Tuy nhiên, do tính phức tạp của vấn đề và những lí do khác, cho đến nay, xung quanh khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật vẫn còn nhiều tranh luận với những ý kiến rất khác nhau, thể hiệ
Trang 1Tạp chí luật học - 17
Nguyễn Quốc Hoàn *
ơ chế điều chỉnh pháp luật là một trong
những vấn đề cơ bản của khoa học pháp lí
nói chung và của lí luận nhà nước và pháp luật
nói riêng, đ' được nhiều nhà luật học và các
luật gia quan tâm nghiên cứu hoặc đề cập ở
những mức độ, khía cạnh khác nhau Tuy
nhiên, do tính phức tạp của vấn đề và những lí
do khác, cho đến nay, xung quanh khái niệm
cơ chế điều chỉnh pháp luật vẫn còn nhiều
tranh luận với những ý kiến rất khác nhau, thể
hiện ở những quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng cơ chế điều
chỉnh pháp luật chính là cơ chế tác động của
pháp luật tổng thể các phương tiện, các hình
thái tác động khác nhau của pháp luật lên các
quan hệ x' hội, bao gồm quy phạm pháp luật,
quan hệ pháp luật, các quá trình thực hiện
pháp luật, ý thức pháp luật, văn hoá pháp luật
và hoạt động tuyên truyền và giáo dục pháp
luật Với cách tiếp cận như vậy, quan điểm này
có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn là nó tạo
ra khả năng tìm kiếm các giải pháp trên nhiều
hướng khác nhau để đưa pháp luật đi vào cuộc
sống Tuy nhiên, do xuất phát từ việc đồng
nhất "điều chỉnh pháp luật" với "tác động pháp
luật" khi cho rằng "điều chỉnh pháp luật cần
được hiểu là nó được thực hiện bằng pháp luật
và toàn bộ các phương tiện tác động của pháp
đ' mở rộng tối đa phạm vi của khái niệm cơ
chế điều chỉnh pháp luật tới mức dung hợp vào
đó cả những những yếu tố nằm ngoài giới hạn
của khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật;
chưa phân định rõ chức năng điều chỉnh với
chức năng giáo dục của pháp luật và do đó,
việc xác định các thành tố hợp thành cơ chế
điều chỉnh pháp luật cũng như xác định và giải
quyết các mối quan hệ giữa chúng với tư cách
là cơ chế (hệ thống) điều chỉnh cũng sẽ gặp
những khó khăn nhất định
Quan điểm thứ hai cho rằng cơ chế điều
chỉnh pháp luật được hiểu theo hai nghĩa rộng
và hẹp Theo nghĩa rộng, cơ chế điều chỉnh
pháp luật bao gồm toàn bộ các hiện tượng pháp lí mà hoạt động của chúng có ảnh hưởng
đến nhận thức và hành vi của chủ thể pháp luật Theo nghĩa hẹp, cơ chế điều chỉnh là cái
mà nhờ đó có được sự tác động của pháp luật
đối với các quan hệ x' hội mà cụ thể là sự tác
động bằng các quy phạm pháp luật và được
điểm này đ' chú trọng đến các khía cạnh tâm
lí, x' hội của điều chỉnh pháp luật Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa rộng thì đây cũng là khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật được hiểu tương tự như quan điểm thứ nhất; còn nếu xét theo nghĩa hẹp thì lại có mâu thuẫn là đ' quá
đề cao vai trò của nhà nước, chưa tính đến tính tích cực của các chủ thể pháp luật khác, dẫn
đến khó khăn khi giải quyết những vấn đề có tính thống nhất và toàn diện của cơ chế điều chỉnh pháp luật
Quan điểm thứ ba cho rằng cơ chế điều chỉnh pháp luật bao gồm hai bộ phận trái ngược nhau, đó là phương thức điều chỉnh pháp luật được thể hiện trong các quy phạm pháp luật là cơ sở để cách chủ thể lựa chọn cách xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật (cho phép, bắt buộc hoặc cấm đoán) và phương thức thực hiện hành vi, thể hiện trong các xử
sự cụ thể của con người, trong đó chủ thể pháp luật chủ động thực hiện, phải thực hiện hoặc phải kiềm chế thực hiện hành vi nào đó Đồng thời, theo quan điểm này, giữa hai phương thức
đó lại tồn tại các khâu trung gian là chủ thể
