2.1.Nguyên lí giá thị trường Sử dụng giá thị trường để xác định giá chuyển giao trong các giao dịch liên kết là nguyên lí cơ bản được luật pháp quốc tế công nhận.. Theo điều luật này, nh
Trang 1HIệN TƯợNG CHUYểN GIá CủA CáC CÔNG Ti
ĐA QUốC GIA Và VIệC Sử DụNG PHáP LUậT Để
CHốNG CHUYểN GIá
rong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
hoá, sự phát triển mạnh mẽ của các
công ti đa quốc gia (CTĐQG) đ) làm
nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế phức
tạp Điều đó đòi hỏi các chính phủ phải
có cơ chế hữu hiệu để quản lí những hoạt
động vượt khỏi biên giới của quốc gia
Trong số các hoạt động đó, chuyển giá
được CTĐQG sử dụng thường xuyên và
phổ biến nhằm giảm thiểu số thuế phải
nộp ở Việt Nam, hiện tượng chuyển giá
và việc sử dụng pháp luật để kiểm soát
hoạt động chuyển giá vẫn là vấn đề tương
đối mới và đang thu hút sự quan tâm của
nhiều người Bài viết này xin được giới
thiệu cùng bạn đọc một số vấn đề cơ bản
về chuyển giá và sự điều chỉnh của pháp
luật đối với chuyển giá
1 Khái niệm chuyển giá
Khái niệm chuyển giá gắn liền với sự
ra đời và hoạt động của các CTĐQG Vì
vậy, để hiểu rõ khái niệm này, trước hết
chúng ta phải tìm hiểu cấu trúc cơ bản
của CTĐQG và khái niệm định giá
chuyển giao
Trước tiên, CTĐQG được thành lập
tại quốc gia nhất định và công ti này được
gọi là công ti mẹ Sau đó, công ti mẹ có
thể thành lập các công ti con của mình
hoặc các chi nhánh ở nhiều quốc gia khác
trên thế giới Giữa công ti mẹ và các công
ti con hoặc giữa các công ti con với nhau
có mối liên kết nội bộ nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của cả tập đoàn Các công ti này được gọi là các công ti có quan hệ liên kết với nhau hay công ti liên kết
Định giá chuyển giao là nghiệp vụ do các công ti liên kết thực hiện nhằm xác lập mức giá mua hoặc giá bán hàng hoá, dịch vụ trong nội bộ tập đoàn(1) Mức giá hình thành gọi là giá chuyển giao Khi giá chuyển giao trong nội bộ cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá Dưới giác độ thuế, chuyển giá là hành vi nhằm chuyển thu nhập chịu thuế từ công ti con của CTĐQG nằm ở quốc gia có mức thuế cao sang công ti liên kết khác cũng thuộc CTĐQG đó nhưng được thành lập ở quốc gia có mức thuế thấp nhằm làm giảm số thuế phải nộp của cả tập đoàn(2)
Ví dụ: Công ti P sản xuất hàng hoá tại nước A (nơi có thuế suất thuế thu nhập công ti là 40%), sau đó bán những hàng hoá này cho công ti F là công ti liên kết của mình tại nước B (nơi có thuế suất thuế thu nhập công ti là 20%) Giả sử mức giá trung bình của hàng hoá này tại thị trường A là 100 nhưng công ti P chỉ
định giá bán của mình là 80 Với mức giá thấp này, công ti P không thu được hoặc
T
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2thu được rất ít lợi nhuận Do đó, công ti P
không phải nộp hoặc nộp rất ít thuế thu
nhập công ti tại nước A Lợi nhuận của
công ti F tại nước B có thể sẽ tăng lên (vì
chi phí đầu vào giảm do mua được hàng
rẻ) nhưng khi đó số thuế thu nhập công ti
mà công ti F phải nộp (với mức thuế suất
20%) vẫn thấp hơn số thuế mà lẽ ra công
ti P phải nộp tại nước A với mức thuế
suất 40% (khi xác định đúng giá thị
trường là 100) Kết quả cuối cùng là tổng
số thuế mà CTĐQG này phải nộp tại hai
nước A và B sẽ giảm đi
Ngược lại, nếu công ti F sản xuất
hàng hoá và bán cho công ti P thì công ti
F sẽ xác định mức giá cao hơn giá thị
trường (giả sử là 120) Kết quả vẫn là
công ti F có lợi nhuận chịu thuế nhiều
hơn, công ti P có lợi nhuận chịu thuế ít
hơn trên thực tế và tổng số thuế phải nộp
tại hai nước sẽ giảm như trong trường hợp
trên
2 Pháp luật quốc tế về chống
chuyển giá
Hầu hết các quốc gia đều sử dụng
pháp luật để kiểm soát hoạt động chuyển
giá trên cơ sở tiêu chuẩn quốc tế đ) được
công nhận rộng r)i Pháp luật về chống
chuyển giá thường ghi nhận nguyên lí giá
