung hình
phạt còn khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, họ
được hưởng hình phạt ở mức thấp của khung
hình phạt
Tòa án chỉ quyết định hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc
chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ
hơn khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ đồng thời
hành vi phạm tội của bị cáo tương ứng với
mức thấp của khung hình phạt Nghĩa là
trong trường hợp phạm tội này, nếu người
phạm tội không có nhiều tình tiết giảm nhẹ
thì cũng chỉ bị phạt ở mức thấp của khung
hình phạt Nhưng do có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, nếu tòa án tuyên hình phạt ở mức thấp
của khung hình phạt thì hình phạt đó vẫn còn
nghiêm khắc không tương xứng với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội và nhân thân người phạm tội Do đó,
trong trường hợp này, luật cho phép tuyên
hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt Ví dụ, Bản án số 1389/HSPT ngày
22/7/1999 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao tại Hà Nội đ) kết luận Hoàng
Văn C phạm tội lưu hành tiền giả theo khoản
1 Điều 98 Theo hồ sơ vụ án, từ tháng 9 năm
1998, Hoàng Văn C đ) nhận 100.000 đồng tiền Việt Nam giả do một người Trung Quốc
đưa tại Lạng Sơn để tiêu thụ thử Hoàng Văn
C đ) tiêu thụ trót lọt mà không bị phát hiện
Do hám lời C đ) sang Trung Quốc bỏ ra 250.000 đồng tiền Việt Nam thật để mua 500.000 đồng tiền Việt Nam giả đem về Việt Nam tiêu thụ Tại Hải Phòng C đ) tiêu thụ hết 350.000 đồng tiền giả Khi bị bắt, C còn giữ trong người 150.000 đồng tiền giả Trường hợp này, nếu không có các tình tiết giảm nhẹ, hành vi của bị cáo tương ứng với mức thấp của khung hình phạt vì số tiền giả
C lưu hành không lớn Nhưng vì C có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên tòa án đ) cho bị cáo
được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 4 năm tù (khoản 1
Điều 98 quy định hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù)
Trong trường hợp mức thấp nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù hoặc 6 tháng cải tạo không giam giữ, nếu tuyên cho bị cáo hình phạt bằng mức khởi điểm của khung thì vẫn còn nghiêm khắc nhưng đồng thời cũng không thể tuyên cho bị cáo hình phạt dưới mức tối thiểu bởi sẽ vi phạm Điều 24, Điều
25 BLHS năm 1985 Trường hợp này, tòa án
sẽ chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Quyết định chuyển sang hình phạt thuộc loại nhẹ hơn là việc tòa án quyết định thay thế loại hình phạt được quy định trong chế tài của điều luật quy định về tội phạm
đang được đưa ra xét xử bằng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn không được quy định trong điều luật đó Khi áp dụng khoản 3
Điều 38 BLHS năm 1985 để quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn phải xuất phát từ mức độ nghiêm khắc của từng loại hình phạt trong hệ thống hình phạt để thay thế loại hình phạt này bằng loại hình phạt khác nhẹ hơn Ví dụ: Nguyễn Văn
A phạm tội theo khoản 1 Điều 206 nhưng vì
A có 3 tình tiết giảm nhẹ, hành vi của A lại tương ứng với mức thấp của khung hình phạt
Trang 3nếu tuyên cho A 3 tháng tù vẫn còn nghiêm
khắc thì tòa án quyết định chuyển sang hình
phạt khác nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ
Qua nghiên cứu 184 bản án có áp dụng
khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 thì không
có trường hợp nào tòa án quyết định chuyển
sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Tìm
hiểu phần các tội phạm BLHS năm 1985 cho
thấy chỉ có 2 điều luật quy định mức thấp
nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù Đó là
tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (khoản 1
Điều 206); tội không chấp hành các quyết
định hành chính về cư trú bắt buộc, cấm cư
trú, quản chế hoặc lao động bắt buộc (Điều
213) Rất nhiều điều luật quy định mức phạt
tù thấp nhất áp dụng cho người phạm tội là 3
tháng tù nhưng trong những trường hợp này
tù có thời hạn lại được quy định là chế tài lựa
chọn bên cạnh cải tạo không giam giữ hoặc
cảnh cáo (Điều 212, 214, 215, 216 ), do
vậy, mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ là
cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ (tùy
từng trường hợp) Hơn nữa, cải tạo không
giam giữ được quy định trong BLHS 1985
chỉ có mức tối đa mà không có mức tối thiểu
Những lí do trên đ) lí giải được về cơ bản tại
sao trên thực tế, tòa án hiếm khi áp dụng
khoản 3 Điều 38 để chuyển sang hình phạt
khác thuộc loại nhẹ hơn mặc dù bị cáo có
nhiều tình tiết giảm nhẹ và hành vi của bị
cáo tương ứng với mức thấp của khung hình
phạt Thực tế cho thấy trong những trường
hợp này tòa án thường cho bị cáo được
hưởng án treo; trong số 184 bản án áp dụng
khoản 3 Điều 38 thì có 31 bản án cho hưởng
án treo chiếm tỉ lệ 16,8%