Quan điểm này đ' xuất phát từ góc độ cấu trúc
và nhấn mạnh tính cấu trúc của phạm trù cơ chế điều chỉnh pháp luật, xác định đặc điểm riêng của các bộ phận trong cấu trúc đó, tạo ra cơ sở cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn
đề cơ bản thuộc nội dung của khái niệm này Tuy nhiên, do quan điểm này phân lập hai
C
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2phương thức điều chỉnh pháp luật và thực hiện
hành vi pháp luật của chủ thể, xác định chủ thể
pháp luật, sự kiện pháp lí và quan hệ pháp luật
chỉ là khâu trung gian giữa hai phương thức đó
nên chưa giải quyết được mối quan hệ tương
tác của các yếu tố cấu thành cơ chế điều chỉnh
pháp luật
Quan điểm khác cho rằng cơ chế điều
chỉnh pháp luật là hệ thống các phương tiện
pháp lí đặc thù có quan hệ mật thiết với nhau,
được nhà nước sử dụng để tác động lên các
quan hệ x' hội nhằm tạo ra trật tự pháp lí nhất
định, làm cho khoảng cách giữa pháp luật trên
giấy, pháp luật thực định và pháp luật trên thực
tế, pháp luật trong cuộc sống ngày càng thu
nhỏ lại và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn(4) Quan
điểm này có nhiều yếu tố hợp lí, nhất là đ' chú
trọng tính hiệu quả của pháp luật, tạo cơ sở
cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề lí
luận và thực tiễn pháp lí khác để đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp
luật Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm cơ chế điều
chỉnh pháp luật là hệ thống phương tiện pháp
lí được nhà nước sử dụng thì chưa toàn diện
và chưa thấy hết tính toàn diện và trạng thái
"động" của cơ chế điều chỉnh pháp luật
Như vậy, mỗi quan điểm nêu trên đều có
những yếu tố hợp lí nhưng cũng có những hạn
chế nhất định Để có quan niệm đúng về cơ
chế điều chỉnh pháp luật, theo chúng tôi cũng
cần làm rõ nội dung ngữ nghĩa của nhóm từ cơ
chế điều chỉnh pháp luật; xác định rõ cấu trúc
nội dung của khái niệm; phân tích một cách
toàn diện những đặc trưng chung của khái
niệm đó với tư cách là cơ chế (hệ thống) và
những đặc trưng riêng của từng bộ phận hợp
thành và mối quan hệ tương tác cơ bản giữa
chúng
Trước hết, về thuật ngữ, nội dung của thuật
ngữ cơ chế ở trong các ngôn ngữ khác nhau
thường được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là
cơ cấu bên trong của máy móc hoặc thiết bị
mà làm cho máy móc hoặc thiết bị đó hoạt
động; “là hệ thống các bộ phận hoạt động
cùng nhau trong một cỗ máy” và thứ hai là cấu
trúc bên trong, phương thức vận hành của một
hay
"một quá trình tự nhiên được con người lập ra
nhờ đó một hoạt động nào đó được tiến hành
Trong tiếng Việt, "cơ chế" được hiểu là cách thức theo đó một quá trình được thực hiện(7) Tuy nhiên, nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là khi xây dựng khái niệm "cơ chế kinh tế" và "cơ chế quản lí kinh tế", các nhà kinh tế học cho rằng: "Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ sự tương tác giữa các yếu tố kết thành một hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể hoạt động"(8)
Như vậy, thuật ngữ "cơ chế" đều luôn được giải thích gắn liền với hoạt động của một hệ thống thống nhất của các bộ phận tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hoạt động của chúng Thuật ngữ "cơ chế" chứa đựng hai nội dung đó là cấu trúc của một chỉnh thể bao gồm các bộ phận khác nhau có mối liên hệ mật thiết với nhau và phương thức vận hành hay hoạt
động của chỉnh thể đó tức là sự tương tác giữa các bộ phận trong cấu trúc của chỉnh thể nhằm
đạt được kết quả nhất định
Về thuật ngữ “điều chỉnh” và “điều chỉnh pháp luật”, trong tiếng Việt, từ "điều chỉnh"
được hiểu là "sửa đổi, sắp xếp lại ít nhiều cho
ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Nga hay tiếng Latinh từ "điều chỉnh" đều có nghĩa là sự tác
động, chỉnh đốn, điều khiển hoạt động hay quá trình để tạo ra trật tự hài hoà, thường dựa vào những nguyên tắc hay những quy tắc nhất
định Đặc biệt, trong cuốn từ điển pháp luật tiếng bằng tiếng Anh “Black’s Law Dictionary” thì thuật ngữ "điều chỉnh" được giải thích: "Điều chỉnh (regulate) là sắp xếp, thiết lập, hoặc điều khiển chỉnh đốn bằng quy tắc, phương pháp hoặc phương thức đ= được
định ra; chỉ đạo bằng quy tắc hoặc khuôn mẫu; kiểm soát bằng các nguyên tắc cai trị hoặc bằng pháp luật"(10) Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Điều chỉnh pháp luật
là việc Nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật để điều chỉnh các quan hệ x= hội, tác động theo những hướng nhất định vào các quan hệ x= hội”(11)
Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh các mối quan hệ x' hội nhằm mục đích duy trì trật
Trang 3tự x' hội, bảo vệ các quyền và sự tự do của con
người đồng thời đảm bảo sự phát triển của x'
hội phù hợp với các quy luật khách quan Để
đạt được mục đích đó, pháp luật một mặt bảo
vệ và định hướng cho sự phát triển các quan hệ
x' hội nếu những quan hệ đó phù hợp với sự
phát triển của x' hội, mặt khác tạo ra những
rào chắn để kìm h'm sự phát triển nhằm hạn
chế và loại bỏ ra khỏi đời sống x' hội những
quan hệ x' hội lạc hậu không phù hợp với nhu
cầu khách quan của x' hội và lợi ích chung
của x' hội
Các quan hệ x' hội tồn tại một cách khách
quan trong quá trình hoạt động của con người
nhưng mức độ ổn định và nhịp độ phát triển
của chúng lại phụ thuộc vào cách xử sự của
con người khi tham gia các mối quan hệ x' hội
đó Khi tham gia vào các mối quan hệ x' hội,
các chủ thể có nhiều phương án xử sự khác
nhau, tuỳ thuộc vào cách xử sự của chủ thể mà
quan hệ x' hội tồn tại, vận động và phát triển
theo những hướng khác nhau Vì vậy, để tác
động vào các quan hệ x' hội nhằm đạt được
mục đích và kết quả cụ thể, pháp luật xác định
cách xử sự của chủ thể trong những trường hợp
nhất định và đảm bảo cho chúng được thực
hiện Các chủ thể tiến hành các xử sự theo các
yêu cầu của pháp luật để đảm bảо cho các
quan hệ x' hội tồn tại, vận động và phát triển
theo trật tự nhất định phù hợp với mục đích
của điều chỉnh pháp luật Với ý nghĩa đó, điều
chỉnh pháp luật đối với các quan hệ x' hội
được thực hiện thông qua hành vi chủ thể của
các mối quan hệ x' hội đó Nói cách khác,
mục đích của điều chỉnh pháp luật chỉ có thể
đạt được khi nó được thể hiện thành hành vi
thực tế của các chủ thể pháp luật
Tuy nhiên, để có hành vi xử sự thực tế của
các chủ thể phù hợp với các yêu cầu của pháp
luật, điều chỉnh pháp luật được tiến hành theo
quá trình phức tạp, từ việc mô hình hoá hành vi
của chủ thể gắn với những điều kiện và hoàn
cảnh nhất định nhằm tạо ra các quy tắc xử sự
đến việc cá biệt hoá các mô hình hành vi đó
thành những xử sự cụ thể trong những điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể và thực hiện các hoạt
động để các chủ thể tiến hành đúng các xử sự
đó trên thực tế Những quá trình đó rất khác
nhau phụ thuộc vào đặc điểm của từng mối
quan hệ x' hội mà pháp luật điều chỉnh cũng như mục đích của nhà nước mong muốn đạt
được khi thực hiện sự điều chỉnh đối với các quan hệ x' hội đó
Để tiến hành những hoạt động này, đòi hỏi nhà nước với tư cách là chủ thể của quá trình
điều chỉnh pháp luật phải dựa vào các phương tiện pháp luật khác nhau Nhờ các phương tiện pháp luật, các chủ thể pháp luật thoả m'n lợi ích của mình hoặc đạt được mục đích nhất