thị trường và các phương pháp để thực
hiện nguyên lí này
2.1.Nguyên lí giá thị trường
Sử dụng giá thị trường để xác định giá
chuyển giao trong các giao dịch liên kết
là nguyên lí cơ bản được luật pháp quốc
tế công nhận Phương pháp này đ) được
đề cập trong hiệp định mẫu về tránh đánh
thuế hai lần của Tổ chức hợp tác kinh tế
và phát triển (OECD) và sau đó được hầu
hết các quốc gia trên thế giới sử dụng
Hoa Kì được coi là nước có hệ thống
pháp luật về chống chuyển giá phát
triển nhất(3)
Theo nguyên lí này, mức giá giao dịch được coi là thích hợp khi nó được
định giá theo tiêu chuẩn thị trường Người nộp thuế phải xác định mức giá giao dịch với những người có quan hệ liên kết với mình sao cho số lợi nhuận mà người đó thu được từ giao dịch này (lợi nhuận kê khai để tính thuế) giống với số lợi nhuận có được trong giao dịch tương
tự với những người không có liên quan(4) Minh họa tốt nhất cho nguyên lí giá thị trường có thể tìm thấy tại Điều 482 Bộ luật doanh thu nội bộ của Hoa Kì Theo
điều luật này, nhân viên thuế có quyền ấn
định mức lợi nhuận hoặc các khoản chi phí của những tổ chức, công ti có quan hệ liên kết nếu nhận thấy mức lợi nhuận, chi phí đó chắc chắn phản ánh đúng thực trạng kinh doanh của họ hoặc mức mà các công ti liên kết kê khai là không phù hợp nhằm tránh thuế Những tiêu chuẩn, phương pháp tính toán để xác định mức
độ hợp lí của lợi nhuận, chi phí được quy
định cụ thể và chi tiết
Luật thuế thu nhập và thuế công ti năm 1988 của Vương quốc Anh cũng có những quy định tương tự Điều 770 của Luật này cho phép cơ quan thuế được quyền xem xét lại và điều chỉnh giá của các giao dịch giữa những công ti, tổ chức
có quan hệ liên kết
Để thực hiện nguyên lí giá thị trường, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia quy định nhiều biện pháp khác nhau Phần tiếp theo sẽ giới thiệu ba phương pháp được áp dụng phổ biến nhất(5)
2.2 Các phương pháp được sử dụng
để xác định giá thị trường(6)
+ Phương pháp giá tự do có thể so
sánh được Theo phương pháp giá tự do
có thể so sánh được, giá thị trường được xác định bằng cách so sánh giá bán của
Trang 3các công ti liên kết với giá bán (sản phẩm
cùng loại và trong cùng hoàn cảnh) của
các công ti không có quan hệ liên kết
Phương pháp này được sử dụng trong
trường hợp những giao dịch có thể so
sánh được như vậy tồn tại trên thị trường
và đối với những loại hàng hoá mà chất
lượng của chúng không phụ thuộc nhiều
vào nh)n hiệu Thực tế này thường được
sử dụng để xác định giá bán các mặt hàng
như dầu, sắt thép, bột mì
Ví dụ: Công ti P được thành lập ở
nước X để sản xuất ghế gỗ Chi phí cho
đơn vị sản phẩm hoàn thành là 30 Công
ti P bán cho những người phân phối sản
phẩm không có quan hệ liên kết ở nước Y
với giá 41 Đồng thời, công ti P cũng bán
chính những sản phẩm ghế gỗ đó cho
công ti S là công ti liên kết của mình ở
nước Y Sau đó công ti S bán lại sản
phẩm tới những người tiêu dùng không có
quan hệ liên kết với giá 70 Nếu các điều
kiện bán hàng là như nhau thì giá bán
hàng của công ti P cho công ti S sẽ được
xác định là 41 Như vậy, công ti P sẽ thu
được khoản lợi nhuận là:
41 - 30 = 11
Công ti S thu được khoản lợi nhuận
là:
70 - 41 = 29
+ Phương pháp giá bán lại. Phương
pháp giá bán lại xác định giá thị trường
cho việc bán sản phẩm giữa các công ti
liên kết bằng cách lấy mức giá bán sản
phẩm cùng loại cho những công ti không
có quan hệ liên kết trừ đi tỉ lệ nhất định
trên giá bán
Nếu công ti P trong ví dụ trên không
bán sản phẩm của mình cho những người
phân phối sản phẩm không có quan hệ
liên kết ở nước Y thì chúng ta sẽ không
có cơ sở để áp dụng phương pháp giá tự
do có thể so sánh được Nếu công ti S chỉ
thực hiện nghiệp vụ là bán lại ghế gỗ tại thị trường Y thì phương pháp giá bán lại
sẽ là giải pháp thích hợp
