1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Hiện tượng chuyển giá của các công ti đa quốc gia và việc sử dụng pháp luật để chống chuyển giá " potx

6 583 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện tượng chuyển giá của các công ti đa quốc gia và việc sử dụng pháp luật để chống chuyển giá
Tác giả ThS. Bùi Thi Bích Liên
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Pháp Luật Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 109,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.Nguyên lí giá thị trường Sử dụng giá thị trường để xác định giá chuyển giao trong các giao dịch liên kết là nguyên lí cơ bản được luật pháp quốc tế công nhận.. Theo điều luật này, nh

Trang 1

HIệN TƯợNG CHUYểN GIá CủA CáC CÔNG Ti

ĐA QUốC GIA Và VIệC Sử DụNG PHáP LUậT Để

CHốNG CHUYểN GIá

rong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu

hoá, sự phát triển mạnh mẽ của các

công ti đa quốc gia (CTĐQG) đ) làm

nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế phức

tạp Điều đó đòi hỏi các chính phủ phải

có cơ chế hữu hiệu để quản lí những hoạt

động vượt khỏi biên giới của quốc gia

Trong số các hoạt động đó, chuyển giá

được CTĐQG sử dụng thường xuyên và

phổ biến nhằm giảm thiểu số thuế phải

nộp ở Việt Nam, hiện tượng chuyển giá

và việc sử dụng pháp luật để kiểm soát

hoạt động chuyển giá vẫn là vấn đề tương

đối mới và đang thu hút sự quan tâm của

nhiều người Bài viết này xin được giới

thiệu cùng bạn đọc một số vấn đề cơ bản

về chuyển giá và sự điều chỉnh của pháp

luật đối với chuyển giá

1 Khái niệm chuyển giá

Khái niệm chuyển giá gắn liền với sự

ra đời và hoạt động của các CTĐQG Vì

vậy, để hiểu rõ khái niệm này, trước hết

chúng ta phải tìm hiểu cấu trúc cơ bản

của CTĐQG và khái niệm định giá

chuyển giao

Trước tiên, CTĐQG được thành lập

tại quốc gia nhất định và công ti này được

gọi là công ti mẹ Sau đó, công ti mẹ có

thể thành lập các công ti con của mình

hoặc các chi nhánh ở nhiều quốc gia khác

trên thế giới Giữa công ti mẹ và các công

ti con hoặc giữa các công ti con với nhau

có mối liên kết nội bộ nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của cả tập đoàn Các công ti này được gọi là các công ti có quan hệ liên kết với nhau hay công ti liên kết

Định giá chuyển giao là nghiệp vụ do các công ti liên kết thực hiện nhằm xác lập mức giá mua hoặc giá bán hàng hoá, dịch vụ trong nội bộ tập đoàn(1) Mức giá hình thành gọi là giá chuyển giao Khi giá chuyển giao trong nội bộ cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá Dưới giác độ thuế, chuyển giá là hành vi nhằm chuyển thu nhập chịu thuế từ công ti con của CTĐQG nằm ở quốc gia có mức thuế cao sang công ti liên kết khác cũng thuộc CTĐQG đó nhưng được thành lập ở quốc gia có mức thuế thấp nhằm làm giảm số thuế phải nộp của cả tập đoàn(2)

Ví dụ: Công ti P sản xuất hàng hoá tại nước A (nơi có thuế suất thuế thu nhập công ti là 40%), sau đó bán những hàng hoá này cho công ti F là công ti liên kết của mình tại nước B (nơi có thuế suất thuế thu nhập công ti là 20%) Giả sử mức giá trung bình của hàng hoá này tại thị trường A là 100 nhưng công ti P chỉ