định trong hoạt động đồng thời đáp ứng được yêu cầu của pháp luật Các phương tiện pháp luật được thể hiện dưới các hình thức khác nhau nhưng chúng là các phần hoạt động cơ bản của điều chỉnh pháp luật Đó là các quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật Quá trình
điều chỉnh pháp luật diễn ra nhờ sự tác động qua lại giữа các phương tiện pháp luật đó Sự tác động qua lại giữа các phương tiện pháp luật này được thực hiện nhờ vàо hoạt động của chủ thể pháp luật Thông qua sự tương tác giữа các phương tiện pháp luật, pháp luật từng bước đi vàо đời sống x' hội thể hiện ở hoạt động của các chủ thể pháp luật, mục đích của điều chỉnh pháp luật mới đạt được
Với ý nghĩa đó, cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống thống nhất các phương tiện pháp luật có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau thông qua hoạt động của các chủ thể trên cơ sở sự đảm bảo của nhà nước làm cho pháp luật đi vào đời sống x' hội Khái niệm này thể hiện ba nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất, cơ chế điều chỉnh pháp luật là phạm trù chỉ trạng thái động của pháp luật trong đó thông qua các phương tiện cụ thể, pháp luật từ chỗ là các quy tắc xử sự đi vào đời sống x' hội thể hiện thông qua hành vi cụ thể của các chủ thể pháp luật trên thực tế
Pháp luật chỉ thực hiện được chức năng của mình là điều chỉnh các mối quan hệ x' hội khi
nó đi vào đời sống x' hội thể hiện thông qua hoạt động thực tế của chủ thể các quan hệ x' hội, làm biến đổi đời sống x' hội theo mục
đích đ' định Nếu chỉ có hoạt động ban hành pháp luật thì không có nghĩa là nhà nước đ'
điều chỉnh được các mối quan hệ x' hội Mục
Trang 4đích điều chỉnh pháp luật chỉ đạt được khi các
quy phạm pháp luật trở thành quy tắc xử sự
thực tế của chủ thể Để đạt được mục đích của
mình, nhà nước phải dựa vào các phương tiện
pháp luật nhất định thông qua đó pháp luật có
“cuộc sống thực” trong đời sống x' hội chứ
không phải là pháp luật “trên giấy”, tức là nó
được thể hiện thành quy tắc xử sự thực tế của
các chủ thể Cơ chế điều chỉnh pháp luật chính
là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ quá trình
trong đó pháp luật từ chỗ là các quy tắc xử sự
trở thành hành vi của chủ thể các quan hệ x'
hội - khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật
luôn chỉ trạng thái động của pháp luật Thông
qua cơ chế điều chỉnh pháp luật, mục đích của
điều chỉnh pháp luật mới trở thành hiện thực
thể hiện ở kết quả cụ thể
Cơ chế điều chỉnh pháp luật không phải là
sự tập hợp một cách đơn giản các thành tố
khác nhau mà chúng có mối liên hệ mật thiết
với nhau tạo nên hệ thống thống nhất, trong đó
mỗi bộ phận cấu thành có chức năng riêng của
nó đảm bảo sự tác động của pháp luật đối với
các quan hệ x' hội, đảm bảo cho pháp luật
từng bước đi vào đời sống x' hội Chẳng hạn,
nếu quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu
chung cho hành vi của chủ thể thì quan hệ
pháp luật là hình thức pháp lí cụ thể của các
quan hệ x' hội trong đó các khuôn mẫu chung
trở thành mô hình cụ thể cho hoạt động của
chủ thể cụ thể, hành vi pháp luật của chủ thể là
sự hiện thực hoá các mô hình đó trên thực tế
Các phương tiện pháp luật đó có mối liên
hệ mật thiết với nhau, trong đó phương tiện
này là tiền đề cho sự tồn tại của các phương
tiện khác trong cả quá trình điều chỉnh pháp
luật Nhờ mối liên hệ đó mà quá trình điều
chỉnh pháp luật được diễn ra một cách liên tục,
đảm bảo cho sự vận hành của toàn bộ cơ chế
- Thứ hai, chủ thể các quan hệ x' hội được
pháp luật điều chỉnh đóng vai trò chủ yếu đối
với sự vận hành của cơ chế điều chỉnh pháp