Khi kết án người phạm nhiều tội, nếu tội
nào của họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì tòa
án áp dụng khoản 3 Điều 38 nêu trên để
quyết định hình phạt đối với riêng tội đó rồi
tổng hợp các hình phạt theo đúng quy định
của Điều 41 về quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội và tổng hợp hình
phạt khác loại (Điều 43) Tuy nhiên, thực
tiễn vận dụng cho thấy một số bản án không
nêu rõ tình tiết giảm nhẹ của từng tội mà gộp
chung cả lại nên rất khó xác định các tình tiết giảm nhẹ đó thuộc về riêng tội nào hay
áp dụng chung cho cả 2 tội; trong số 184 bản
án áp dụng khoản 3 Điều 38 thì có 3 bản án thuộc trường hợp này chiếm tỉ lệ 1,6% Khi giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội theo khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985, tòa án phải ghi rõ lí do của việc giảm nhẹ trong bản án Quy định này mang tính chất bắt buộc nhằm đề cao tính nghiêm túc của biện pháp này và hạn chế việc giảm nhẹ hình phạt tuỳ tiện đối với người phạm tội Mặt khác, nó cũng là cơ sở để tòa án cấp trên giám sát, kiểm tra việc xét xử của tòa án cấp dưới, phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai sót của tòa án cấp dưới
Mặc dù khoản 3 Điều 38 BLHS năm
1985 đ) được Nghị quyết số 01/89/HĐTP hướng dẫn thi hành nhưng vẫn chưa triệt để Khoản 3 Điều 38 quy định: "Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đ& quy định " nhưng lại không quy
định rõ thấp nhất ở mức độ nào, do đó, có thể gây ra những cách hiểu khác nhau và việc vận dụng sẽ không thống nhất, bởi vì điều luật quy định về tội phạm cụ thể có thể có một khung hình phạt hoặc nhiều khung hình phạt Có tòa án tuyên cho bị cáo hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời lại chênh lệch rất lớn so với mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo được áp dụng Ví dụ: T.Đ.L là thủ kho vũ khí, trong thời gian dài đ) chiếm đoạt và bán trái phép một số lượng rất lớn vũ khí quân dụng gồm hàng chục khẩu súng và hàng vạn viên đạn các loại Viện kiểm sát truy tố L tội "chiếm
đoạt, mua bán trái phép vũ khí quân dụng" theo khoản 3 Điều 95 BLHS Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá sau khi phạm tội L đ) ăn năn hối cải, thật thà khai báo, tự nguyện nộp bồi thường và áp dụng khoản 3 Điều 95, điểm a,
h khoản 1 Điều 38 BLHS phạt T.Đ.L 3 năm
tù về tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, 2 năm
Trang 4tù về tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng
Tổng hợp hình phạt cho cả 2 tội là 5 năm tù
Như vậy, hình phạt mà tòa án tuyên cho cả 2
tội là quá thấp và tương ứng với mức hình
phạt ở khoản1 Điều 95 Chính vì vậy, bản án
này đ) bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm Hội đồng xét xử giám đốc thẩm đ) hủy
án để xét xử sơ thẩm lại theo hướng tăng
hình phạt đối với T.Đ.L
Thực tiễn xét xử cho thấy thực trạng tòa
án "áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất
mà điều luật đ) quy định" chưa chặt chẽ,
thiếu chính xác không phải là hiếm Một số
tác giả đ) có bài viết cảnh báo về hiện tượng
này(1)
Nhằm khắc phục hạn chế nói trên của
khoản 3 Điều 38, trên diễn đàn khoa học luật
hình sự, nhiều tác giả đ) đưa ra giải pháp
khác nhau nhưng đa phần đều thống nhất là
"việc giảm hình phạt trước hết phải lấy mức
thấp nhất của khung hình phạt đ& được quy
định đối với trường hợp phạm tội đó là cơ sở,
sau đó mới quyết định hình phạt dưới mức cơ
sở đó nhưng hình phạt đó không phải là dưới
mức thấp nhất mà điều luật đ& quy định mà
phải nằm trong khung hình phạt nhẹ hơn kế
tiếp trước đó hoặc kế tiếp sau đó"(2)
Chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn
quy định của BLHS được sửa đổi về cơ bản
trong BLHS năm 1999 Lần đầu tiên, tên gọi
của chế định này đ) được ghi nhận chính
thức trong BLHS Từ khoản 3 Điều 38 BLHS
năm 1985, chế định này đ) được tách ra
thành 1 điều độc lập Theo BLHS năm 1999,
chế định này được quy định tại Điều 47 với
nội dung như sau : "Khi có ít nhất 2 tình tiết
giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của
Bộ luật này, tòa án có thể quyết định một
hình phạt dưới mức thấp của khung hình
phạt mà điều luật đ& quy định nhưng phải
trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của
điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có
một khung hình phạt hoặc khung hình phạt
đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật
thì tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Lí do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án"
Như vậy, xét về nội dung cũng như kĩ thuật lập pháp, Điều 47 BLHS năm 1999 đ) quy định chặt chẽ hơn, logic hơn, khắc phục
được hạn chế của khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 Theo tinh thần Điều 47, để vận dụng chế định này phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định ở khoản 1
