Trong thực tế, trường hợp thứ nhất đD xảy ra 2 loại việc: Thứ nhất: Đứa trẻ ngoài giá thú được sinh ra, chưa được khai báo hộ tịch hoặc đD khai báo hộ tịch nhưng mục cha, mẹ đẻ bỏ trống,
Trang 1Về thẩm quyền
Về thẩm quyền xác định cha, mẹ cho con
iều 28 Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam quy định: "Con sinh ra
trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ
có thai trong thời kì đó là con chung của
vợ chồng" Trong thực tế có những trường
hợp cha hoặc mẹ xin nhận con hoặc
không nhận con thì phải xác định ai là
cha, mẹ của đứa trẻ Có nhiều trường hợp
người phụ nữ chưa chồng mà sinh con
(con ngoài giá thú) nhưng cha của đứa trẻ
lại không nhận đứa trẻ là con của mình
thì phải căn cứ vào những chứng cứ do
đương sự xuất trình về người đó có thai
với ai Hoặc có những trường hợp người
mẹ sinh con ngoài giá thú, vì những lí do
khác nhau đD bỏ con, người khác nhận
đứa trẻ đó về nuôi và sau này người mẹ
xin nhận lại con thì đòi hỏi người mẹ phải
chứng minh mình là mẹ của đứa trẻ Luật
pháp quy định được quyền yêu cầu xác
định cha mẹ cho con kể cả khi cha mẹ
chết
Luật hôn nhân và gia đình nước ta
chia thẩm quyền công nhận, xác định cha
mẹ cho con làm hai trường hợp:
1 Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú
do UBND xD, phường nơi thường trú của
đương sự công nhận và ghi vào sổ khai
sinh (Điều 30 LHN & GĐ)
2 Các tranh chấp về nhận con, nhận
cha mẹ do tòa án nhân dân nơi thường trú
của người con xét xử
Trong thực tế, trường hợp thứ nhất đD xảy ra 2 loại việc:
Thứ nhất: Đứa trẻ ngoài giá thú được sinh ra, chưa được khai báo hộ tịch hoặc
đD khai báo hộ tịch nhưng mục cha, mẹ
đẻ bỏ trống, nay có yêu cầu nhận cha, mẹ
và bản thân người được khai là cha, mẹ cũng thừa nhận thì thuộc thẩm quyền công nhận của UBND nơi thường trú của người con và ghi vào sổ khai sinh
Thứ hai: Đứa trẻ sinh ra đD được đăng
kí hộ tịch là có cha, mẹ nhưng sau đó
có người khác xin xác định mình là cha,
mẹ của đứa trẻ và yêu cầu thay đổi giấy khai sinh cho đứa trẻ Bản thân người xin xác định là cha, mẹ, người được khai là cha, mẹ và chính người con đều thừa nhận không có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hộ tịch hay của tòa án
Sau đây tôi xin đơn cử hai trong nhiều việc kiện đD xảy ra mà cơ quan hộ tịch từ chối, chuyển sang tòa án còn tòa án thì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình
* Trường hợp 1: Chị Lê Thị Kim ánh sinh năm 1969 trú tại 16/18 Lê Lai phường Thạch Thang quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng xin được xác nhận bà Lâm Thị Hoa hiện trú tại Mĩ là mẹ đẻ với
Đ
* Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Trang 2lí do: Vào năm 1969 bà Lâm Thị Hoa từ
quê ở Thăng Bình Quảng Nam ra Đà
Nẵng làm ăn và có quan hệ với một người
đàn ông không rõ địa chỉ, sau đó bà đD
sinh ra chị Do hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, không chồng, không người nương
tựa, phần sợ tiếng tăm liên lụy đến phẩm
giá gia đình nên bà Hoa đD cho chị ánh
làm con nuôi ông Lê Đình Quý và bà
Vương Thị Lan Nhưng trong giấy khai
sinh của chị ánh đề ngày 22/12/1969 do
chế độ cũ cấp lại khai ông Quý và bà Lan
là cha mẹ đẻ Bản thân bà Lâm Thị Hoa,
ông Quý, bà Lan đều thừa nhận chị ánh
là con đẻ của bà Hoa
* Trường hợp 2: Chị Phan Thị Kim
Chi sinh năm 1969 có mẹ đẻ là bà
Nguyễn Thị Báng đD chết sau khi sinh chị
được 7 tháng tuổi Theo giấy tờ khai sinh
của chế độ cũ cấp thì cha đẻ chị là ông
Phan Ngọc Sang (chồng có hôn thú với
mẹ chị) Lớn lên, qua tìm hiểu, chị được
biết mình không phải là con đẻ của ông
Phan Ngọc Sang mà vào năm 1968 ông
Trương Văn Ba (lính ngụy) đóng quân tại
Miếu Bông, Hòa Phước có quan hệ với bà
Nguyễn Thị Báng (mẹ đẻ chị) và bà Báng
đD sinh ra chị vào năm 1969 Nay chị xin