định giá bán của mình là 80 Với mức giá thấp này, công ti P không thu được hoặc

T

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

thu được rất ít lợi nhuận Do đó, công ti P

không phải nộp hoặc nộp rất ít thuế thu

nhập công ti tại nước A Lợi nhuận của

công ti F tại nước B có thể sẽ tăng lên (vì

chi phí đầu vào giảm do mua được hàng

rẻ) nhưng khi đó số thuế thu nhập công ti

mà công ti F phải nộp (với mức thuế suất

20%) vẫn thấp hơn số thuế mà lẽ ra công

ti P phải nộp tại nước A với mức thuế

suất 40% (khi xác định đúng giá thị

trường là 100) Kết quả cuối cùng là tổng

số thuế mà CTĐQG này phải nộp tại hai

nước A và B sẽ giảm đi

Ngược lại, nếu công ti F sản xuất

hàng hoá và bán cho công ti P thì công ti

F sẽ xác định mức giá cao hơn giá thị

trường (giả sử là 120) Kết quả vẫn là

công ti F có lợi nhuận chịu thuế nhiều

hơn, công ti P có lợi nhuận chịu thuế ít

hơn trên thực tế và tổng số thuế phải nộp

tại hai nước sẽ giảm như trong trường hợp

trên

2 Pháp luật quốc tế về chống

chuyển giá

Hầu hết các quốc gia đều sử dụng

pháp luật để kiểm soát hoạt động chuyển

giá trên cơ sở tiêu chuẩn quốc tế đ) được

công nhận rộng r)i Pháp luật về chống

chuyển giá thường ghi nhận nguyên lí giá

thị trường và các phương pháp để thực

hiện nguyên lí này

2.1.Nguyên lí giá thị trường

Sử dụng giá thị trường để xác định giá

chuyển giao trong các giao dịch liên kết

là nguyên lí cơ bản được luật pháp quốc

tế công nhận Phương pháp này đ) được

đề cập trong hiệp định mẫu về tránh đánh

thuế hai lần của Tổ chức hợp tác kinh tế

và phát triển (OECD) và sau đó được hầu

hết các quốc gia trên thế giới sử dụng

Hoa Kì được coi là nước có hệ thống

pháp luật về chống chuyển giá phát

triển nhất(3)

Theo nguyên lí này, mức giá giao dịch được coi là thích hợp khi nó được

định giá theo tiêu chuẩn thị trường Người nộp thuế phải xác định mức giá giao dịch với những người có quan hệ liên kết với mình sao cho số lợi nhuận mà người đó thu được từ giao dịch này (lợi nhuận kê khai để tính thuế) giống với số lợi nhuận có được trong giao dịch tương

tự với những người không có liên quan(4) Minh họa tốt nhất cho nguyên lí giá thị trường có thể tìm thấy tại Điều 482 Bộ luật doanh thu nội bộ của Hoa Kì Theo

điều luật này, nhân viên thuế có quyền ấn

định mức lợi nhuận hoặc các khoản chi phí của những tổ chức, công ti có quan hệ liên kết nếu nhận thấy mức lợi nhuận, chi phí đó chắc chắn phản ánh đúng thực trạng kinh doanh của họ hoặc mức mà các công ti liên kết kê khai là không phù hợp nhằm tránh thuế Những tiêu chuẩn, phương pháp tính toán để xác định mức

độ hợp lí của lợi nhuận, chi phí được quy

định cụ thể và chi tiết

Luật thuế thu nhập và thuế công ti năm 1988 của Vương quốc Anh cũng có những quy định tương tự Điều 770 của Luật này cho phép cơ quan thuế được quyền xem xét lại và điều chỉnh giá của các giao dịch giữa những công ti, tổ chức

có quan hệ liên kết

Để thực hiện nguyên lí giá thị trường, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia quy định nhiều biện pháp khác nhau Phần tiếp theo sẽ giới thiệu ba phương pháp được áp dụng phổ biến nhất(5)

2.2 Các phương pháp được sử dụng

để xác định giá thị trường(6)