Giả sử tỉ lệ hoa hồng thông thường (giữa những người không có quan hệ liên kết) mà người phân phối sản phẩm ghế gỗ nhập khẩu trên thị trường nước Y được hưởng là 20% giá bán thì tỉ lệ này có thể
được sử dụng để tính toán giá bán của công ti P cho công ti S Nếu giá bán cuối cùng của công ti S vẫn là 70 thì giá bán của công ti P cho công ti S sẽ được ấn
định là:
70 - (20% ì 70) = 56 Như vậy, công ti P sẽ thu được lợi nhuận là:
56 - 30 = 26 Công ti S thu được lợi nhuận là:
70 - 56 = 14 + Phương pháp chi phí cộng thêm Với phương pháp này, giá thị trường được xác định trên cơ sở cộng thêm khoản nâng giá thích hợp vào chi phí sản xuất Các chi phí cộng thêm có thể bao gồm: Chi phí giao hàng trong kì, chi phí quản lí chung trong kì Phương pháp chi phí cộng thêm thích hợp để định giá cho trường hợp sản xuất theo hợp đồng gia công, chế biến sản phẩm giữa các công ti liên kết Công ti sẽ bán các sản phẩm chưa hoàn thiện cho công ti liên kết của mình, công
ti này tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, sau
đó đem bán ra thị trường cho những người tiêu thụ không có quan hệ liên kết
Giả sử công ti P trong ví dụ trên bán ghế gỗ chưa hoàn thiện cho công ti S Công ti S tiếp tục hoàn thành sản phẩm, sau đó bán ra trên thị trường Y và giả sử rằng lợi nhuận bình quân mà ngành sản xuất ghế gỗ thu được là 25% của chi phí sản xuất Theo sổ sách kế toán, chi phí của công ti P cho một ghế gỗ chưa hoàn
Trang 4thiện (để bán cho công ti S) là 20 Khi đó,
giá bán sản phẩm của công ti P cho công
ti S sẽ được xác định là:
20 ì125% = 25
3 Hoạt động chuyển giá của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam
Sự phát triển nhanh chóng của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
sau khi Luật đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam (LĐTNN) được ban hành đ) đóng
góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế đất
nước trong hơn một thập kỉ qua Tuy
nhiên, việc thực hiện LĐTNN hiện nay
đang gặp hai trở ngại lớn là xu hướng đầu
tư giảm mạnh và số các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài khai lỗ càng nhiều
Chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
khai lỗ lên đến 70%-80% trong hai năm
gần đây(7) Theo các chuyên gia, hiện
tượng lỗ của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài có thể do yếu kém trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nhưng cũng rất
có thể là hậu quả của hoạt động chuyển
giá
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài thường tìm cách kê khai tăng giá
đối với các chi phí đầu vào như tài sản
góp vốn, chi phí nguyên, vật liệu, chi phí
khấu hao tài sản cố định, chi phí quảng
cáo, tiếp thị Đồng thời, đối với các yếu
tố đầu ra, một số doanh nghiệp lại kê
khai giá bán thấp hơn thực tế để giảm
doanh thu, lợi nhuận Thủ thuật chuyển
giá đ) giúp doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài giảm thiểu được số thuế phải
nộp, gây thất thu cho ngân sách nhà nước
Việt Nam đồng thời tạo nên ưu thế cạnh
tranh so với các doanh nghiệp trong nước,
gây những xáo trộn nhất định cho nền
kinh tế nước ta Những tác động tiêu cực
này của chuyển giá đòi hỏi pháp luật phải
có sự điều chỉnh thích hợp(8)
4 Pháp luật Việt Nam về chống chuyển giá
4.1 Thực trạng pháp luật về chống chuyển giá
Như đ) đề cập ở phần trên, luật thuế của quốc gia (đặc biệt là thuế thu nhập công ti) bao giờ cũng bao gồm những quy
định về chống chuyển giá Tuy nhiên, ở Việt Nam, Luật thuế lợi tức, sau này là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp chưa có quy định nào về vấn đề này
Quy định chống chuyển giá được thể hiện trong văn bản dưới luật là Thông tư
số 74/TCT hướng dẫn thực hiện quy định
về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do