xác định ông Trương Văn Ba quê ở Sa
Đéc, Đồng Tháp hiện trú tại Mĩ là cha đẻ
và xin đổi họ (từ họ Phan sang họ
Trương) Bản thân ông Trương Văn Ba
thì khẳng định mình đúng là cha đẻ của
chị Phan Thị Kim Chi và yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền công nhận
Cả hai trường hợp nói trên đều được
hiểu là bản thân các đương sự không có
tranh chấp nhưng khi họ yêu cầu cơ quan
hộ tịch công nhận theo pháp luật hôn nhân và gia đình thì cơ quan hộ tịch cho rằng nó không thuộc thẩm quyền của mình và đẩy sang tòa án
Theo công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp bổ sung một số vấn đề về áp dụng pháp luật thì trong trường hợp có yêu cầu nhận cha, mẹ cho con và người
được yêu cầu nhận là cha, mẹ cho con cũng nhận mình là cha, mẹ của người con
đó thì theo quy định của LHN&GĐ, họ chỉ cần yêu cầu cơ quan hộ tịch công nhận và ghi vào sổ khai sinh Nếu cơ quan hộ tịch từ chối việc công nhận và ghi vào sổ khai sinh thì họ có quyền khiếu nại và yêu cầu tòa án giải quyết việc cơ quan hộ tịch từ chối việc công nhận và không ghi vào sổ khai sinh cha,
mẹ cho con
Theo quan điểm của chúng tôi, với loại việc thứ hai, đứa trẻ khi sinh ra đD
được cơ quan hộ tịch công nhận và ghi vào sổ khai sinh cha, mẹ đẻ của đứa trẻ, nay lại xuất hiện cá nhân khác tự xưng là cha, mẹ của đứa trẻ đó mặc dù những người đD được ghi trong hộ tịch là cha,
mẹ đứa trẻ không hề có tranh chấp thì cơ quan hộ tịch cũng không thể công nhận
và thay đổi lại giấy khai sinh cho đứa trẻ một cách dễ dàng như vậy được
Khái niệm "có tranh chấp" theo Điều
33 LHN&GĐ cần phải được hiểu một cách bao quát, toàn diện chứ không thể hiểu và vận dụng điều luật này một cách máy móc Thường khái niệm tranh chấp theo điều luật nói trên được hiểu là đứa trẻ ngoài giá thú khi sinh ra được người
Trang 3mẹ khai là con của ông A; ông A thừa
nhận thì cơ quan hộ tịch cũng không thể
xác định ông A là cha đẻ của đứa trẻ Do
đó, người mẹ phải làm đơn xin xác định
ông A là cha đẻ của đứa trẻ Đó là trường
hợp trong giấy khai sinh của đứa trẻ cơ
quan chưa xác định được cha hoặc mẹ
của đứa trẻ (mục cha mẹ bỏ trống) Còn
đối với trường hợp đứa trẻ khi sinh ra đD
được cơ quan hộ tịch ghi vào sổ khai sinh
là có cha mẹ đẻ nhưng thực tế những
người được khai không phải là cha, mẹ đẻ
của đứa trẻ mà là người khác và vì vậy,
nếu có tranh chấp giữa các bên thì thuộc
thẩm quyền của tòa án
Đối với những trường hợp nói trên nếu
được hiểu đúng nghĩa thực là "có tranh
chấp" thì tòa án có nghĩa vụ giải quyết
theo quy định của pháp luật Bằng mọi
biện pháp như điều tra xác minh và từ
những chứng cứ do đương sự xuất trình,
thậm chí có những trường hợp buộc phải
giám định máu, giám định gen , tòa án
mới có những phán quyết chính xác về số
phận của đứa trẻ
Còn đối với trường hợp đứa trẻ đD
được cơ quan hộ tịch ghi nhận là có cha
mẹ đẻ nay lại xin xác định người khác là
cha, mẹ đẻ của mình, dù rằng người được
khai là cha, mẹ đẻ của đứa trẻ cũng nhận
đứa trẻ đó là con đẻ của mình, vì vậy
không thể coi đó là trường hợp "không có
tranh chấp" và thuộc thẩm quyền của cơ
quan hộ tịch được Bởi lẽ, trong cuộc
sống, một đứa trẻ có thể có nhiều cha mẹ
nuôi nhưng cha mẹ đẻ thì duy nhất chỉ có
một, nếu theo sự thỏa thuận là không có
tranh chấp và cơ quan hộ tịch công nhận
thì sẽ xảy ra trường hợp một đứa trẻ sẽ có
nhiều cha mẹ đẻ, đó là điều vô lí Khái niệm "tranh chấp" ở đây không thể hiểu
đơn thuần là sự tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự mà phải hiểu đó
là sự mâu thuẫn giữa sự thừa nhận của các chủ thể với văn bản ghi nhận sự kiện pháp lí là giấy khai sinh của cơ quan hộ tịch
Căn cứ vào Công văn số 5/NCPL ngày 22/6/1996 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xin nhận cha mẹ cho con ngoài giá thú thì " Các việc về thừa nhận con người (sinh đẻ, chết, lấy nhau, là con của