luật
Như đ' phân tích ở trên, điều chỉnh pháp
luật chỉ được thực hiện thông qua hành vi của
chủ thể tham gia các mối quan hệ x' hội, kết
quả của điều chỉnh pháp luật chỉ đạt được khi
có hành vi cụ thể của các chủ thể trên thực tế
Vì vậy, quá trình điều chỉnh pháp luật là quá
trình các chủ thể thông qua các phương tiện
pháp luật từng bước thoả m'n lợi ích của mình
được pháp luật bảo vệ Do đó, cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành được chính là nhờ vào hoạt động của các chủ thể Đồng thời cũng nhờ vào hoạt động của các chủ thể pháp luật
mà các phương tiện pháp luật có sự tác động lẫn nhau đảm bảо cho sự vận hành của toàn bộ cơ chế
Vai trò của các chủ thể trong cơ chế điều chỉnh pháp luật được biểu hiện ở tính tích cực pháp luật của các chủ thể trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Hơn nữa, trong chừng mực nào đó, các chủ thể được nhà nước trao quyền để thực hiện những hoạt động cụ thể (chẳng hạn trong trường hợp áp dụng pháp luật) hoặc được chủ động trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở các quy phạm pháp luật, tính tích cực của các chủ thể pháp luật có vai trò quyết định đối với sự vận hành của cơ chế điều chỉnh pháp luật Mặc dù pháp luật do nhà nước ban hành và
đảm bảo thực hiện nhưng pháp luật chỉ đi vào
đời sống x' hội thông qua hoạt động của các chủ thể tham gia các quan hệ x' hội được pháp luật điều chỉnh Hoạt động của các chủ thể pháp luật làm cho các quy phạm pháp luật từng bước trở thành xử sự cụ thể và cuối cùng
là được thể hiện thành hành vi cụ thể của các chủ thể đó trên thực tế
của điều chỉnh pháp luật và là nguồn khởi
động và đảm bảo cho cơ chế điều chỉnh vận hành trên cơ sở tính tích cực của các chủ thể pháp luật
Trước hết, nhà nước thông qua các cơ quan
có thẩm quyền ban hành các văn bản chứa
đựng các quy phạm pháp luật Hoạt động sáng tạo pháp luật của các cơ quan này không chỉ khởi động cho cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành mà còn định hướng cho các chủ thể tham gia quan hệ x' hội thực hiện các quy phạm pháp luật Hoạt động đó của nhà nước cùng với tính tích cực của chủ thể và các điều kiện cần thiết để chủ thể có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình làm cho các quy phạm pháp luật có thể được thực hiện trên thực tế Chẳng hạn, các quy định về quyền của chủ thể hay các nghĩa vụ gắn liền với lợi ích của họ được chủ thể tự giác thực hiện trên cơ sở đảm bảo của nhà nước mà không cần biện pháp cưỡng
Trang 5chế nào đối với họ(12)
Quá trình vận hành của cơ chế điều chỉnh
pháp luật luôn luôn có sự hỗ trợ từ phía nhà
nước thông qua hoạt động áp dụng pháp luật
của các cơ quan có thẩm quyền trong những
trường hợp cần thiết Dựa vào những căn cứ
nhất định, chẳng hạn khi cần phải cụ thể hóa
các quyền và nghĩa vụ đối với chủ thể cụ thể
nào đó hoặc khi cần phải xác định địa vị pháp
lí cho chủ thể hay cần phải cá biệt hoá chế tài
pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật,
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành
áp dụng pháp luật đối với những trường hợp cụ
thể để tạo điều kiện pháp lí thuận lợi cho các
chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí
của mình Sự hỗ trợ như vậy là cần thiết để
đảm bảo cho cơ chế đi đến giai đoạn cuối
cùng, đó là làm cho các quy phạm pháp luật
được thực hiện trên thực tế, mục đích của điều
chỉnh pháp luật có thể trở thành hiện thực
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của nhà nước đối
với việc vận hành của cơ chế điều chỉnh pháp
luật còn được thực hiện thông qua những biện
pháp nhằm kích thích tính tích cực của chủ thể