Bộ tài chính ban hành ngày 20/10/1997 (Thông tư 74) Thông tư 74 sau đó được thay thế bởi Thông tư số 89/1999/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành ngày 16/7/1999 (Thông tư 89) Tuy nhiên, những quy định về chống chuyển giá trong hai thông tư này không có gì thay
đổi
Theo quy định của Thông tư 89 thì cơ
sở để xác định chuyển giá là các hợp
đồng mua bán không theo giá thị trường Hợp đồng mua bán không theo giá thị trường được hiểu là các hợp đồng giao dịch, mua bán bị ảnh hưởng bởi các quan
hệ thương mại không bình thường như giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết Các doanh nghiệp được coi là liên kết khi doanh nghiệp tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn pháp định hai doanh nghiệp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp của doanh nghiệp khác hoặc hai doanh nghiệp cùng có doanh nghiệp khác tham gia góp vốn Có thể nhận thấy là khái niệm này còn rất chung chung, việc xác định thế nào là “tham gia
Trang 5gián tiếp” chưa được quy định cụ thể Do
đó, chúng ta còn thiếu cơ sở rõ ràng, chi
tiết cho việc xác định các hành vi chuyển
giá
Trên cơ sở thông lệ quốc tế, Thông tư
89 quy định ba biện pháp chống chuyển
giá sau đây:
+ Biện pháp so sánh giá thị trường
Cơ quan thuế có thể sử dụng giá sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường để
ấn định cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
trao đổi trong nội bộ các doanh nghiệp
liên kết với điều kiện không có sự khác
nhau giữa hai nghiệp vụ kinh doanh được
so sánh ảnh hưởng đến giá giao dịch hoặc
nếu có sự khác nhau trong việc so sánh
hai nghiệp vụ kinh doanh thì có thể sử
dụng các biện pháp tính toán để loại trừ
các nhân tố ảnh hưởng đến giá giao dịch
Về nguyên tắc, biện pháp này giống
với phương pháp giá tự do có thể so sánh
được Tuy nhiên, các quy định còn rất
chung chung Trong thực tế, khả năng tồn
tại hai nghiệp vụ kinh doanh hoàn toàn
giống nhau theo trường hợp thứ nhất để
so sánh là rất hiếm Trường hợp thứ hai
xảy ra nhiều hơn nhưng nội dung quan
trọng nhất là “các biện pháp tính toán” để
loại trừ nhân tố ảnh hưởng đến giá giao
dịch chưa được định nghĩa cụ thể Thông
tư 89 chỉ đưa ra ví dụ đơn giản để so sánh
giá thị trường cho giao dịch liên kết Do
đó, việc áp dụng những quy định này
trong thực tế rất khó khăn đặc biệt là khi
các cán bộ thuế Việt Nam chưa được đào
tạo cơ bản để có thể nhận diện những
nghiệp vụ chuyển giá vốn rất tinh vi của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
+ Biện pháp sử dụng giá bán ra để xác
định giá mua vào
Trường hợp đơn vị thương nghiệp có
nguồn hàng hoá mua vào do xí nghiệp
liên kết ở nước ngoài cung cấp và không thể xác định được giá mua thực tế trên thị trường thì cơ quan thuế có thể sử dụng giá bán ra của đơn vị thương nghiệp để xác định giá mua vào theo công thức: Giá mua vào = Giá bán ra cho XN độc lập (trừ thuế nhập khẩu nếu có) - [giá bán cho XN
độc lập (trừ thuế nhập khẩu, nếu có) ì tỉ lệ l)i gộp bình quân ngành thương nghiệp]
Về nguyên lí, biện pháp này giống với phương pháp giá bán lại Vấn đề cơ bản
là phải xác định được chính xác tỉ lệ l)i gộp bình quân ngành thương nghiệp Tuy nhiên, việc áp dụng công thức tính tỉ lệ l)i gộp bình quân theo Thông tư 89 cũng không phải là vấn đề đơn giản và mang tính khả thi cao vì số liệu để tính toán là dựa trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
+ Biện pháp sử dụng giá thành toàn
bộ để xác định thu nhập chịu thuế Nếu có đơn vị sản xuất, chế biến bán thành phẩm và giao toàn bộ cho xí nghiệp liên kết, không có sản phẩm bán ra trên thị trường để xác định giá so sánh thì cơ quan thuế có thể căn cứ vào sổ sách kế toán hạch toán chi phí của đơn vị để xác
định thu nhập của đơn vị đó theo công thức:
Thu nhập ấn định = Tổng giá thành toàn bộ sản phẩm ì Tỉ lệ thu nhập ròng bình quân ngành sản xuất