+ Phương pháp giá tự do có thể so

sánh được Theo phương pháp giá tự do

có thể so sánh được, giá thị trường được xác định bằng cách so sánh giá bán của

Trang 3

các công ti liên kết với giá bán (sản phẩm

cùng loại và trong cùng hoàn cảnh) của

các công ti không có quan hệ liên kết

Phương pháp này được sử dụng trong

trường hợp những giao dịch có thể so

sánh được như vậy tồn tại trên thị trường

và đối với những loại hàng hoá mà chất

lượng của chúng không phụ thuộc nhiều

vào nh)n hiệu Thực tế này thường được

sử dụng để xác định giá bán các mặt hàng

như dầu, sắt thép, bột mì

Ví dụ: Công ti P được thành lập ở

nước X để sản xuất ghế gỗ Chi phí cho

đơn vị sản phẩm hoàn thành là 30 Công

ti P bán cho những người phân phối sản

phẩm không có quan hệ liên kết ở nước Y

với giá 41 Đồng thời, công ti P cũng bán

chính những sản phẩm ghế gỗ đó cho

công ti S là công ti liên kết của mình ở

nước Y Sau đó công ti S bán lại sản

phẩm tới những người tiêu dùng không có

quan hệ liên kết với giá 70 Nếu các điều

kiện bán hàng là như nhau thì giá bán

hàng của công ti P cho công ti S sẽ được

xác định là 41 Như vậy, công ti P sẽ thu

được khoản lợi nhuận là:

41 - 30 = 11

Công ti S thu được khoản lợi nhuận

là:

70 - 41 = 29

+ Phương pháp giá bán lại. Phương

pháp giá bán lại xác định giá thị trường

cho việc bán sản phẩm giữa các công ti

liên kết bằng cách lấy mức giá bán sản

phẩm cùng loại cho những công ti không

có quan hệ liên kết trừ đi tỉ lệ nhất định

trên giá bán

Nếu công ti P trong ví dụ trên không

bán sản phẩm của mình cho những người

phân phối sản phẩm không có quan hệ

liên kết ở nước Y thì chúng ta sẽ không

có cơ sở để áp dụng phương pháp giá tự

do có thể so sánh được Nếu công ti S chỉ

thực hiện nghiệp vụ là bán lại ghế gỗ tại thị trường Y thì phương pháp giá bán lại

sẽ là giải pháp thích hợp

Giả sử tỉ lệ hoa hồng thông thường (giữa những người không có quan hệ liên kết) mà người phân phối sản phẩm ghế gỗ nhập khẩu trên thị trường nước Y được hưởng là 20% giá bán thì tỉ lệ này có thể

được sử dụng để tính toán giá bán của công ti P cho công ti S Nếu giá bán cuối cùng của công ti S vẫn là 70 thì giá bán của công ti P cho công ti S sẽ được ấn

định là:

70 - (20% ì 70) = 56 Như vậy, công ti P sẽ thu được lợi nhuận là:

56 - 30 = 26 Công ti S thu được lợi nhuận là:

70 - 56 = 14 + Phương pháp chi phí cộng thêm Với phương pháp này, giá thị trường được xác định trên cơ sở cộng thêm khoản nâng giá thích hợp vào chi phí sản xuất Các chi phí cộng thêm có thể bao gồm: Chi phí giao hàng trong kì, chi phí quản lí chung trong kì Phương pháp chi phí cộng thêm thích hợp để định giá cho trường hợp sản xuất theo hợp đồng gia công, chế biến sản phẩm giữa các công ti liên kết Công ti sẽ bán các sản phẩm chưa hoàn thiện cho công ti liên kết của mình, công

ti này tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, sau

đó đem bán ra thị trường cho những người tiêu thụ không có quan hệ liên kết

Giả sử công ti P trong ví dụ trên bán ghế gỗ chưa hoàn thiện cho công ti S Công ti S tiếp tục hoàn thành sản phẩm, sau đó bán ra trên thị trường Y và giả sử rằng lợi nhuận bình quân mà ngành sản xuất ghế gỗ thu được là 25% của chi phí sản xuất Theo sổ sách kế toán, chi phí của công ti P cho một ghế gỗ chưa hoàn