khi tham gia vào các quan hệ x' hội được pháp
luật điều chỉnh như các biện pháp khuyến
khích về vật chất hoặc tinh thần của nhà nước
đối với các chủ thể pháp luật
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ x' hội ở
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của con
người Trong mỗi lĩnh vực hoạt động đó, các
quan hệ x' hội có những đặc điểm riêng của
nó, vì vậy, khi thực hiện sự điều chỉnh đối với
các quan hệ x' hội này, pháp luật cũng có
những hình thức tác động không giống nhau
ở các lĩnh vực pháp luật khác nhau cơ chế điều
chỉnh pháp luật có những đặc điểm khác nhau,
những đặc điểm đó do đặc điểm của đối tượng
điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh pháp
luật của các lĩnh vực pháp luật quy định
Sự khác nhau trong đối tượng và phương
pháp điều chỉnh của các ngành luật dẫn đến cơ
chế điều chỉnh pháp luật cũng có những đặc
điểm không hoàn toàn giống nhau Chẳng hạn,
cơ chế điều chỉnh pháp luật hành chính khác
với cơ chế điều chỉnh pháp luật dân sự do tính
chất của các quan hệ x' hội được pháp luật
hành chính điều chỉnh có những đặc điểm khác
với các quan hệ x' hội được các quy phạm
pháp luật dân sự điều chỉnh Vì thế, phương
pháp điều chỉnh của pháp luật hành chính cũng khác với phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự Cụ thể, sự khác nhau đó là trong cơ chế
điều chỉnh pháp luật hành chính, sự tham gia của văn bản áp dụng pháp luật với tư cách là phương tiện cá biệt hoá các quyền và nghĩa vụ của chủ thể là tương đối phổ biến thì trong cơ chế điều chỉnh pháp luật dân sự, các văn bản
áp dụng pháp luật ít tham gia vào việc cá biệt hoá quyền và nghĩa vụ của chủ thể mà phần lớn các trường hợp là các chủ thể tự định đoạt quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia quan
hệ pháp luật, các văn bản áp dụng pháp luật thường chỉ tham gia nhằm xác định tư cách pháp lí của chủ thể hoặc xác nhận sự tồn tại các sự kiện pháp lí
Nhờ khái niệm cơ chế điều chỉnh pháp luật, chúng ta có thể thấy được toàn bộ quá trình điều chỉnh pháp luật đồng thời có thể thấy được pháp luật được thực hiện trên thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể như thế nào Tuy nhiên, cơ chế điều chỉnh pháp luật là khái niệm phức tạp, do đó, để thấy được nội dung của toàn bộ vấn đề, đòi hỏi chúng ta phải
đi sâu tìm hiểu cấu trúc cũng như sự vận hành của cơ chế cũng như chức năng của các thành
tố trong cơ chế điều chỉnh pháp luật./
(1).Xem: Alêchxâyep, "Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong nhà nước XHCN", Nxb Khoa học pháp lí, Matxcơva 1966, tr 5 (bản tiếng Nga)
(2).Xem: Kômarôp, "Lí luận chung về nhà nước và pháp luật", Nxb Pháp lí, Matxcơva 1996 tr 286
(3).Xem: Lazareva, "Lí luận chung về nhà nước và pháp luật", Nxb Pháp lí, Mátxcơva 1996, tr 395
(4).Xem: Hoàng Phước Hiệp, "Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" Luận án phó tiến sĩ luật học, tr 26
(5).Xem: Từ điển tiếng Nga, Nxb Từ điển quốc gia Matxcơva 1994, tập 2, tr 204
(6).Xem: Từ điển tiếng Anh Oxford 1998, tr 1148,1149
(7).Xem: Từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng 1997, tr 207
(8).Xem: "Cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Việt Nam", Nxb Thống kê
1994, tr 6
(9).Xem: Từ điển Tiếng Việt - Trung tâm từ điển học, Nxb, Đà Nẵng 1997, tr 310
(10).Xem: Black's Law Dictionary, West Publishing Co (11).Xem: Từ điển bách khoa Việt Nam, Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995, tr
804
(12) Xem: Nguyễn Quốc Hoàn, “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật”, Tạp chí luật học, số 1/2000, tr 14-17