ai, cha mẹ của ai ) nói chung không thể
là đối tượng điều đình thương lượng trong
đó ý chí của các bên đương sự thỏa thuận với nhau có ý nghĩa quyết định" Vì vậy, cơ quan hộ tịch không thể nay thì công nhận một người là cha, mẹ đẻ của đứa trẻ, rồi thời gian sau lại tiếp tục công nhận người khác là cha, mẹ đẻ của đứa trẻ khi giữa họ có yêu cầu mà không thể xảy ra tranh chấp
Theo tôi không thể coi các trường hợp trên chỉ là việc yêu cầu sửa đổi những
điều ghi trong hộ tịch như thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh hoặc sửa chữa, bổ sung các sai sót của cơ quan
hộ tịch như ghi nhầm tên của cha mẹ trong giấy khai sinh theo quy định tại
Điều 29 BLDS Bởi xét cho cùng, những thay đổi về hộ tịch nói trên không làm thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ
được xác lập theo giấy tờ cũ Còn ở đây việc cơ quan hộ tịch công nhận cho thay
đổi cha mẹ lại có ý nghĩa quan trọng là xác lập quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái như nghĩa vụ nuôi dưỡng, quyền thừa kế Và nếu cứ vận dụng pháp luật
Trang 4theo sự hướng dẫn nói trên thì chắc chắn
sẽ xảy ra trường hợp lợi dụng pháp luật
Ví dụ: Đứa trẻ sinh ra đD được ghi nhận
tại cơ quan hộ tịch là có cha, mẹ đẻ
nhưng bản thân cha mẹ lại muốn con định
cư ở nước ngoài nên có yêu cầu xác định
một người ở nước ngoài là cha hoặc mẹ
của đứa trẻ để đứa trẻ được bảo lDnh ra
nước ngoài, người ở nước ngoài cũng ưng
thuận và được hiểu là không có tranh
chấp, cơ quan hộ tịch phải công nhận và
ghi vào sổ khai sinh
Theo quan điểm của chúng tôi, khi áp
dụng Điều 30, 33 LHN&GĐ cần phải
hiểu một cách khái quát và thống nhất,
tránh sự vận dụng một cách tùy tiện, máy
móc, dẫn đến tình trạng lợi dụng kẽ hở
pháp luật Khi công nhận xác định cha
mẹ cho con ngoài giá thú cần phải phân
biệt các trường hợp sau để xác định rõ
thẩm quyền của các cơ quan theo quy
định của LHN&GĐ
1 Đứa con ngoài giá thú sinh ra (chưa
có giấy khai sinh) nếu có người nhận là
cha, mẹ thì thuộc thẩm quyền công nhận
của UBND xD phường, thị trấn nơi cư trú
của người con công nhận và ghi vào sổ
khai sinh
2 Đứa trẻ sinh ra, đD khai báo hộ tịch
nhưng mục cha hoặc mẹ chưa xác định
được (bỏ trống) nay có yêu cầu nhận cha
hoặc mẹ để thay đổi giấy khai sinh nếu
người được yêu cầu nhận là cha, mẹ
không phản đối cũng thuộc thẩm quyền
của UBND xD phường, thị trấn nơi thường
trú của người con công nhận và ghi vào
sổ khai sinh
Trong hai trường hợp nói trên nếu có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền công nhận của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nếu cơ quan hộ tịch từ chối không công nhận thì đương
sự có quyền khởi kiện đến tòa án nơi có cơ quan hộ tịch bị khiếu nại Đối với loại việc này cơ quan hộ tịch tham gia tố tụng với tư cách bị đơn
3 Trường hợp con ngoài giá thú đD
được đăng kí tại cơ quan hộ tịch như hai
ví dụ nói trên, nay có yêu cầu xin xác
định lại cha hoặc mẹ dù có tranh chấp hay tất cả các chủ thể đều thừa nhận như hai ví dụ nói trên đều thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Bằng quyết định có giá trị pháp lí của tòa án, cơ quan hộ tịch
có thể thay đổi hộ tịch cho con ngoài giá thú Vì đó không phải là sự sửa đổi những sai sót về mặt giấy tờ mà là quyết định
đến thân phận con người, quyết định đó
có ý nghĩa quan trọng trong việc chấm dứt hay thiết lập mới quyền và nghĩa vụ giữa người với người
Trên đây là một vài ý kiến xung quanh thẩm quyền xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú theo quy định tại Điều
30, 33 LHN&GĐ Mong rằng các nhà làm luật sớm có những văn bản hướng dẫn kịp thời giúp cơ quan tòa án, cơ quan
hộ tịch hiểu và vận dụng pháp luật một cách thống nhất./