Giống như hai trường hợp trên, Thông tư 89 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc cho biện pháp này mà thiếu những hướng dẫn cụ thể cho việc thực thi Do đó, việc
áp dụng nó trong thực tế cũng gặp nhiều khó khăn
4.2 Hướng tới sự điều chỉnh hiệu quả của pháp luật chống chuyển giá
Như đ) phân tích ở trên, thực trạng hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi
Trang 6phải có sự điều chỉnh phù hợp của pháp
luật Nhiều ý kiến trao đổi xung quanh
vấn đề này mang tính trái ngược nhau
Theo một số nhà kinh doanh, trước
mắt Việt Nam nên ho)n việc áp dụng
pháp luật chống chuyển giá cho đến khi
hệ thống thuế mới, đặc biệt là thuế giá trị
gia tăng được ổn định Việc áp dụng các
quy định chống chuyển giá sẽ làm tăng
thêm chi phí cho các CTĐQG, do đó có
thể không khuyến khích đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam(9) ý kiến này có lẽ
là không hợp lí vì đối với mọi quốc gia
thì việc kiểm soát, hạn chế những tác
động tiêu cực của hoạt động chuyển giá
luôn luôn là cần thiết trong mọi trường
hợp Hơn nữa, ho)n áp dụng chống
chuyển giá chưa hẳn đ) là sự bảo đảm
cho việc cải thiện môi trường đầu tư ở
Việt Nam
Một số chuyên gia khác cho rằng
những quy định của Thông tư 89 đến nay
không còn phù hợp nữa và chúng ta cần
thay đổi nó bằng cách áp dụng các
phương pháp chống chuyển giá theo mô
hình của luật Hoa Kì và luật mẫu của
OECD(10) Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc
áp dụng các mô hình này tại Việt Nam ở
thời điểm hiện tại là không mang tính khả
thi Mặc dù các mô hình đó rất ưu việt
nhưng chúng được xây dựng là để áp
dụng ở những nước có nền kinh tế thị
trường đ) phát triển, nơi điều kiện kĩ
thuật cũng như đội ngũ cán bộ chuyên
môn có đủ năng lực để thực thi pháp luật
Việc chúng ta nên làm trong thời gian
trước mắt có lẽ là sửa đổi các biện pháp
chống chuyển giá trong Thông tư 89 theo
hướng cụ thể và rõ ràng hơn Định giá
không phải là môn khoa học chính xác
nên việc tuân thủ chỉ có thể thực hiện
được khi các quy tắc được quy định chi
tiết và nhất quán Tuy nhiên, các quy tắc
cũng phải đảm bảo độ linh hoạt cần thiết
để tiện việc phán đoán, nhận định trong vô số các tình huống mà người đóng thuế phải xử lí(11) Bên cạnh đó, việc gấp rút
đào tạo đội ngũ cán bộ thuế có kinh nghiệm và năng lực trong giám sát hoạt
động của các CTĐQG cũng là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần vào sự thành công của việc chống chuyển giá
Pháp luật về chống chuyển giá cần phải được hoàn thiện như thế nào đòi hỏi
sự tiếp tục đóng góp, trao đổi ý kiến của các chuyên gia và những người quan tâm
(1).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, (1995), International Tax Primer, (Kluwer Law International, The Netherland), tr 53
(2).Xem: Picciotto, S., (1992), International Business Taxation, (Weidenfeld & Nicolson, London), tr 171 (3).Xem: Muchlinski, P.T., (1995), Multinational Enterprises and the Law, (Blackwell Publisher, London), tr 284
(4).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, Sđd, tr 57 (5) Các biện pháp mô tả trong phần này được sử dụng
để xác định giá thị trường của tài sản hữu hình (6).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, Sđd, tr 57 -
61
(7).“Cảnh báo những tác hại nguy hiểm về việc chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí tài chính, số 11-1999, tr.4
(8).Xem: Nguyễn Ngọc Thanh - “Hiện tượng chuyển giá của các công ti đa quốc gia: Tác động tiêu cực và giải pháp khắc phục”, Tạp chí tài chính, số 11-1999,
tr 19
(9).Xem: Steven Ng, "ý kiến", Tạp chí tài Chính, số 11-1999, tr 5
(10).Xem: Nguyễn Thị Liên Hoa - "Đề xuất một số phương pháp chống chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam", Tạp chí tài chính, số 11-1999, tr 22 - 24
(11).Xem: Nigel Russell, "ý kiến", Tạp chí tài chính,
số 11-1999, tr 6