Điều 46 đồng thời hình phạt được quyết định phải trong phạm vi khung hình phạt liền kề nhẹ hơn
Ví dụ: Nguyễn Văn A phạm tội buôn bán hàng cấm theo khoản 3 Điều 155 (có mức phạt từ 8 năm đến 15 năm) Nhưng vì bị cáo
có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1
Điều 46, tòa án sẽ áp dụng Điều 47 quyết
định cho bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 3 nhưng hình phạt này phải trong giới hạn của khoản 2 Điều 155
Trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu mà luật quy định cho loại hình phạt
đó Ví dụ, theo Điều 33 BLHS thì tù có thời hạn có mức tối thiểu là 3 tháng tù Tòa án có thể quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung nhưng không thể thấp hơn 3 tháng tù
Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn thì phải chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLHS Ví dụ, nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù thì khi đó không thể tuyên hình phạt dưới mức thấp nhất của khung mà phải chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nhưng phải là hình phạt nhẹ hơn liền kề của tù có thời hạn - hình phạt
Trang 5cải tạo không giam giữ chứ không phải là
trục xuất vì trục xuất chỉ áp dụng đối với
người phạm tội là người nước ngoài Nếu loại
hình phạt nhẹ hơn liền kề đó là cảnh cáo thì
hình phạt được áp dụng là hình phạt cảnh cáo
chứ không lấy lí do bị cáo phạm tội trong
trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng
được khoan hồng để miễn hình phạt cho
người phạm tội
Mặc dù Điều 47 BLHS năm 1999 quy
định rõ ràng điều kiện để áp dụng chế định
quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
BLHS là "phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ
trở lên quy định ở khoản 1 Điều 46 ''
nhưng trong thực tế xét xử vẫn có bản án cho
bị cáo được áp dụng chế định này khi bị cáo
chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định ở Điều
46 Ví dụ: Bản án số 309/HSST ngày
12/7/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh QN đ)
vận dụng Điều 47 khi bị cáo chỉ có một tình
tiết giảm nhẹ quy định ở điểm P khoản 1
Điều 46 là người phạm tội khai báo thành
khẩn
Thực tiễn xét xử hiện nay còn gặp vướng
mắc khi vận dụng Điều 47 BLHS năm 1999
Đó là trường hợp bị cáo được áp dụng điều
luật này khi bản thân bị cáo có 3 tình tiết
giảm nhẹ quy định ở Điều 46 Tòa án cho bị
cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt Mặc dù hình phạt tòa án
tuyên cho bị cáo không thấp hơn nhiều so với
mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng
hình phạt này lại không thuộc khung hình
phạt nhẹ hơn kế tiếp Và trường hợp này, cán
bộ xét xử hoàn toàn tuân thủ pháp luật nhưng
vô hình trung lại trở thành người vi phạm
Điều 47 Ví dụ: Bị cáo phạm tội hiếp dâm trẻ
em theo khoản 4 Điều 112 (có mức phạt tù là
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử
hình) nhưng vì bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ
quy định ở khoản 1 Điều 46 nên tòa án đ)
vận dụng Điều 47 cho bị cáo được hưởng
hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt là 10 năm tù Tuy nhiên, khoản 3 Điều
112 lại quy định hình phạt là tù 20 năm, tù
chung thân hoặc tử hình Điều đó có nghĩa là khoản 3 Điều 112 không phải là khung hình phạt nhẹ hơn liền kề Như vậy, hình phạt mà tòa án tuyên cho bị cáo thực tế lại tương ứng với mức hình phạt của khung 1 Trường hợp này, mặc dù hình phạt mà toà án tuyên cho
bị cáo không thấp hơn nhiều so với mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng vì điều luật không quy định khung hình phạt nhẹ hơn liền kề khung hình phạt được áp dụng nên hình phạt mà thực tế toà án tuyên cho bị cáo lại thuộc về một khung hình phạt khác, cách
xa khung hình phạt được áp dụng
Nhìn chung chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS năm 1999
đ) tỏ ra phù hợp với thực tiễn Tuy nhiên
Điều 47 vẫn còn bộc lộ hạn chế trong áp dụng như đ) phân tích ở trên Để việc vận dụng chế định này có hiệu quả trong thực tiễn, chúng tôi cho rằng Điều 47 nên sửa lại như sau:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật
đ) quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì toà án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Trường hợp khung hình phạt liền kề không phải là khung hình phạt nhẹ hơn thì toà án có thể quyết định hình phạt dưới mức tối thiểu nhưng không được thấp hơn 4 năm so với mức tối thiểu Lí do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản
án./
(1).Xem: Quách Thành Vinh "Vài suy nghĩ về việc áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ Luật hình sự" Tạp chí tòa
án nhân dân số 12/1992
(2).Xem: Trần Văn Sơn "Một số ý kiến về trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn luật quy định" Tạp chí tòa án nhân dân số 12/1996