Trang 4

thiện (để bán cho công ti S) là 20 Khi đó,

giá bán sản phẩm của công ti P cho công

ti S sẽ được xác định là:

20 ì125% = 25

3 Hoạt động chuyển giá của các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

sau khi Luật đầu tư nước ngoài ở Việt

Nam (LĐTNN) được ban hành đ) đóng

góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế đất

nước trong hơn một thập kỉ qua Tuy

nhiên, việc thực hiện LĐTNN hiện nay

đang gặp hai trở ngại lớn là xu hướng đầu

tư giảm mạnh và số các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài khai lỗ càng nhiều

Chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

khai lỗ lên đến 70%-80% trong hai năm

gần đây(7) Theo các chuyên gia, hiện

tượng lỗ của doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài có thể do yếu kém trong hoạt

động sản xuất kinh doanh nhưng cũng rất

có thể là hậu quả của hoạt động chuyển

giá

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài thường tìm cách kê khai tăng giá

đối với các chi phí đầu vào như tài sản

góp vốn, chi phí nguyên, vật liệu, chi phí

khấu hao tài sản cố định, chi phí quảng

cáo, tiếp thị Đồng thời, đối với các yếu

tố đầu ra, một số doanh nghiệp lại kê

khai giá bán thấp hơn thực tế để giảm

doanh thu, lợi nhuận Thủ thuật chuyển

giá đ) giúp doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài giảm thiểu được số thuế phải

nộp, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

Việt Nam đồng thời tạo nên ưu thế cạnh

tranh so với các doanh nghiệp trong nước,

gây những xáo trộn nhất định cho nền

kinh tế nước ta Những tác động tiêu cực

này của chuyển giá đòi hỏi pháp luật phải

có sự điều chỉnh thích hợp(8)

4 Pháp luật Việt Nam về chống chuyển giá

4.1 Thực trạng pháp luật về chống chuyển giá

Như đ) đề cập ở phần trên, luật thuế của quốc gia (đặc biệt là thuế thu nhập công ti) bao giờ cũng bao gồm những quy

định về chống chuyển giá Tuy nhiên, ở Việt Nam, Luật thuế lợi tức, sau này là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp chưa có quy định nào về vấn đề này

Quy định chống chuyển giá được thể hiện trong văn bản dưới luật là Thông tư

số 74/TCT hướng dẫn thực hiện quy định

về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do

Bộ tài chính ban hành ngày 20/10/1997 (Thông tư 74) Thông tư 74 sau đó được thay thế bởi Thông tư số 89/1999/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành ngày 16/7/1999 (Thông tư 89) Tuy nhiên, những quy định về chống chuyển giá trong hai thông tư này không có gì thay

đổi

Theo quy định của Thông tư 89 thì cơ

sở để xác định chuyển giá là các hợp

đồng mua bán không theo giá thị trường Hợp đồng mua bán không theo giá thị trường được hiểu là các hợp đồng giao dịch, mua bán bị ảnh hưởng bởi các quan

hệ thương mại không bình thường như giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết Các doanh nghiệp được coi là liên kết khi doanh nghiệp tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn pháp định hai doanh nghiệp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp của doanh nghiệp khác hoặc hai doanh nghiệp cùng có doanh nghiệp khác tham gia góp vốn Có thể nhận thấy là khái niệm này còn rất chung chung, việc xác định thế nào là “tham gia

Trang 5

gián tiếp” chưa được quy định cụ thể Do

đó, chúng ta còn thiếu cơ sở rõ ràng, chi

tiết cho việc xác định các hành vi chuyển

giá

Trên cơ sở thông lệ quốc tế, Thông tư

89 quy định ba biện pháp chống chuyển

giá sau đây:

+ Biện pháp so sánh giá thị trường

Cơ quan thuế có thể sử dụng giá sản

phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường để

ấn định cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ

trao đổi trong nội bộ các doanh nghiệp

liên kết với điều kiện không có sự khác

nhau giữa hai nghiệp vụ kinh doanh được

so sánh ảnh hưởng đến giá giao dịch hoặc

nếu có sự khác nhau trong việc so sánh

hai nghiệp vụ kinh doanh thì có thể sử

dụng các biện pháp tính toán để loại trừ

các nhân tố ảnh hưởng đến giá giao dịch

Về nguyên tắc, biện pháp này giống

với phương pháp giá tự do có thể so sánh

được Tuy nhiên, các quy định còn rất

chung chung Trong thực tế, khả năng tồn

tại hai nghiệp vụ kinh doanh hoàn toàn

giống nhau theo trường hợp thứ nhất để

so sánh là rất hiếm Trường hợp thứ hai

xảy ra nhiều hơn nhưng nội dung quan

trọng nhất là “các biện pháp tính toán” để

loại trừ nhân tố ảnh hưởng đến giá giao

dịch chưa được định nghĩa cụ thể Thông

tư 89 chỉ đưa ra ví dụ đơn giản để so sánh

giá thị trường cho giao dịch liên kết Do

đó, việc áp dụng những quy định này

trong thực tế rất khó khăn đặc biệt là khi

các cán bộ thuế Việt Nam chưa được đào

tạo cơ bản để có thể nhận diện những

nghiệp vụ chuyển giá vốn rất tinh vi của

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài

+ Biện pháp sử dụng giá bán ra để xác

định giá mua vào

Trường hợp đơn vị thương nghiệp có

nguồn hàng hoá mua vào do xí nghiệp

liên kết ở nước ngoài cung cấp và không thể xác định được giá mua thực tế trên thị trường thì cơ quan thuế có thể sử dụng giá bán ra của đơn vị thương nghiệp để xác định giá mua vào theo công thức: Giá mua vào = Giá bán ra cho XN độc lập (trừ thuế nhập khẩu nếu có) - [giá bán cho XN

độc lập (trừ thuế nhập khẩu, nếu có) ì tỉ lệ l)i gộp bình quân ngành thương nghiệp]

Về nguyên lí, biện pháp này giống với phương pháp giá bán lại Vấn đề cơ bản

là phải xác định được chính xác tỉ lệ l)i gộp bình quân ngành thương nghiệp Tuy nhiên, việc áp dụng công thức tính tỉ lệ l)i gộp bình quân theo Thông tư 89 cũng không phải là vấn đề đơn giản và mang tính khả thi cao vì số liệu để tính toán là dựa trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Biện pháp sử dụng giá thành toàn

bộ để xác định thu nhập chịu thuế Nếu có đơn vị sản xuất, chế biến bán thành phẩm và giao toàn bộ cho xí nghiệp liên kết, không có sản phẩm bán ra trên thị trường để xác định giá so sánh thì cơ quan thuế có thể căn cứ vào sổ sách kế toán hạch toán chi phí của đơn vị để xác

định thu nhập của đơn vị đó theo công thức:

Thu nhập ấn định = Tổng giá thành toàn bộ sản phẩm ì Tỉ lệ thu nhập ròng bình quân ngành sản xuất

Giống như hai trường hợp trên, Thông tư 89 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc cho biện pháp này mà thiếu những hướng dẫn cụ thể cho việc thực thi Do đó, việc

áp dụng nó trong thực tế cũng gặp nhiều khó khăn

4.2 Hướng tới sự điều chỉnh hiệu quả của pháp luật chống chuyển giá

Như đ) phân tích ở trên, thực trạng hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi

Trang 6

phải có sự điều chỉnh phù hợp của pháp

luật Nhiều ý kiến trao đổi xung quanh

vấn đề này mang tính trái ngược nhau

Theo một số nhà kinh doanh, trước

mắt Việt Nam nên ho)n việc áp dụng

pháp luật chống chuyển giá cho đến khi

hệ thống thuế mới, đặc biệt là thuế giá trị

gia tăng được ổn định Việc áp dụng các

quy định chống chuyển giá sẽ làm tăng

thêm chi phí cho các CTĐQG, do đó có

thể không khuyến khích đầu tư nước

ngoài vào Việt Nam(9) ý kiến này có lẽ

là không hợp lí vì đối với mọi quốc gia

thì việc kiểm soát, hạn chế những tác

động tiêu cực của hoạt động chuyển giá

luôn luôn là cần thiết trong mọi trường

hợp Hơn nữa, ho)n áp dụng chống

chuyển giá chưa hẳn đ) là sự bảo đảm

cho việc cải thiện môi trường đầu tư ở

Việt Nam

Một số chuyên gia khác cho rằng

những quy định của Thông tư 89 đến nay

không còn phù hợp nữa và chúng ta cần

thay đổi nó bằng cách áp dụng các

phương pháp chống chuyển giá theo mô

hình của luật Hoa Kì và luật mẫu của

OECD(10) Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc

áp dụng các mô hình này tại Việt Nam ở

thời điểm hiện tại là không mang tính khả

thi Mặc dù các mô hình đó rất ưu việt

nhưng chúng được xây dựng là để áp

dụng ở những nước có nền kinh tế thị

trường đ) phát triển, nơi điều kiện kĩ

thuật cũng như đội ngũ cán bộ chuyên

môn có đủ năng lực để thực thi pháp luật

Việc chúng ta nên làm trong thời gian

trước mắt có lẽ là sửa đổi các biện pháp

chống chuyển giá trong Thông tư 89 theo

hướng cụ thể và rõ ràng hơn Định giá

không phải là môn khoa học chính xác

nên việc tuân thủ chỉ có thể thực hiện

được khi các quy tắc được quy định chi

tiết và nhất quán Tuy nhiên, các quy tắc

cũng phải đảm bảo độ linh hoạt cần thiết

để tiện việc phán đoán, nhận định trong vô số các tình huống mà người đóng thuế phải xử lí(11) Bên cạnh đó, việc gấp rút

đào tạo đội ngũ cán bộ thuế có kinh nghiệm và năng lực trong giám sát hoạt

động của các CTĐQG cũng là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần vào sự thành công của việc chống chuyển giá

Pháp luật về chống chuyển giá cần phải được hoàn thiện như thế nào đòi hỏi

sự tiếp tục đóng góp, trao đổi ý kiến của các chuyên gia và những người quan tâm

(1).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, (1995), International Tax Primer, (Kluwer Law International, The Netherland), tr 53

(2).Xem: Picciotto, S., (1992), International Business Taxation, (Weidenfeld & Nicolson, London), tr 171 (3).Xem: Muchlinski, P.T., (1995), Multinational Enterprises and the Law, (Blackwell Publisher, London), tr 284

(4).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, Sđd, tr 57 (5) Các biện pháp mô tả trong phần này được sử dụng

để xác định giá thị trường của tài sản hữu hình (6).Xem: Arnol, J.B & McIntyre, J.M, Sđd, tr 57 -

61

(7).“Cảnh báo những tác hại nguy hiểm về việc chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí tài chính, số 11-1999, tr.4

(8).Xem: Nguyễn Ngọc Thanh - “Hiện tượng chuyển giá của các công ti đa quốc gia: Tác động tiêu cực và giải pháp khắc phục”, Tạp chí tài chính, số 11-1999,

tr 19

(9).Xem: Steven Ng, "ý kiến", Tạp chí tài Chính, số 11-1999, tr 5

(10).Xem: Nguyễn Thị Liên Hoa - "Đề xuất một số phương pháp chống chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam", Tạp chí tài chính, số 11-1999, tr 22 - 24

(11).Xem: Nigel Russell, "ý kiến", Tạp chí tài chính,

số 11-1999, tr 6

Ngày đăng: 23/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w